hợp tác kinh tế asean - Pdf 13

Lời nói đầu
Hiện nay xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế diễn ra trên
toàn thế giới. Sự giao thoa giữa các nền kinh tế trở thành một phần không
thể tách rời khỏi sự phát triển kinh tế. Sự phân công lao động quốc tế ngày
càng rõ rệt. Các quốc gia trên thế giới đều nhận rõ đợc rằng sự phồn vinh
của mỗi dân tộc phải đặt trong mối quan hệ tơng quan nhất thể hoá nền
kinh tế toàn cầu.
Việc hàng loạt các khu vực kinh tế vùng do một số cụm quốc gia
thành lập đã tạo ra những khu vực kinh tế năng động; các quốc gia thành
viên dợc hợp tác trao đổi mậu dịch với nhau một cách thuận lợi dựa trên
những điểm tơng đồng, trên thế mạnh của mỗi nớc đợc khai thác triệt để.
Qua đó đẩy mạnh tốc độ tăng trởng của các nền kinh tế quốc dân. Các tổ
chức nh: liên minh châu Âu(EU); vùng thơng mại tự do Bắc Mỹ (Nafta); tổ
chức hợp tác kinh tế châu á- Thái Bình Dơng (ASEAN) v.v đã phần nào
chứng minh đợc tính u việt của sự hợp tác kinh tế quốc tế và làm thay đổi
bộ mặt nền kinh tế toàn cầu trong thời gian qua. Việc hợp tác kinh tế quốc
tế với phát triển khoa học kỹ thuật tiên tiến làm cho khối lợng sản phẩm
ngày càng lớn, cho nên đòi hỏi một chế độ lu thông trao đổi rộng rãi, đa
phơng. Chế độ bảo hộ mậu dịch không còn phát huy đợc thế mạnh của
mình trong giai đoạn mới. Mô hình kinh tế thế giới đã thay đổi. Sự phát
triển tự do buôn bán, nhu cầu thơng mại đã toàn cầu đã phá vỡ hình thức
bảo trợ và chế độ bảo hộ mậu dịch lỗi thời. Do vậy, việc Việt Nam gia nhập
ASEAN và các tổ chức kinh tế quốc tế khác là một hớng đi đúng đắn và tất
yếu. Hợp tác kinh tế quốc tế sẽ mở ra những triển vọng, vận hội mới cho
nền kinh tế nớc ta là một quyết sách đúng đắn, góp phần to lớn để thực hiện
con đờng cách mạng XHCN; làm cho dân giàu, nớc mạnh.
1
Chơng I
ASEAN-Quá trình hình thành và phát triển.
I. Sự ra đời của ASEAN.
1. Những tiền đề chủ quan - khách quan:

nội bộ trong tổ chức này. Năm 1962 Malaixia và Philipin bùng nổ tranh
2
chấp về lãnh thổ ở eo biển Xa Ba đồng thời khi liên bang Malaixia thành
lập vào tháng 9-1963 đã bị Philipin một thành viên của ASA cùng
Indonexia từ chối công nhận. ASA lúc này bị nhận chìm trong mâu thuẫn
nội bộ tổ chức. Mặt khác, ASA là tổ chức chỉ với 3 thành viên cũng với mối
liên kết lỏng lẻo không đủ sức mạnh ddeera tạo đợc uy tín trên trờng quốc tế,
mục đích đặt ra cho việc thành lập tổ chức này bị phá sản hoàn toàn.
Cùng xuất hiện với ý tởng thành lập tổ chức ASA đầu năm 60 kế
hoạch thành lập nhóm nớc gồm Malaixia, Philipin và Indonexia gọi tắt là
Maphilindo cũng gặp thất bại trong trứng nớc do một trong 3 hạt nhân của ý
tởng này là Indonexia với chính sách đối ngoại hớng về nhóm á- Phi thực
hiện chính sách đối đầu với Malaixia do vì coi nớc này là sản phẩm, con đẻ
của chủ nghĩa đế quốc và cơ sở hợp tác tổ chức này chỉ bó hẹp ở các quốc
gia chủng tộc Mã Lai. Do vậy, Maphilindo không đợc sử ủng hộ của các
quốc gia thuộc nhóm chủng tộc khác. Đây là yếu tố cơ bản cùng với sự đối
đầu nội bộ của tổ chức tạo ra hậu quả làm kế hoạch này sụp đổ.
Mặc dù việc xây dựng ASA và Maphilindo không thành công nhng
nhu cầu hợp tác phát triển trong khu vực lại càng đợc củng cố và ngày một
bức xúc sau đao chính ở Indonexia, chính quyền Xuhacto đã thực hiện hàng
loạt đổi mới trong chính sách đối ngoại, tập trung nhiều vào mối quan hệ
với những nớc láng giềng, huỷ bỏ chính sách đối đầu với phơng tây.
Indonexia tiến hành bình thờng hoá quan hệ với các nớc có cùng chế độ
chính trị trong khu vực, thực hiện việc chấm dứt đối đầu với liên bang
Malaixia, hành động này của Indonexia đã tháo gỡ đợc một ngòi nổ xung
quanh tiềm ẩn trong khu vực Đông Nam á (8-1966 hai bên đã ký đợc hiệp
định giảng hoà). Cùng thời kỳ đó, quan hệ ngoại giao giữa Indonexia và
Philipin cũng đợc khôi phục lại. Những biến đổi đó đã thổi vào đời sống
chính trị và quan hệ đối ngoại giữa các nớc trong khu vực một luồng sinh
khí mới. Hy vọng khôi phục lại ASA có điều kiện để nhen nhóm. Tại hội

