Lời nói đầu
Hiện nay xu hớng quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế diễn ra trên
toàn thế giới. Sự giao thoa giữa các nền kinh tế trở thành một phần không thể
tách rời khỏi sự phát triển kinh tế. Sự phân công lao động quốc tế ngày càng
rõ rệt. Các quốc gia trên thế giới đều nhận rõ đợc rằng sự phồn vinh của mỗi
dân tộc phải đặt trong mối quan hệ tơng quan nhất thể hoá nền kinh tế toàn
cầu.
Việc hàng loạt các khu vực kinh tế vùng do một số cụm quốc gia thành
lập đã tạo ra những khu vực kinh tế năng động; các quốc gia thành viên dợc
hợp tác trao đổi mậu dịch với nhau một cách thuận lợi dựa trên những điểm t-
ơng đồng, trên thế mạnh của mỗi nớc đợc khai thác triệt để. Qua đó đẩy
mạnh tốc độ tăng trởng của các nền kinh tế quốc dân. Các tổ chức nh: liên
minh châu Âu(EU); vùng thơng mại tự do Bắc Mỹ (Nafta); tổ chức hợp tác
kinh tế châu á- Thái Bình Dơng (ASEAN) v.v.. đã phần nào chứng minh đợc
tính u việt của sự hợp tác kinh tế quốc tế và làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế
toàn cầu trong thời gian qua. Việc hợp tác kinh tế quốc tế với phát triển khoa
học kỹ thuật tiên tiến làm cho khối lợng sản phẩm ngày càng lớn, cho nên
đòi hỏi một chế độ lu thông trao đổi rộng rãi, đa phơng. Chế độ bảo hộ mậu
dịch không còn phát huy đợc thế mạnh của mình trong giai đoạn mới. Mô
hình kinh tế thế giới đã thay đổi. Sự phát triển tự do buôn bán, nhu cầu thơng
mại đã toàn cầu đã phá vỡ hình thức bảo trợ và chế độ bảo hộ mậu dịch lỗi
thời. Do vậy, việc Việt Nam gia nhập ASEAN và các tổ chức kinh tế quốc tế
khác là một hớng đi đúng đắn và tất yếu. Hợp tác kinh tế quốc tế sẽ mở ra
những triển vọng, vận hội mới cho nền kinh tế nớc ta là một quyết sách đúng
đắn, góp phần to lớn để thực hiện con đờng cách mạng XHCN; làm cho dân
giàu, nớc mạnh.
1
Chơng I
ASEAN-Quá trình hình thành và phát triển.
I. Sự ra đời của ASEAN.
1. Những tiền đề chủ quan - khách quan:
gian ngắn sau đó ASA bị lâm vào tình trạng khủng hoảng do mâu thuẫn nội
bộ trong tổ chức này. Năm 1962 Malaixia và Philipin bùng nổ tranh chấp về
lãnh thổ ở eo biển Xa Ba đồng thời khi liên bang Malaixia thành lập vào
tháng 9-1963 đã bị Philipin một thành viên của ASA cùng Indonexia từ chối
công nhận. ASA lúc này bị nhận chìm trong mâu thuẫn nội bộ tổ chức. Mặt
khác, ASA là tổ chức chỉ với 3 thành viên cũng với mối liên kết lỏng lẻo không
đủ sức mạnh ddeera tạo đợc uy tín trên trờng quốc tế, mục đích đặt ra cho việc
thành lập tổ chức này bị phá sản hoàn toàn.
Cùng xuất hiện với ý tởng thành lập tổ chức ASA đầu năm 60 kế
hoạch thành lập nhóm nớc gồm Malaixia, Philipin và Indonexia gọi tắt là
Maphilindo cũng gặp thất bại trong trứng nớc do một trong 3 hạt nhân của ý
tởng này là Indonexia với chính sách đối ngoại hớng về nhóm á- Phi thực
hiện chính sách đối đầu với Malaixia do vì coi nớc này là sản phẩm, con đẻ
của chủ nghĩa đế quốc và cơ sở hợp tác tổ chức này chỉ bó hẹp ở các quốc gia
chủng tộc Mã Lai. Do vậy, Maphilindo không đợc sử ủng hộ của các quốc
gia thuộc nhóm chủng tộc khác. Đây là yếu tố cơ bản cùng với sự đối đầu nội
bộ của tổ chức tạo ra hậu quả làm kế hoạch này sụp đổ.
