Website: Email : Tel : 0918.775.368
lời nói đầu
1. Tính Cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc, dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, ngành Viễn
thông Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu nhất định. Viễn thông Việt Nam đã nhanh chóng hiện
đại hoá đợc mạng lới, rút ngắn đáng kể khoảng cách về cơ sở hạ tầng Viênx thôngvới các nớc
trong khu vực cũng nh trên thế giới. Đến hết năm 1998, đã có 61/61 tỉnh thành phố, 100% số
huyện đã đợc trang bị tổng đài điện tử kỹ thuật số, gần 7000/9330 xã có máy điện thoại. Hầu
hết các tỉnh, thành phố, thị xã đã liên lạc trực tiếp khắp cả nớc và các nớc trên thế giới qua 3
tổng đài, 6 trạm vệ tinh và các tuyến cáp quang biển. Đến nay Viênx thôngViệt Nam đã hoà
nhập với mạng thông tin toàn cầu. Tuy nhiên so với thế giới, mật độ điện thoại của Việt Nam vẫn
còn rất thấp. Mật độ điện thoại năm 1997 ở nớc ta mới đạt 1,58 máy/100 dân và trong khi đó ở
Châu á trung bình 5 máy/100 dân, toàn thê giới trung bình 12 máy/100 dân, Hàn Quốc 43,04
máy/100 dân, Singapore là 55 máy/100 dân, Đài Loan là 46,62 máy/100 dân... Mục tiêu đến
năm 2020 ngành Viễn thôngViệt Nam đã phấn đấu đa mật độ điện thoại lên 30 - 35 máy/100
dân tức là gấp 10 - 15 lần hiện nay và phải tiếp tục phát triển và hiện đại hoá mang thông tin
liên lạc quốc gia, mở liên lạc điện thoại đến hầu hết các xã do đại hội VIII đảng cộng sản Việt
Nam đề ra. Để đạt đợc mục tiêu đó, trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2020, Viễn thông Việt
Nam đòi hỏi một khối lợng vốn khổng lồ, (khoảng 25 tỷ USD) để phát triển. Bên cạnh đó, trớc
xu thế hội nhập quốc tế ngày càng đợc mở rộng: Từ sản xuất hàng hoá thuần tuý nay đã lan
sang cả lĩnh vực dịch vụ trong đó có dịch vụ Viễn thông diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới. Đây là một vấn đề, một đòi hỏi cấp bách đối với dịch vụ Viễn thông Việt Nam khi bớc
vào thế kỷ 21. Đứng trớc những yêu cầu nh vậy, thì từ nay đến năm 2020 dịch vụ Viễn thông
Việt Nam phải có một chiến lợc phát triển phù hợp với tình hình kinh tế xã hội đất nớc, phù hợp
với hiện trạng Viễn thông Việt Nam; để có thể phát huy đợc nội lực, thu hút vốn nớc ngoài và
hội nhập quốc tế. Từ tình hình đó, đề tài Chiến l ợc tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn
thông Việt Nam trớc xu thế hội nhập quốc tế mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn quan
trọng.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn:
Ký tên
Họ tên: Trần Anh Tuấn
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I
Tính tất yếu khách quan của hội nhập quốc
tế và những vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực
dịch vụ Viễn thông Việt Nam
Mục đích của chơng này đi vào tìm hiểu tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam trong thời gian qua. Đồng thời nêu lên các xu hớng phát triển Viễn thông
trên thế giới và nghĩa vụ tự do hoá dịch vụ Viễn thông của Việt Nam khi tham gia vào
các tổ chức kinh tế quốc tế. Để rút ra đợc những kinh nghiệm và bài học cho chiến lợc
tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông của Việt Nam trong thời gian tới,
trong chơng này khái quát một số kinh nghiệm và bài học mở cửa thị trờng dịch vụ
Viễn thông của một số nớc trên thế giới. Chơng I bao gồm 4 vấn đề đợc trình bày
sau:
I. Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế
giới
II. Viễn thông Việt Nam trớc xu thế hội nhập
III. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lợc tự do hóa và mở cửa thị
trờng dịch vụ Viễn thông Việt Nam
IV. Kinh nghiệm và lộ trình mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông
các nớc trong khu vực và trên thế giới
I - Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia
trên thế giới
Hội nhập đã trở thành một trào lu không thể đảo ngợc, và việc tham gia của các
quốc gia vào tiến trình này là tất yếu với thực tế là các thể chế chính trị, kinh tế thơng
mại toàn cầu, liên khu vực vẫn không ngừng đợc củng cố và phát triển cả về lợng và
chất
1.Tình hình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua
mạnh khổng lồ của các công ty xuyên quốc gia đã và đang làm thay đổi bộ mặt thế
giới từng phút từng giờ
1.2 Thúc đẩy tự do hoá thơng mại thế giới
Từ những năm 1990, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá của nền kinh tế thế
giới đã tạo điều kiện cho thơng mại thế giới phát triển một cách nhanh chóng. Việc tự
do hoá mậu dịch với biện pháp bãi bỏ hàng rào thuế quan đã giúp cho nền thơng mại
thế giới phát triển một cách ngoạn mục một sự phát triển trong cạnh tranh gay gắt,
thị trờng của các quốc gia trên thế giới đợc khai thông và mở rộng trên mọi lĩnh vực.