hun đúc qua thời gian, ý thức về gía trị độc lập đợc gắn chặt với ý chí của
nhân dân các nớc (chỉ có Thái Lan là nớc tránh đợc việc trở thành thuộc
địa). Các quốc gia này chỉ mới giành đợc độc lập sau thế chiến thứ hai. Vì
vậy, các nớc hội viên đều chống lại các hình thức của chủ nghĩa đế quốc,
thực hiện đờng lối đối ngoại độc lập coi đây là một trong những t tởng
xuyên suốt và quan trọng nhất trong đờng lối lãnh đạo đất nớc. Mong muốn
có vị trí vững vàng trong khu vực , ổn định để xây dựng quốc gia - dân tộc,
củng cố nền độc lập, tập trung phát triển kinh tế là mục tiêu của mỗi nớc.
Việc Mỹ leo thang chiến tranh ở Đông Dơng,tranh giành ảnh hởng với các
nớc lớn nh Liên Xô- Trung Quốc làm cho các nớc sáng lập lo ngại sẽ có
đụng độ giữa các cờng quốc và ảnh hởng tới các mục tiêu của mỗi nớc. Do
vậy, các thành viên này cho rằng biện pháp để cứu vẫn tình hình là đoàn
kết các nớc trong khu vực vào trong một tổ chức nhấn mạnh đến hợp tác
tăng cờng phát triển kinh tế và theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập. Coi
đây là tấm lá chắn vững chắc để chống lại sự thống trị của các cờng quốc
bên ngoài. Bên cạnh các yếu tố chủ quan trong khu vực còn có các yếu tố
bên ngoài tác động vào việc hình thành tổ chức ASEAN. Ta cần thấy rằng
các trào lu hình thành chủ nghĩa khu vực trên thế giới sau chiến tranh thế
giới II nh sự ra đời của cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) khu vực thợng
mại tự do Mỹ- Latinh (LAFTA); thị trờng chung châu Mỹ (CACM) đã tác
4
động không nhớ tới việc hình thành ASEAN. Trên cơ sở các nhân tố chủ
quan và khách quan đó các nớc Đông Nam á đều nhận thấy rằng việc hình
thành một tổ chức khu vực sẽ thúc đẩy sự tằng trởng kinh tế thông qua hợp
tác kinh tế,buôn bán, phân công lao động, củng cố tình đoàn kết khu vực,
nâng cao đợc uy tín của các nớc nhỏ, vừa trong khu vực và trên trờng quốc
tế, trên cơ sở hợp tác khu vực sẽ tạo ra đợc các biện pháp giải quyết vấn đề
xã hội mà các nớc thành viên gặp phải có hiệu quả nhất.
Với mong muốn đó cuối năm 1966 Thanat Khoman, nguyên bộ trởng
ngoại giao Thái Lan đã bắt đầu chuyển đề án lập tổ chức Đông Nam á về

5
không chỉ có các nớc Đông Nam á là thành viên hiệp ớc mà nhiều nớc ở
Trung, Nam á; châu Âu cũng đợc đề ra triển vọng tham gia. Thời kỳ này
cũng là thời điểm các nớc ASEAN lần lợt thiết lập quan hệ ngoại giao với
Việt Nam.
- Thời kỳ 1976-1978: Sau cuộc đấu tranh giải phóng và thống nhất
đất nớc của Việt Nam, 2 năm là một giai đoạn ngắn ngủi nhng nó đóng vai
trò quan trọng trong lịch sử ASEAN. Trong thời kỳ này ASEAN rảnh rang
để dần thể chế hoá cơ cấu tổ chức của mình, định ra cơ chế hội nghị bộ tr-
ởng ngoại giao (AHM); lập ban th ký ASEAN đặt tại Jakarta-Indonexia,
thành lập 5 uỷ ban hợp tác kinh tế và 4 uỷ ban hợp tác chuyên ngành. Hợp
tác kinh tế bắt đầu đợc chú trọng cùng với việc tổ thể chế hoá mối quan hệ
với các đối tác hợp tác thông qua cơ chế đối thoại giữa ASEAN với các nớc
Mỹ, liên minh châu Âu, úc New zealand, Nhật, Canada và sau này là Hàn
Quốc, ấn Độ.
- Thời kỳ 1979-1990 :Trong suốt một thập kỷ, Campuchia trở thành
chủ đề chính mang tính chi phối trong hầu hết các hoạt động của ASEAN.
Đây cũng là thời kỳ ASEAN đứng về phía Trung Quốc và phơng tây chống
lại Việt Nam, hành động này tiếp diễn tới cuối thập kỷ 80 khi vấn đề
Campuchia đợc giải quyết. Năm 1984 Brunây Danexalam là thành viên thứ
6 của ASEAN. Thời kỳ này phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nớc thành
viên ASEAN. Tốc độ tăng trơngr kinh tế trong nhiều năm liền của
Sinhgapo, Malayxia,Thai Lan đạt mức 2 con số. ASEAN đã đa ra hàng loạt
chơng trình hợp tác kinh tế trong giai đoạn này nh: chơng trình liên doanh
công nghiệp (AIJV), chơng trình u đãi thuế quan(PAT). Vị trí của ASEAN
trên trờng quốc tế đợc nâng cao.
- Thời kỳ 1990 tới nay: Sau một loạt những biến động chính trị trên
thế giới nh: Liên Xô sụp đổ, Đông Âu tan rã, thời kỳ hậu chiến tranh lạnh
đã bắt đầu. Trong khu vực Mỹ rút quân khỏi Philipin, hiệp định về
Campuchia đợc ký kết, Việt Nam và Trung Quốc bình thờng hoá quan hệ,