Mặc dù việc xây dựng ASA và Maphilindo không thành công nhng
nhu cầu hợp tác phát triển trong khu vực lại càng đợc củng cố và ngày một
bức xúc sau đao chính ở Indonexia, chính quyền Xuhacto đã thực hiện hàng
loạt đổi mới trong chính sách đối ngoại, tập trung nhiều vào mối quan hệ với
những nớc láng giềng, huỷ bỏ chính sách đối đầu với phơng tây. Indonexia
tiến hành bình thờng hoá quan hệ với các nớc có cùng chế độ chính trị trong
khu vực, thực hiện việc chấm dứt đối đầu với liên bang Malaixia, hành động
này của Indonexia đã tháo gỡ đợc một ngòi nổ xung quanh tiềm ẩn trong khu
vực Đông Nam á (8-1966 hai bên đã ký đợc hiệp định giảng hoà). Cùng thời
3
kỳ đó, quan hệ ngoại giao giữa Indonexia và Philipin cũng đợc khôi phục lại.
Những biến đổi đó đã thổi vào đời sống chính trị và quan hệ đối ngoại giữa
các nớc trong khu vực một luồng sinh khí mới. Hy vọng khôi phục lại ASA
qua thời gian, ý thức về gía trị độc lập đợc gắn chặt với ý chí của nhân dân
các nớc (chỉ có Thái Lan là nớc tránh đợc việc trở thành thuộc địa). Các quốc
gia này chỉ mới giành đợc độc lập sau thế chiến thứ hai. Vì vậy, các nớc hội
viên đều chống lại các hình thức của chủ nghĩa đế quốc, thực hiện đờng lối
đối ngoại độc lập coi đây là một trong những t tởng xuyên suốt và quan trọng
nhất trong đờng lối lãnh đạo đất nớc. Mong muốn có vị trí vững vàng trong
khu vực , ổn định để xây dựng quốc gia - dân tộc, củng cố nền độc lập, tập
trung phát triển kinh tế là mục tiêu của mỗi nớc. Việc Mỹ leo thang chiến
tranh ở Đông Dơng,tranh giành ảnh hởng với các nớc lớn nh Liên Xô- Trung
Quốc làm cho các nớc sáng lập lo ngại sẽ có đụng độ giữa các cờng quốc và
ảnh hởng tới các mục tiêu của mỗi nớc. Do vậy, các thành viên này cho rằng
biện pháp để cứu vẫn tình hình là đoàn kết các nớc trong khu vực vào trong
một tổ chức nhấn mạnh đến hợp tác tăng cờng phát triển kinh tế và theo đuổi
chính sách đối ngoại độc lập. Coi đây là tấm lá chắn vững chắc để chống lại
sự thống trị của các cờng quốc bên ngoài. Bên cạnh các yếu tố chủ quan
trong khu vực còn có các yếu tố bên ngoài tác động vào việc hình thành tổ
chức ASEAN. Ta cần thấy rằng các trào lu hình thành chủ nghĩa khu vực trên
thế giới sau chiến tranh thế giới II nh sự ra đời của cộng đồng kinh tế châu
Âu (EEC) khu vực thợng mại tự do Mỹ- Latinh (LAFTA); thị trờng chung
châu Mỹ (CACM) đã tác động không nhớ tới việc hình thành ASEAN. Trên
cơ sở các nhân tố chủ quan và khách quan đó các nớc Đông Nam á đều nhận
thấy rằng việc hình thành một tổ chức khu vực sẽ thúc đẩy sự tằng trởng kinh
tế thông qua hợp tác kinh tế,buôn bán, phân công lao động, củng cố tình
đoàn kết khu vực, nâng cao đợc uy tín của các nớc nhỏ, vừa trong khu vực và
trên trờng quốc tế, trên cơ sở hợp tác khu vực sẽ tạo ra đợc các biện pháp giải
quyết vấn đề xã hội mà các nớc thành viên gặp phải có hiệu quả nhất.