Nếu nh trớc kia thơng mại thế giới chỉ tập trung vào những mặt hàng truyền thống thì
nay nó còn lan ra cả dịch vụ, bất động sản...Theo nhận xét của báo Tấm gơng
(Đức)tốc độ tăng trởng thơng mại thế giới từ năm 1991 cho tới năm 1998 nhanh hơn
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
gấp đôi tốc độ tăng trởng GDP của thế giới ví dụ :Tốc độ tăng trởng GDP của thế giới
năm 1994 là 3,9% trong khi đó tốc độ tăng trởng thơng mại thế giới là 9,5%. Tơng tự
năm 1995:3,6%và 8%;năm 1996:4,1%và 7% ;năm 1997:4,1% và 9,4%. Mặc dù trong
năm 1998,bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á nhng tốc độ
tăng trởng thơng mại thế giới vẫn đạt 3,7%.
Tổ chức thơng mại thế giới - WTO và các tổ chức mậu dịch tự do khu vực nh
liên hiệp châu âu -EU, diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bình dơng - APEC, khu
vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ-NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA..đã
đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thơng mại thế giới. Trong đó tổ
chức thơng mại thế giới WTO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
xu hớng toàn cầu hoá thơng mại. Tại hội nghị cấp bộ trởng lần thứ nhất của WTO họp
ở xingapore với 128 nớc tham gia đã thông qua đợc hiệp định công nghệ thông tin
ITA bao gồm việc xoá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt hàng bán dẫn, các sản
phẩm thông tin Viễn thông và các thiết bị máy tính, phần mềm và các thiết bị khoa
học. Tiếp nối các hiệp định ban đầu của vòng đàm phán uruguay, vòng đàm phán
Singapore càng thúc đẩy hơn nữa trong quá trình tự do hoá thơng mại toàn cầu
Nh vậy toàn cầu hoá với việc ra đời của EU, NAFTA, AFTA...và đặc biệt là
nấc khác nhau: Song phơng, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Cùng với
việc ra đời diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dơng-APEC, khu vực mậu dịch
tự do Bắc Mỹ NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN/AFTA...đã chứng minh hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng củng cố và phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu .
Trong năm 1996, hội nghị cấp cao á -âu(ASEM) lần thứ nhất họp tại Băng
cốc (Thái lan) với sự tham dự của vị nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo chính phủ 10 n-
ớc châu á và các nớc trong EU nhằm xây dựng thể chế liên kết kinh tế liên lục địa á-
âu. Sự kiện này đã khép kín cạnh thứ ba của tam giác liên kết kinh tế liên lục địa trên
thế giới, mà hai cạnh trớc đã có từ trớc là diễn đàn kinh tế châu á Thái bình dơng
APEC gắn liền với các nớc châu á và châu mỹ ở ven hai bờ Thái bình dơng, và khu
vực mậu dịch xuyên Đại Tây Dong TAFTA giữa Hoa Kỳ và Bắc Mỹ với EU và Tây
Âu
Trong những năm qua, các tổ chức liên kết tiểu khu vực và khu vực tiếp tục
phát triển. ở châu Phi, cộng đồng kinh tế các nớc Tây phi (ECOWAS) nằm trong khu
vực nghèo nhất thế giới gồm 16 nớc thành viên trong đó có Nigeria, Ghana, Mali,
Senegan...đã xúc tiến từng bớc việc thiết lập liên minh hải quan vào năm 2000 và liên
minh kinh tế toàn diện vào năm 2005. Cũng tại lục địa đen, 12 nớc thành viên Cộng
đồng phát triển phía nam Châu phi -SADC đã ký nghị định th vào năm 1996 thành lập
khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm thuế quan trong thời hạn
tối đa 8 năm
Các nớc ở Nam Mỹ đang tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ
khổng lồ FTAA vào năm 2005, tạo ra một khối buôn bán tự do lớn thứ t trên thế giới
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
với 250 triệu ngời tiêu dùng và có GĐP là 800 tỷ USD. Các hàng rào thuế quan giữa
các nớc này dự định sẽ huỷ bỏ vào năm 2004
Tại châu á, trong những năm qua xu hớng hợp tác tiểu khu vực phát triển
mạnh.Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga ký kết các
hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông Bắc A hồi
tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở vùng này. Tại hội nghị
tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Năm 1995, Việt Nam chính thức trở
thành thành viên của ASEAN và đang nỗ lực tham gia thực hiện các chơng trình hợp
tác kinh tế ASEAN, đặc biệt là chơng trình khu vực mậu dịch tự do AFTA. Cùng với
việc tham gia AFTA/ASEAN Việt Nam cũng đã tham gia diễn đàn hợp tác á - Âu
(ASEM) ngay từ khi hình thành vào tháng 3/1997 với t cách là thành viên sáng lập.
Đặc biệt, năm 1997 đánh dấu một sự kiện quan trọng và có ý nghĩa lớn lao đối với
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sau một thời gian nỗ lực vận động
và chuẩn bị, Việt Nam đã đợc các nhà lãnh đạo APEC tuyên bố sẽ kết nạp làm thành
viên vào năm 1998. Đối với tổ chức thơng mại thế giới (WTO) Việt Nam cũng đã đệ
đơn xin gia nhập và trong hai năm 1997, 1998 Việt Nam đã chuẩn bị cho các vòng
đàm phán gia nhập WTO với tổ công tác và các nớc quan tâm.
Trong thời gian qua, tiếp theo việc bình thờng hoá quan hệ ngoại giao giữa
Việt nam và Mỹ, hai nớc đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để ký kết các hiệp định
kinh tế song phơng về các vấn đề về nợ , bản quyền, từng bớc bình thờng hoá quan hệ
kinh tế thơng mại. Song song với những việc trên, trong những năm qua Việt Nam
tích cực hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế nh WB, IMF... nhằm tận dụng một
cách có hiệu quả sự hợp tác của các tổ chức đó phục vụ tiến trình phát triển kinh tế và
hội nhập quốc tế của mình. Nhng có một điều là tất cả sự hợp tác, quan hệ trên đều
phải lấy các nguyên tác của WTO làm tiêu chuẩn.
3. Những cơ hội và thách thức với Việt Nam trong quá trình mở cửa và
hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối với Việt Nam là một nớc đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham
gia hội nhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với nhiều nớc trên thế giới.Vì vậy,
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta, mặt
khác cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức lớn lao.
3.1. Những lợi ích của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá
đất nớc. Việt Nam mở cửa và hội nhập vào kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt
Nam thay đổi cơ cấu kinh tế thích hợp hớng công nghiệp hoá và xuất khẩu, tạo cơ hội
để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thơng mại và dịch vụ.
3.2.1. Nghĩa vụ của Việt Nam.
+ Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trờng hàng hóa và dịch vụ thông qua việc giảm
thuế và các biện pháp phi thuế quan trong khi luật lệ, kinh nghiệm và khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, nhất là lĩnh vực dịch vụ bao gồm:
Ngân hàng, Bảo hiểm, Vận tải, Bu chính - Viễn thông, Xây dựng và T vấn.