các học giả ASEAN đã cho rằng: Nhân tố quan trọng ban đầu đa đến sự
hình thành ASEAN không phải là nhân tố kinh tế mà là những tính toán về
chính trị và an ninh. Tuy nhiên, cha thể đồng nhất ASEAN với SEATO.
Sự ra đời và tồn tại của ASEAN chính là sản phẩm đợc tạo ra từ các
mong muốn và xu thế vận động thờng trực trong khu vực. Các nớc thành
viên ASEAN phải đối phó với các phong trào trong nớc và có cùng mục tiêu
là mong muốn ổn định và phát triển. Các nhân tố đó kết hợp với sự thách
thức mới của tình hình khu vực quốc tế làm cho ASEAN là một yêu cầu cần
thiết xuất phất từ nguyện vọng của các nớc khu vực hợp tác trên cơ sở bình
đẳng và cùng có lợi. Tổ chức này thúc đẩy quan hệ hữu nghị, giải quyết ổn
thoả hoặc giảm nhẹ các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các hội viên để có thể
tập trung vào đối phó với các thách thức đối nội và đối ngoại, thực hiện tốt
nhiệm vụ kinh tế, xã hội trong từng quốc gia. Tuy việc thành lập ASEAN
nhằm một mục đích lớn là chống sự bành trớng của đế quốc nhng ASEAN
vẫn tranh thủ sự giúp đỡ phòng thủ của Mỹ - Anh, dùng chính sách hoà
bình - hợp tác của mìnhh cùng với việc lợi dụng mâu thuẫn giữa các nớc lớn
để củng cố và nâng cao tiếng nói của tổ chức.
+ Trên cơ sở những phân tích về tính chất, đờng lối của tổ chức
ASEAN cho thấy u tiên hàng đầu của các nớc khi tham gia tổ chức này là
7
mong muốn đạt đợc sự ổn định và an ninh chính trị, và muốn có sự tin cậy,
bảo đảm an ninh từ các nớc láng giềng, lấy hợp tác kinh tế thơng mại - nền
tảng của hợp tác khu vực để đảm bảo sự ổn định đó. Mặt khác qua vai trò
của ASEAN - một tổ chức khu vực, thế và lực của các nớc hội viên đợc
nâng lên trong quan hệ với các nớc lớn, tạo đà phát huy tối đa sức mạnh của
mình.
Tuy nhiên các nớc thành viên có quy mô khác nhau với đờng lối phát
triển đất nớc có những điểm không giống nhau với ảnh hởng của mâu thuẫn
quá khứ nên có thể có những hoài nghi về sự thành công của ASEAN.
Những sự hợp tác ngày càng thành công của ASEAN đã chứng tỏ hợp tác đem

1, Mục tiêu của hiệp hội quốc gia Đông Nam á (ASEAN) (1967 -
tới nay)
+ Lúc mới thành lập mục tiêu mà ASEAN đặt lên hàng đầu là mục
đích chính trị, chú trọng hợp tác tay đôi giữa các nớc trong khu vực, cải
thiện không khí chính trị giữa các quốc gia. Càng về sau do có sự thay đổi
về tơng quan lực lợng ở khu vực cùng với sự biến đổi chiến lợc của các nớc
lớn, xuất hiện mới đe doạ đối với an ninh và phát triển kinh tế ASEAN trở
nên gắn bó với nhau hơn. ý tởng hợp tác và phát triển kinh tế là một mục
tiêu quan trọng của ASEAN. Sau hai thập kỷ vấn đề kinh tế bị đặt xuống
hàng thứ yếu tới hội nghị cấp cao ASEAN IV tại Singapor tháng 1 - 1992
vấn đề hợp tác phát triển kinh tế đợc đặt ở vị trí u tiên cao. Tại hội nghị này
ASEAN và hiệp định u đãi thuế quan có hiệu lực chung (Cept) để thành lập
khu vực mậu dịch tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA) trong vòng 15 năm từ
1993 đến 2008.
Hội nghị cấp cao ASEAN họp tại Băng Cốc đã thúc đẩy việc giải
quyết các vấn đề tăng cờng hợp tác kinh tế giữa các nớc thành viên. (Thoả
thuận rút ngắn thời gian thực hiện AFTA từ 15 năm xuống còn 10 năm và
thậm chí có thể hoàn thành trớc thời hạn 2003, mở rộng hợp tác ASEAN
sang lĩnh vực mới nhờ dịch vụ, sở hữu trí tuệ, lập khu vực đầu t ASEAN.
Hội nghị cấp cao ASEAN 6 tại Hà Nội một lần nữa khẳng định chính sách
hợp tác kinh tế, thúc đẩy quá trình giải quyết những hậu quả của cuộc
khủng hoảng kinh tế, củng cố các chế độ tài chính, thị trờng vốn, tăng cờng
giám sát dòng vốn Kiên định thực hiện đờng lối hợp tác hữu nghị, tôn
trọng độc lập chủ quyền của các quốc gia. Thực hiện chính sách vì một
Đông Nam á hoà bình ổn định và phát triển đồng đều. Từ những hoạt động
và tôn chỉ của ASEAN trong thời gian qua ta có thể xác định mục tiêu cơ
bản của ASEAN là:
- Thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá
trong khu vực, bằng nỗ lực của mình liên kết lại trên tinh thần bình đẳng
hợp tác nhằm tăng cờng cơ sở cho một cộng đồng các nớc Đông Nam á