Với mong muốn đó cuối năm 1966 Thanat Khoman, nguyên bộ trởng
ngoại giao Thái Lan đã bắt đầu chuyển đề án lập tổ chức Đông Nam á về
hợp tác khu vực tới bộ trởng ngoại giao các nớc Đông Nam á. Tuy nhiên từ
dự thảo tới hiện thực phải trải các cuộc đàm phán kéo dài để giải quyết khá
ớc ASEAN lần lợt thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
- Thời kỳ 1976-1978: Sau cuộc đấu tranh giải phóng và thống nhất đất
nớc của Việt Nam, 2 năm là một giai đoạn ngắn ngủi nhng nó đóng vai trò
6
quan trọng trong lịch sử ASEAN. Trong thời kỳ này ASEAN rảnh rang để
dần thể chế hoá cơ cấu tổ chức của mình, định ra cơ chế hội nghị bộ trởng
ngoại giao (AHM); lập ban th ký ASEAN đặt tại Jakarta-Indonexia, thành
lập 5 uỷ ban hợp tác kinh tế và 4 uỷ ban hợp tác chuyên ngành. Hợp tác kinh
tế bắt đầu đợc chú trọng cùng với việc tổ thể chế hoá mối quan hệ với các đối
tác hợp tác thông qua cơ chế đối thoại giữa ASEAN với các nớc Mỹ, liên
minh châu Âu, úc New zealand, Nhật, Canada và sau này là Hàn Quốc, ấn
Độ.
- Thời kỳ 1979-1990 :Trong suốt một thập kỷ, Campuchia trở thành
chủ đề chính mang tính chi phối trong hầu hết các hoạt động của ASEAN.
Đây cũng là thời kỳ ASEAN đứng về phía Trung Quốc và phơng tây chống
lại Việt Nam, hành động này tiếp diễn tới cuối thập kỷ 80 khi vấn đề
Campuchia đợc giải quyết. Năm 1984 Brunây Danexalam là thành viên thứ 6
của ASEAN. Thời kỳ này phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nớc thành viên
ASEAN. Tốc độ tăng trơngr kinh tế trong nhiều năm liền của Sinhgapo,
Malayxia,Thai Lan đạt mức 2 con số. ASEAN đã đa ra hàng loạt chơng trình
hợp tác kinh tế trong giai đoạn này nh: chơng trình liên doanh công nghiệp
(AIJV), chơng trình u đãi thuế quan(PAT). Vị trí của ASEAN trên trờng quốc
tế đợc nâng cao.
- Thời kỳ 1990 tới nay: Sau một loạt những biến động chính trị trên thế
giới nh: Liên Xô sụp đổ, Đông Âu tan rã, thời kỳ hậu chiến tranh lạnh đã bắt
đầu. Trong khu vực Mỹ rút quân khỏi Philipin, hiệp định về Campuchia đợc
ký kết, Việt Nam và Trung Quốc bình thờng hoá quan hệ, lịch sử ASEAN
cũng đợc lật sang một trang mới. ASEAN tăng cờng hợp tác với các nớc Đông
Dơng, tạo môi trờng ổn định để phát triển, qua đó mở rộng thị trờng, tăng sức
đối phó với các nớc công nghiệp phát triển. Trọng tâm các hoạt động của
Sự ra đời và tồn tại của ASEAN chính là sản phẩm đợc tạo ra từ các
mong muốn và xu thế vận động thờng trực trong khu vực. Các nớc thành viên
ASEAN phải đối phó với các phong trào trong nớc và có cùng mục tiêu là
mong muốn ổn định và phát triển. Các nhân tố đó kết hợp với sự thách thức
mới của tình hình khu vực quốc tế làm cho ASEAN là một yêu cầu cần thiết
xuất phất từ nguyện vọng của các nớc khu vực hợp tác trên cơ sở bình đẳng
và cùng có lợi. Tổ chức này thúc đẩy quan hệ hữu nghị, giải quyết ổn thoả
hoặc giảm nhẹ các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các hội viên để có thể tập
8
trung vào đối phó với các thách thức đối nội và đối ngoại, thực hiện tốt nhiệm
vụ kinh tế, xã hội trong từng quốc gia. Tuy việc thành lập ASEAN nhằm một
mục đích lớn là chống sự bành trớng của đế quốc nhng ASEAN vẫn tranh thủ
sự giúp đỡ phòng thủ của Mỹ - Anh, dùng chính sách hoà bình - hợp tác của
mìnhh cùng với việc lợi dụng mâu thuẫn giữa các nớc lớn để củng cố và nâng
cao tiếng nói của tổ chức.