+ Việt Nam sẽ phải có sự bảo vệ hợp lý đối với quyền tác giả của các sản phẩm
trí tuệ nh: Mẫu mã, bằng sáng chế, nhãn hiệu thơng mại, chơng trình máy tính và thu
thanh thông qua các quy định pháp lý phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
+ Việt Nam cần phải sửa đổi các qui định về đầu t nớc ngoài không phù hợp,
phải thực hiện các nghĩa vụ đối với quốc gia và giảm hoặc loại trừ những hạn chế liên
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan đến đầu t nớc ngoài nh yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, phần trăm hàng xuất khẩu
trong các dự án đầu t.
+ Việt Nam phải tiếp tục cải cách hệ thống thơng mại và kinh tế của mình phù
hợp với các qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế. Các khu vực cần phải cải cách
hơn nữa gồm hệ thống giá, chế độ xuất nhập khẩu, hệ thống thuế và tài chính, các
hoạt động thơng mại của khu vực doanh nghiệp Nhà nớc và bảo hộ quyền tác giả. Các
nghĩa vụ khác Việt Nam sẽ phải thực hiện bao gồm: Minh bạch hoá chế độ thơng mại,
áp dụng thống nhất chính sách thơng mại trên phạm vi cả nớc; và có thời gian biểu
cho quá trình cải cách kinh tế.
3.2.2. Những thách thức:
+ Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều yếu kém. Việc mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế có nhiều nội dung liên quan đến tự do hoá thơng mại và đầu t, và điều này
trong thời gian đầu sẽ gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định. Cùng với những
khía cạnh tích cực của tự do cạnh tranh, thì mặt tiêu cực cũng sẽ ảnh hởng rất lớn nếu
nh cải cách trong nớc không đợc thực hiện kịp thời và đúng lợng.
+ Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp vả lại
đang trong quá trình chuyển đổi. Vì vậy việc hoạch định một chính sách kinh tế thơng
mại sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo đợc những điều kiện hợp lý để tăng
chức tại Malta từ 23/3 - 1/4/1998, sau khi đánh giá môi trờng Viễn thông hiện nay đã
nêu bật lên các xu hớng phát triển Viễn thông là:
1.1. Xu hớng toàn cầu hoá, tự do hoá, mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn
thông ở mức quốc gia, khu vực và quốc tế.
Việc toàn cầu hoá về kinh tế đã thúc đẩy nhanh quá trình tự do hoá thơng mại
toàn cầu, làm cho giao lu kinh tế mậu dịch toàn cầu ngày càng sôi động. Vấn đề thơng
mại hoá dịch vụ đợc đặt ra trong tất cả các tổ chức thơng mại toàn cầu và khu vực nh
WTO, APEC, ASEAN... trong đó có dịch vụ Viễn thông. Các tổ chức này đều nhằm
mục đích là đến năm 2020 sẽ tiến tới việc t do hoá hoàn toàn thơng mại dịch vụ trong
khu vực và trên thế giới. Hiện nay trong hiệp định chung về thơng mại dịch vụ
(Ganeral Agreement on trade in servies - GATS) của WTO, các dịch vụ Viễn thông đ-
ợc chia làm hai loại - đó là các dịch vụ cơ bản và các dịch vụ giá trị gia tăng trong đó
các dịch vụ cơ bản đóng vai trò quan trọng hơn xét từ góc độ kinh tế, kỹ thuật cũng
nh chủ quyền an ninh quốc gia. Nói chung trong thời gian tới việc tự do hoá, mở cửa
thị trờng Viễn thông ở các quốc gia, các tổ chức khu vực đều dựa trên nguyên tắc của
WTO về dịch vụ Viễn thông trong hiệp định chung về thơng mại dịch vụ.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phân loại dịch vụ Viễn thông trong WTO/ GATS
I. Các dịch vụ Viễn thông cơ bản:
1. Các dịch vụ thoại.
2. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói.
3. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh.