tắc này đợc ghi nhận trong hiệp ớc thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á,
phù hợp với hiến chơng Liên Hiệp Quốc, tuyên bố cuối cùng của Hội nghị
á - Phi ở Băng Đung (25 - 04 - 1955) tuyên bố Băng Cốc 8 - 8 - 1967 và
tuyên bố ký tại CuaLaLămpơ 27 - 11 1971. Trong chơng I, điều 2 của hiệp -
ớc thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á (Hiệp ớc BaLi 24 - 02 - 1976) ghi
nhân các nguyên tắc.
a. Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng toàn vẹn lãnh thổ và
bản sắc dân tộc của tất cả các nớc.
b. Quyền của các dân tộc, quốc gia đợc tồn tại mà không có sự cạn
thiệp, lật đổ hay sức ép từ bên ngoài.
c. Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
d. Giải quyết tranh chấp hoặc bất đồng bằng biện pháp hoà bình
e. Không đe doạ, sử dụng vũ lực.
f. Hợp tác có hiệu quả giữa các nớc. Nh vậy chứng tỏ ASEAN là một
liên minh hợp tác về chính trị, quân sự, không phải là một liên minh quân
sự.
3. Cơ cấu tổ chức của ASEAN
10
Theo điều 2 tuyên bố Băng Cốc 1967, đợc bổ sung và cụ thể hoá
bằng các văn kiện khác, bộ máy cơ cấu tổ chức của ASEAN bao gồm:
+ Cơ quan cao nhất là hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo của các
quốc gia thành viên (lãnh đạo chính phủ) có chức năng vạch ra đờng lối cho
từng thời kỳ.
+ Hội nghị bộ trởng các ngành chuyên môn.
+ Các uỷ ban thờng trực ASEAN do Bộ trởng ngoại giao các nớc
đăng cai làm chủ tịch và đại sứ các nớc thành viên khác, có nhiệm vụ chuẩn
bị cho các cuộc họp hàng năm và hội nghị bất thờng của Hội nghị cấp Bộ
trởng nói trên.
+ Các uỷ ban chuyên môn (gồm viên chức và chuyên gia của các nớc
thành viên).

ASEAN trở thành một lực lợng đủ mạnh để ngăn chặn mu đồ thống trị của
các thế lực bên ngoài, giữ gìn đợc bản sắc của khu vực, bảo vệ đợc nền độc
lập, tự chủ của các quốc gia thành viên.
2. Trong lĩnh vực kinh tế:
+ Các quốc gia Đông Nam á trong ASEAN là những nớc vừa và nhỏ.
Nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Sức mạnh kinh tế của hầu hết các nớc
thành viên cha đủ để có thể có tiếng nói quyết định trong nền kinh tế thế
giới. Với cơ chế hợp tác, ASEAN đã trở thành một thị trờng to lớn đầy hứa
hẹn đối với mỗi nớc thành viên. Hợp tác kinh tế khu vực góp phần thúc đẩy
sự tăng trởng kinh tế của mỗi nớc, đồng thời ASEAN với sức mạnh của sự
tập trung của nhiều nền kinh tế trở thành cánh cửa để các nớc thành viên b-
ớc ra bên ngoài hợp tác với các khối, tổ chức kinh tế lớn trên thế giới.
Với tiềm năng to lớn về nhiều mặt, ngày nay ASEAN với t cách là
khu vực kinh tế năng động và có tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất thế giới
đang trở thành một khu vực có sức hấp dẫn đầu t của nớc ngoài. Qua đó sự
vững mạnh về kinh tế của các nớc thành viên càng đợc củng cố, sức mạnh
kinh tế của khu vực tăng lên góp phần đẩy mạnh quá trình liên kết kinh tế
của ASEAN với các nền kinh tế khác. ASEAN trở thành một mắt xích quan
trọng, không thể thiếu trong chuối liên kết kinh tế thế giới và có vai trò
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của khu vực.
3. Trong một số lĩnh vực khác:
- ASEAN là cầu nối hợp tác giữa các nớc thành viên trong các lĩnh
vực văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật. Sự giao lu, hợp tác, trao đổi
của các nớc trong ASEAN củng cố thêm tình đoàn kết khu vực, đa sự tiến
bộ của khối lên ngang tầm thế giới, góp phần không nhỏ vào sự phát triển
và tiến bộ của nhân loại.
12
Chơng II
Hợp tác kinh tế ASEAN - Việt Nam.
I - Việt Nam gia nhập ASEAN.

Trớc chính sách đối ngoại ngày một tiến bộ của các nớc ASEAN
cùng với hoạt động giảm bớt sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt
13
Nam. Chính phủ nớc ta đã tỏ thái độ hoan nghênh và khuyến khích chúng ta
đã tiến hành thiết lập một số chính sách với các nớc thuộc ASEAN (Năm
1970 - Malaixia đình chỉ việc đào tạo cảnh sát và cố vấn cho chính quyền
Sài Gòn, từ chối yêu cầu của Sài Gòn lên án cuộc tấn công của quân dân
Việt Nam ở Nam Việt Nam. Singapor chấp nhận để Việt Nam dân chủ cộng
hoà đặt cơ quan Tổng Công ty xuất nhập khẩu (7 - 1971), 1969, 1970 hai n-
ớc Philippin và Thái Lan công bố và thực hiện kế hoạch rút quân và nhân
viên ra khỏi miền Nam Việt Nam chúng ta cũng tiến hành thay đổi thái độ
với Philippin v.v Tuy nhiên quan hệ giữa hai bên vẫn cha có phát triển gì
đáng kể).
+ Đầu năm 1973 ở khu vực tình hình có sự thay đổi. Mỹ đã phải ký
hiệp định Pari chấm dứt hoạt động quân sự ở Đông Dơng xu thế hoà bình
trung lập ở khu vực phát triển mạnh, chính quyền độc tài thân Mỹ Thanon ở
Thái Lan sụp đổ, sức ép đòi rút quân Mỹ khỏi Thái Lan ngày một tăng. Vì
vậy, các nớc ASEAN phải điều chỉnh mạnh mẽ chính sách đối ngoại của
mình. ở bình diện quốc tế ASEAN tăng cờng quan hệ với Liên Xô và Trung
Quốc, thực hiện chính sách cân bằng, giữa các nớc lớn. (thiết lập quan hệ
ngoại giao ở cấp đại sứ, bình thờng hoá quan hệ thơng mại, thiết lập quan
hệ ngoại giao giữa các nớc ASEAN với Liên Xô và Trung Quốc) các nớc.
- Trên khu vực ASEAN thực hiện nhiều hành động, cử chỉ thân thiện
nhằm tạo cơ sở cho việc đặt quan hệ với Việt Nam (3 - 1973; Philippin Thái
Lan rút hết quân đội khỏi Nam Việt nam, Thái Lan hạn chế Mỹ sử dụng các
căn cứ quân sự ở Thái Lan hạn chế Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự ở Thái
Lan chống lại các nớc Đông Dơng 7 - 1974; kêu gọi viện trợ kinh tế cho các
nớc Đông Dơng v.v
Sau khi ký hiệp định Pari chúng ta cũng tích cực triển khai chính
sách khu vực đẩy mạnh quan hệ song phơng với các nớc thuộc ASEAN