+ Trên cơ sở những phân tích về tính chất, đờng lối của tổ chức
ASEAN cho thấy u tiên hàng đầu của các nớc khi tham gia tổ chức này là
mong muốn đạt đợc sự ổn định và an ninh chính trị, và muốn có sự tin cậy,
bảo đảm an ninh từ các nớc láng giềng, lấy hợp tác kinh tế thơng mại - nền
tảng của hợp tác khu vực để đảm bảo sự ổn định đó. Mặt khác qua vai trò của
ASEAN - một tổ chức khu vực, thế và lực của các nớc hội viên đợc nâng lên
trong quan hệ với các nớc lớn, tạo đà phát huy tối đa sức mạnh của mình.
Tuy nhiên các nớc thành viên có quy mô khác nhau với đờng lối phát
triển đất nớc có những điểm không giống nhau với ảnh hởng của mâu thuẫn
quá khứ nên có thể có những hoài nghi về sự thành công của ASEAN. Những
sự hợp tác ngày càng thành công của ASEAN đã chứng tỏ hợp tác đem lại lợi
ích lớn hơn các mâu thuẫn dân tộc và thành quả, đem lại từ quá trình hợp tác đã
tháo gỡ dần những trở ngại và mâu thuẫn đó.
Với tiêu chí là nhằm xây dựng một ASEAN ổn định, an ninh và phát
triển. Các nớc Đông Nam á gắn bó với nhau trong ASEAN phấn đấu đảm
không khí chính trị giữa các quốc gia. Càng về sau do có sự thay đổi về tơng
quan lực lợng ở khu vực cùng với sự biến đổi chiến lợc của các nớc lớn, xuất
hiện mới đe doạ đối với an ninh và phát triển kinh tế ASEAN trở nên gắn bó
với nhau hơn. ý tởng hợp tác và phát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng
của ASEAN. Sau hai thập kỷ vấn đề kinh tế bị đặt xuống hàng thứ yếu tới hội
nghị cấp cao ASEAN IV tại Singapor tháng 1 - 1992 vấn đề hợp tác phát triển
kinh tế đợc đặt ở vị trí u tiên cao. Tại hội nghị này ASEAN và hiệp định u đãi
thuế quan có hiệu lực chung (Cept) để thành lập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (gọi tắt là AFTA) trong vòng 15 năm từ 1993 đến 2008.
Hội nghị cấp cao ASEAN họp tại Băng Cốc đã thúc đẩy việc giải quyết
các vấn đề tăng cờng hợp tác kinh tế giữa các nớc thành viên. (Thoả thuận rút
ngắn thời gian thực hiện AFTA từ 15 năm xuống còn 10 năm và thậm chí có
10
thể hoàn thành trớc thời hạn 2003, mở rộng hợp tác ASEAN sang lĩnh vực
mới nhờ dịch vụ, sở hữu trí tuệ, lập khu vực đầu t ASEAN. Hội nghị cấp cao
ASEAN 6 tại Hà Nội một lần nữa khẳng định chính sách hợp tác kinh tế,
thúc đẩy quá trình giải quyết những hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế,
củng cố các chế độ tài chính, thị trờng vốn, tăng cờng giám sát dòng vốn...