triển chính sách hợp tác khu vực đợc tăng cờng. Các nớc ASEAN thể hiện
mong muốn hợp tác và thúc đẩy sự hội nhập của Việt Nam vào ASEAN.
Đây là thời kỳ có tính chất bớc đệm, là đà phát triển cho quan hệ Việt Nam
- ASEAN bớc sang một thời kỳ mới: thời kỳ hợp tác và phát triển.
d. Giai đoạn 1992 - trớc khi Việt Nam là thành viên ASEAN.
Trớc vận hội mới cho phát triển và hợp tác cùng với sự cần thiết về an
ninh khu vực cả Việt Nam và các nớc ASEAN đã thực hiện đờng lối xích lại
gần nhau. Quan hệ hợp tác Việt Nam - ASEAN trở thành chính sách quan
trọng đối với cả hai phía từ 1992 - tới khi Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của ASEAN chúng ta đã tham gia vào rất nhiều hoạt động chung
của tổ chức nhằm chuẩn bị cho sự tham gia vào ASEAN. Qua các hội nghị
của tổ chức việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã đợc sự đồng tình và nhất trí
cao. ASEAN trở thành đối tác quan trọng cho sự phát triển của Việt Nam.
2. Việt Nam trở thành thành viên ASEAN (28 - 7 - 1995).
Sau một thời gian dài chuẩn bị. Với thiện chí làm bạn với tất cả vì
hoà bình ổn định và phát triển nhằm xây dựng Đông Nam á hoà bình hữu
nghị và hợp tác. Ngày 28 - 7 - 1995 tại thủ đô Brunay. Hội nghị Bộ trởng
ngoại giao ASEAN lần thứ 28 và ARF lần thứ 2 Việt Nam đã chính thức trở
thành thành viên thứ 7 của ASEAN đồng thời Việt Nam cũng tuyên bố gia
nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); Việt Nam cũng tiến hành
hoà nhập vào các hoạt động chung khác của ASEAN. Việc Việt Nam với
15
thế mạnh về lãnh thổ, dân c gia nhập ASEAN đã thực sự làm cho ASEAN
trở thành tổ chức hợp tác đa văn hoá, chính trị, kinh tế. Tăng cờng sự ổn
định khu vực, góp phần xây dựng Đông Nam á hoà bình và phồn vinh.
II - Quan hệ pháp lý Việt Nam - ASEAN.
Mối quan hệ pháp lý đợc thiết lập giữa các nớc trong ASEAN nhằm
xác định một hành lang pháp lý cho quan hệ giữa các nớc thành viên trong
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh v.v Việt Nam với t cách là thành
viên của ASEAN, việc tham gia các mối liên kết pháp lý này là rất cần thiết

đãi thơng mại (PTA - 1977) đã đợc Việt Nam tham gia và thực hiện. Chúng
ta đã xây dựng chính sách cho hớng tối huệ quốc với các nớc ASEAN,
nghiêm chỉnh chấp hành mức thuế u đãi đối với các sản phẩm thuộc PTA.
16
Việt Nam đã ký kết các hiệp định, hiệp ớc và các văn bản khác xác
định quyền lợi và trách nhiệm của mình với các nớc đối tác (quan hệ song
phơng) các quy chế pháp lý này tạo nên các quy chế và đờng lối thực hiện
quan hệ kinh tế hai chiều giữa Việt Nam với từng nớc trong khu vực. Có thể
kể tới các hiệp định hàng không, hiệp định hợp tác hàng hải (Việt Nam -
Malaixia; Việt Nam - Lào - Campuchia - Myanma, v.v ), hiệp định hợp tác
khoa học kỹ thuật, công nghệ (Việt Nam - Malaixia; Việt Nam - Philippin),
hiệp ớc hợp tác du lịch (1978) với philippin; hiệp định thơng mại, hiệp định
khuyến khích và bảo hộ đầu t - Singapor và rất nhiều các văn bản song ph-
ơng khác. Việc Việt Nam ký kết và thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản có
tính pháp lý đó đã làm tăng độ tin cậy của các nớc trong khu vực, tạo cơ sở
để tiến tới các hoạt động hợp tác trong tơng lai. Mặt khác, các quy phạm
pháp lý này đảm bảo quyền lợi của Việt Nam cả về chính trị và kinh tế, xu
hớng trong tơng lai Việt Nam sẽ cùng với các nớc khác xây dựng các văn
bản pháp lý để điều chỉnh luồng quan hệ còn khoảng trống đặc biệt là
trong khu vực hợp tác kinh tế.
III - Hợp tác kinh tế Việt Nam - ASEAN.
1. Hợp tác trong các chơng trình kinh tế ASEAN.
Trớc năm 1986 do quan hệ Việt Nam - ASEAN cha đợc khai thông
và hoạt động hợp tác kinh tế của Việt Nam chủ yếu với Liên Xô và Đông
Âu. Do vậy, quan hệ kinh tế Việt Nam - ASEAN là không đáng kể. Sau
1986 trên cơ sở đờng lối mở chửa và hội nhập, phát triển hợp tác kinh tế,
ASEAN đã trở thành một đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam. Thị tr-
ờng ASEAN đã thay thế vai trò của Liên Xô và Đông Âu trong việc cung
cấp các mặt hàng nhập khẩu quan trọng của Việt Nam, đặc biệt là vai trò
của Singapor. Hàng nhập khẩu từ Singapor giúp Việt Nam trong giai đoạn

- Phát triển mạng lới hạ tầng cơ sở vận tải và thông tin an toàn kể cả
hệ thống viễn thông và bu chính; phát triển hợp tác du lịch và năng lợng.
- Thúc đẩy buôn bán các sản phẩm nông nghiệp.
- Phát triển hợp tác tiểu vùng giữa các nớc ASEAN, giữa ASEAN với
quốc tế.
- Đẩy mạnh hợp tác giữa các khu vực t nhân.
Việt Nam với t cách là thành viên ASEAN đã tích cực tham gia các
hoạt động hợp tác kinh tế chung trong ASEAN.
+ Chơng trình hợp tác thơng mại.
Thúc đẩy tăng cờng buôn bán trong nội bộ ASEAN là một mặt rất
quan trọng trong hợp tác kinh tế ASEAN. Do vậy, thoả thuận u đãi thơng mại
(Preferentia Trading Arrangements - PTA) đợc thực hiện từ 1977 nhằm tự do
hoá thơng mại, thúc đẩy trao đổi buôn bán trong khu vực. Theo thoả thuận này
các nớc thành viên dành cho nhau những u đãi về thuế quan (mức giảm thuế
quan MOP cho những sản phẩm PTA là 50% so với mức thuế tối huệ quốc của
nớc nhập khẩu - sản phẩm u đãi PTA là những sản phẩm đợc sản xuất, khai
thác tại ASEAN hoàn toàn hoặc một phần).
+ Việt Nam - ASEAN trong AFTA.
Thoả thuận thiết lập khu mậu dịch tự do AFTA năm 1992 nhằm tăng
cờng buôn bán giữa các nớc ASEAN, góp phần cải thiện môi trờng thu hút
đầu t nớc ngoài vào ASEAN, tạo ASEAN có nền sản xuất cạnh tranh hớng
ra thị trờng thế giới (tháng 9 - 1994 các nớc ASEAN quyết định rút thời
gian hoàn thành ASEAN từ 2008 xuống 2003. Bruney đề nghị hoàn thành
AFTA vào năm 2000). Việt Nam tích cực tham gia vào thực hiện AFTA,
tăng cờng sản xuất trong nớc, sửa đổi chính sách thuế cho phù hợp. Chúng
ta đợc u tiên 3 năm so với các nớc khác trong quá trình thực hiện chơng
trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung (EPT). Tiến hành cải cách thủ tục
hải quan, tham gia hệ thống chất lợng quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam
cố gắng nâng cao chất lợng sản phẩm để đợc cấp chứng nhận chất lợng
quốc tế ISO, dỡ bỏ dần các hàng rào phi thuế quan v.v

điều kiện cho các công ty nhỏ và vừa có thể tham gia. Các sản phẩm AICO
căn cứ vạo tính hoàn chỉnh hoặc nguồn gốc nguyên liệu để tạo ra sản phẩm
sẽ đợc hởng mức thuế u đãi 0-5% và các khuyến khích phi thuế quan do
từng nớc quy định. Tổ chức này mang tính phối hợp sản xuất giữa các công
ty của ASEAN. (AICO không phải là doanh nghiệp mới và phải có ít nhất 2
công ty của 2 nớc ASEAN cùng hợp tác). Đây là một chơng trình hợp tác
mà Việt Nam rất quan tâm. AICO góp phần thúc đẩy sản xuất trong nớc,
nâng cao chất lợng hàng hoá, tìm hiểu và áp dụng những công nghệ mới,
sản xuất đợc sản phẩm mới.
Khi hợp tác công nghệ theo chơng trình này tại Việt Nam các doanh
nghiệp nớc ngoài đợc hởng các điều kiện miễn trừ. (Quy định chung của
AICO là: các công ty muốn tham gia một tổ chức AICO phải đợc thành lập,
đang hoạt động ở bất kỳ một nớc nào; có tối thiểu 30% cổ phần quốc gia;
có thực hiện các hoạt động cung cấp nguồn lực cho nhau, hoạt động công
nghiệp phụ trợ và hoat động hợp tác công nghiệp. Trong trờng hợp không
19
đủ 30% cổ phần quốc gia nhng đáp ứng đợc các điều kiện miễn trừ tiêu
chuẩn cho nớc sở tại tham gia AICO quy định vẫn có thể đợc phép tham
gia. Các điều kiện miễn trừ do Việt Nam gồm:
- Các công ty xin tham gia phải sản xuất sản phẩm mới có sử dụng
thiết kế, cách thức, phơng pháp, quy trình, hệ thống cha có ở Việt Nam.
- Cam kết xuất khẩu sản phẩm AICO của công ty xin tham gia phải
từ 50% trở lên.
- Hàm lợng nội địa hoá sản phẩm AICO phải trên 50% trớc năm 2000.
-Công ty xin tham gia phải có ít nhất 40% cổ phần cộng gộp của
ASEAN
- Có sự tham gia của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đơn xin tham gia tổ
chức AICO tại Việt Nam phải gửi tới Bộ Công nghiệp theo mẫu .
+ Hợp tác năng lợng khoáng sản Việt Nam - ASEAN
Nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế cuả các nớc thành viên, trong