Kiên định thực hiện đờng lối hợp tác hữu nghị, tôn trọng độc lập chủ quyền
của các quốc gia. Thực hiện chính sách vì một Đông Nam á hoà bình ổn
định và phát triển đồng đều. Từ những hoạt động và tôn chỉ của ASEAN
trong thời gian qua ta có thể xác định mục tiêu cơ bản của ASEAN là:
- Thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá
trong khu vực, bằng nỗ lực của mình liên kết lại trên tinh thần bình đẳng hợp
tác nhằm tăng cờng cơ sở cho một cộng đồng các nớc Đông Nam á hoà bình
và thịnh vợng.
- Thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực trên tinh thần nhất quán tôn
trọng công bằng và tuân thủ pháp luật trong quan hệ giữa các nớc thuộc khu
vực và nguyên tắc của hiến chơng liên hiệp quốc.
- Xúc tiến hợp tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong cách thức đào tạo
a. Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng toàn vẹn lãnh thổ và
bản sắc dân tộc của tất cả các nớc.
b. Quyền của các dân tộc, quốc gia đợc tồn tại mà không có sự cạn
thiệp, lật đổ hay sức ép từ bên ngoài.
c. Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
d. Giải quyết tranh chấp hoặc bất đồng bằng biện pháp hoà bình
e. Không đe doạ, sử dụng vũ lực.
f. Hợp tác có hiệu quả giữa các nớc. Nh vậy chứng tỏ ASEAN là một
liên minh hợp tác về chính trị, quân sự, không phải là một liên minh quân sự.
3. Cơ cấu tổ chức của ASEAN
Theo điều 2 tuyên bố Băng Cốc 1967, đợc bổ sung và cụ thể hoá bằng
các văn kiện khác, bộ máy cơ cấu tổ chức của ASEAN bao gồm:
+ Cơ quan cao nhất là hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo của các quốc
gia thành viên (lãnh đạo chính phủ) có chức năng vạch ra đờng lối cho từng
thời kỳ.
12
+ Hội nghị bộ trởng các ngành chuyên môn.
+ Các uỷ ban thờng trực ASEAN do Bộ trởng ngoại giao các nớc đăng
cai làm chủ tịch và đại sứ các nớc thành viên khác, có nhiệm vụ chuẩn bị cho
các cuộc họp hàng năm và hội nghị bất thờng của Hội nghị cấp Bộ trởng nói
trên.
+ Các uỷ ban chuyên môn (gồm viên chức và chuyên gia của các nớc
thành viên).
+ ASEAN có 5 uỷ ban kinh tế: Thơng mại và du lịch công nghiệp năng
lợng và tài nguyên, lơng thực và nông nghiệp. Liên lạc và giao thông vận tải,
tài chính và ngân hàng. Có 4 uỷ ban về văn hoá là:
- Khoa học kỹ thuật
- Văn hoá và thông tin
- Phát triển xã hội.
- Ngân quỹ
Với cơ chế hợp tác, ASEAN đã trở thành một thị trờng to lớn đầy hứa hẹn đối
với mỗi nớc thành viên. Hợp tác kinh tế khu vực góp phần thúc đẩy sự tăng
trởng kinh tế của mỗi nớc, đồng thời ASEAN với sức mạnh của sự tập trung
của nhiều nền kinh tế trở thành cánh cửa để các nớc thành viên bớc ra bên
ngoài hợp tác với các khối, tổ chức kinh tế lớn trên thế giới.
Với tiềm năng to lớn về nhiều mặt, ngày nay ASEAN với t cách là khu
vực kinh tế năng động và có tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất thế giới đang
trở thành một khu vực có sức hấp dẫn đầu t của nớc ngoài. Qua đó sự vững
mạnh về kinh tế của các nớc thành viên càng đợc củng cố, sức mạnh kinh tế
của khu vực tăng lên góp phần đẩy mạnh quá trình liên kết kinh tế của
ASEAN với các nền kinh tế khác. ASEAN trở thành một mắt xích quan
trọng, không thể thiếu trong chuối liên kết kinh tế thế giới và có vai trò quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của khu vực.
3. Trong một số lĩnh vực khác:
- ASEAN là cầu nối hợp tác giữa các nớc thành viên trong các lĩnh vực
văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật. Sự giao lu, hợp tác, trao đổi của
các nớc trong ASEAN củng cố thêm tình đoàn kết khu vực, đa sự tiến bộ của
14