20
lâm - ng nghiệp của mỗi nớc và khu vực. Hiện nay để thực hiện chơng trình
hợp tác giai đoạn 1999- 2004 kế hoạch hành động chung đợc các nớc xây
dựng bao gồm các chơng trình về an ninh lơng thực, nâng cao tính cạnh
tranh quốc tế của nông sản ASEAN, thúc đẩy ứng dụng khoa học, công
nghệ mới, đẩy mạnh sự tham gia của khu vực t nhân, đảm quản lý rừng và
phát triển thơng mại hợp lý sản phẩm rừng, hợp tác nghiên cứu về nuôi
trồng thuỷ sản và nhiều hoạt động chung khác.
+ Hợp tác Việt Nam - ASEAN về vận tải - giao thông - thông tin liên
lạc - về giao thông Việt Nam hợp tác cùng ASEAN để xây dựng mạng lới
giao thông khu vực, nâng cao chất lợng hạ tầng cơ sở đờng xá, trang thiết
bị. Nghiên cứu về luật lệ giao thông các quốc gia hữu quan để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đi lại và vận tải giữa các nớc trong khu vực, hợp tác đào
tạo nhân lực cho ngành giao thông, hợp tác để học hỏi lẫn nhau việc quy
hoạch hệ thống giao thông mỗi nớc (VD: Việt nam hợp tác với Singapor để
xây dựng quy hoạch đờng xá Hà Nội); cùng nhau thoả thuận phát triển giao
thông liên khu vực nhằm xây dựng một mạng giao thông thông suốt của
ASEAN (Việt Nam - Lào - Thái Lan - Campuchia đang hợp tác xây dựng
tuyến đờng nối liền 4 nớc). Trên cơ sở hoạt động hợp tác này sẽ góp phần
không nhỏ, củng cố, nâng cao giao lu kinh tế giữa các nớc, tổng khả năng
trao đổi hàng hoá, phát triển du lịch trong khu vực.
- Về thông tin liên lạc: Việt Nam tham gia vào xây dựng hệ thống
cáp quang ngầm giữa các nớc ASEAN vào quốc tế. Công tác trong chơng
trình vệ tinh của ASEAN, cùng các nớc khác thực hiện hợp tác về dịch vụ b-
u điện, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của ngành.
+ Ngoài các lĩnh vực hợp tác trên Việt Nam còn đẩy mạnh hoạt động
hợp tác với ASEAN trong hoạt động dịch vụ, du lịch, bảo hộ sở hữu trí tuệ
và các lĩnh vực khác.
* Quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các nớc thành viên ASEAN.
+ Quan hệ kinh tế Việt Nam - Bruney.

Về đầu t, các nhà đầu t Indonexia vào Việt Nam khá sớm (từ năm
1990 họ đã nhận đợc giấy phép để tiến hành kinh doanh trong các lĩnh vực
quan trọng nh: ngân hàng, bay dịch vụ cho dầu khí. Hiện nay Indonexia
đứng thứ 18 trong số các nớc đầu t vào Việt Nam với 13 dự án tổng số vốn
đầu t lên tới 284,37 triệu USD, chủ yếu đầu t vào các lĩnh vực nh khách sạn,
mì chính, sợi, gỗ vận tải thuỷ và thuốc lá. Trong thực tế với tiềm năng kinh
tế của mình so với 2 nớc đầu t lớn vào Việt Nam là Thái Lan và Malaixia thì
Indonexia không hề thua kém nhng việc đầu t vào Việt Nam lại cha có. Tuy
nhiên đầu t của Indonexia vào Việt Nam là khá an toàn (tỉ lệ đổ bể chỉ 8%
so với 25% của Thái Lan). Triển vọng đầu t của Indonexia vào Việt Nam
còn rất lớn, đây là cơ hội để phát triển nền kinh tế Việt Nam.
+ Quan hệ kinh tế Việt Nam - Philippin.
12/7/1976 Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với philippin mở ra
một thời kỳ mới cho quan hệ hai nớc: Từ đối đầu sang hợp tác kinh tế cùng
có lợi. Sau các cuộc thăm viếng của lãnh đạo hai nớc và sự kiện Việt Nam
trở thành thành viên ASEAN 7/1997 đã tạo đà phát triển cho quan hệ hai n-
ớc về nhiều mặt đặc biệt là quan hệ hợp tác kinh tế, hai bên thoả thuận tăng
cờng quan hệ thơng mại, đầu t, khoa học - kỹ thuật. Philippin khẳng định
mong muốn quan hệ với Việt Nam ở nhiều mặt cả song phơng và trong
khuôn khổ ASEAN. Phillippin cam kết giúp đỡ Việt Nam về kinh nghiệm
hoạt động kinh tế, đào tạo cán bộ, chế biến sản phẩm dừa v.v và mong
muốn học tập từ Việt Nam những kinh nghiệm trong những vấn đề kinh tế
mà chúng ta đã đạt đợc hàng loạt các văn bản về hợp tác kinh tế đã đợc các
bên ký kết nh: Hiệp ớc phát triển và bảo hộ đầu t, nghị định th thơng mại
xuất - nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (1994); Hiệp ớc thành lập uỷ ban hỗn
hợp về hợp tác kinh tế (JCEC) và uỷ ban hỗn hợp về thơng mại (JCT 1992)
v.v đã góp phần không nhỏ củng cố thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai nớc.
Xuất phát từ những hợp tác kinh tế và tầm quan trọng của hoạt động
này đối với cả hai phía, quan hệ thơng mại và đầu t giữa hai nớc ngày càng
phát triển. Tổng kim ngạch buôn bán giữa hai nớc tăng từ 42,3 triệu

kinh tế với Singapor là rất cần thiết và phải thực hiện không gián đoạn.
+ Quan hệ kinh tế Việt Nam - Malaixia.
Malaixia là bạn hàng lớn thứ hai của Việt Nam tại ASEAN sau Singapor. Là
nớc có quan hệ ngoại giao sớm nhất ASEAN với Việt Nam (30/3/1973). Sau
1986 quan hệ kinh tế Việt Nam - Malaixia mới có sự khởi sắc sau khi giải
quyết những vớng mắc về vấn đề ngời tị nạn Việt Nam ở Malaixia và một
số vấn đè khác. Với xu thế này kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và
Malaixia tăng bình quân 20% năm. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của hai
nớc năm 1991 là 87 triệu USD, 1992 tăng lên 134 triệu USD năm 1995 vọt
lên 350 triệu USD (so với 273 triệu USD năm 1994). Cán cân thơng mại
giữa hai nớc có sự biến chuyển năm 1992 nghiêng về Việt nam, từ 1993 trở
lại đây thì theo chiều hớng ngợc lại. Việt Nam xuất sang Malaixia chủ yếu
là nông sản, gồm sứ, đồ gỗ v.v Đặc biệt Malaixia và Việt nam thoả thuận
23
việc cung cấp ổn định và đều đặn gạo của Việt Nam cho Malaixia. Việt
Nam nhập từ Malaixia hàng điện tử, dầu thực vật, hoá chất chất dẻo, vật
liệu xây dựng, cacao và hàng tiêu dùng khác. Việc đầu t của Malaixia năm
1990 bằng một dự án có số vốn 0,1 triệu USD cho đến tháng 5/1996
Malaixia đã vơn lên hàng thứ 7 những nớc đầu t vào Việt Nam với 47 dự án,
94.849.254 USD chủ yếu trong các lĩnh vực Việt Nam mong muốn (công
nghiệp nhẹ gần 44% số dự án, 69% vốn đầu t công nghiệp năng, 7 dự án, 31
triệu USD, đầu t xây dựng khu chế xuất, nhà máy lọc dầu, nớc sạch v.v
Hầu hết các dự án của Malaixia là dới hình thức 100% vốn của Malaixia
hay liên doanh với Việt nam đều triển khai đúng tiến độ, có hiệu quả, nhiều
dự án đã đi vào hoạt động. Có thể nói quan hệ kinh tế Việt Nam - Malaixia
tuy mới bắt đầu nhng đầy triển vọng phát triển khả năng mở rộng hợp tác
trên những lĩnh vực kinh tế mới đang trong tầm tay và đầy tính khả thi.
+ Quan hệ kinh tế Việt Nam - Thái Lan.
Cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 quan hệ kinh tế Việt Nam Thái Lan
mới thực sự bắt đầu (sau 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, cả hai nớc

thực hiện chính sách hàng, đổi hàng với Lào. Mặt hàng xuất sang Lào chủ
yếu là thép, xi măng v.v và nhập về Việt nam xe gắn máy. Việt Nam thực
hiện nhiều dự án về điện, đờng giao thông cho Lào. Với t cách là một đồng
minh quan trọng của Việt Nam thực hiện nhiều dự án về điện, đờng giao
thông cho Lào. Với t cách là một đồng minh quan trọng của Việt Nam, Lào
đang dần đợc coi là một bạn hàng quan trọng trong chính sách kinh tế của
Việt Nam.
Quan hệ kinh tế Việt Nam - Myanma: Mặc dù đã có quan hệ ngoại
giao nhng việc hợp tác kinh tế giữa hai nớc hầu nh cha có gì. Myanma là
một nớc nghèo, kinh tế kém phát triển, cha có những mặt hàng có uy tín tại
thị trờng Việt Nam. Các thơng gia, doanh nghiệp cả hai nớc đều ít chú trọng
tới việc hợp tác kinh doanh. Gần đây Việt Nam đã ký với Lào và Myanma ,
Campuchia thoả thuận về hợp tác hàng không nhằm nâng tính cạnh tranh
của ngành hàng không 4 nớc, mở ra triển vọng mới trong quan hệ hợp tác
kinh tế trong khu vực.
2. Điểm thuận lợi và những khó khăn của Việt Nam trong hoạt
động hợp tác kinh tế với ASEAN.
a. Thuận lợi: Tham gia hợp tác kinh tế với các nớc ASEAN tạo cho
Việt Nam nhiều thuận lợi và cơ hội phát triển kinh tế. Hợp tác kinh tế với
ASEAn giúp Việt Nam dần thoát khỏi sự phụ thuộc vào một số thị trờng lớn
nh Nhật Bản, Nga, EU, mở rộng thị trờng xuất nhập khẩu cho Việt Nam và
tạo thêm nhiều mối quan hệ mới, bạn hàng mới. Bằng các chính sách hợp
tác Việt Nam có thể xuất nhập khẩu hàng hoá một cách thuận tiện sang các
nớc ASEAN với một thị trờng lớn hơn 400 triệu dân. Tham gia các chơng
trình hợp tác kinh tế ASEAN, Việt Nam thông qua các tổ chức kinh tế,
ASEAN có tiếng nói quan trọng hơn khi đàm phán với các khối thơng mại
trên thế giới. Do quan hệ với các nớc có nền kinh tế tơng đối phát triển Việt
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status