4. Các dịch vụ TELEX.
5. Các dịch vụ Telegraph.
6. Các dịch vụ Facsimile.
7. Các dịch vụ cho thuê kênh riêng.
8. Các dịch vụ nhắn tin.
9. Các dịch vụ di động tế bào số/analogue.
10. Các dịch vụ thông tin vệ tinh.
thông đã thay đổi một cách căn bản nhớ kết quả của hiệp định này. 72 nớc đã đa ra
cam kết trong hiệp định chiếm tới 93% giá trị thị trờng Viễn thông thế giới. Trong
hiệp định này, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, tiến trình phát triển Viễn thông
của từng nớc, các quốc gia đều đa ra các cam kết về lộ trình hội nhập và mở cửa của
thị trờng dịch vụ Viễn thông từ nay đến năm 2020.
Đối với nhóm các nớc phát triển nh EU, Bắc Mỹ, Nhật Bản... tự do hoá và mở
cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông bắt đầu từ năm 1998. Đây là những nớc chiếm tới
75% thị trờng dịch vụ Viễn thông trên toàn thế giới do vậy quá trình tự do hoá và mở
cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông sẽ ảnh hởng rất lớn tới sự phát triển dịch vụ Viễn
thông của các nớc còn lại.
Các nớc công nghiệp mới nh Singapore, Hàn Quốc... mặc dù Viễn thông của
các nớc này không phát triển bằng các nớc công nghiệp phát triển nhng các nớc này
cũng đa ra cam kết sẽ tự do hoa và mở cửa thị trờng hoàn toàn trong một vài năm tới.
Còn đối với các nớc đang và chậm phát triển, mặc dù biết rằng tự do hoá và mở cửa
thị trờng dịch vụ Viễn thông sẽ đem đến nhiều bất lợi nhng trớc xu thế toàn cầu hoá
tất cả các lĩnh vực kinh tế đồng thời trớc sức ép của các nớc phát triển, các nớc này
cũng đã cam kết sẽ tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông từ nay đến năm
2020.
Hiện tại giá trị doanh thu từ Viễn thông quốc tế chỉ chiếm khoảng trên 10%
trong tổng số 670 tỷ USD của thị trờng Viễn thông toàn cầu. Tuy nhiên, với kết quả
đạt đợc của GBT trong WTO, với xu thế toàn cầu hoá ngày càng tăng, sự thay đổi
nhanh chóng của công nghệ và xu thế cạnh tranh ngày càng tăng, tỷ lệ trên có thể tăng
lên 15-20% vào đầu thế kỷ tới.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. Xu hớng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hớng khuyến
khích cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực t nhân trong
khai thác dịch vụ Viễn thông.
Hiện nay trên thế giới đặc biệt là ở các nớc đang phát triển, thị trờng dịch vụ
Viễn thông vẫn do một hoặc hai công ty khai thác Viễn thông duy nhất thống trị về
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phủ của nhiều nớc đã cho phép khu vực t nhân tham gia vào việc cho phép khu vực t
nhân tham gia vào hiện tại các nớc sử dụng hai phơng pháp chủ yếu sau:
Phơng pháp thứ nhất: Cho các công ty t nhân tham gia vào khai thác dịch vụ
Viễn thông, cùng cạnh tranh với các công ty nhà nớc. Tuy nhiên các dịch vụ này thờng bị
giới hạn ở các dịch vụ giá trị gia tăng và các dịch vụ bán lại, phơng pháp này đợc sử dụng
phổ biến ở các nớc công nghiệp phát triển đặc biệt là Mỹ, Anh, Canađa và Nhật Bản.
Phơng pháp thứ hai: T nhân hoá hay ở Việt Nam còn gọi là cổ phần hoá các
công ty khai thác dịch vụ Viễn thông thuộc sở hữu Nhà nớc, tất nhiên Chính phủ vẫn
nắm cổ phàn khống chế. Việc cổ phần hoá nhằm giúp Chính phủ nhận đợc nguồn vốn
cần thiết từ khu vực t nhân và tận dụng u thế của thị trờng cổ phiếu đang phát triển.
Rất nhiều nớc đang áp dụng phơng pháp này và tất nhiên ở các thị trờng Viễn thông
tiên tiến và phát triển thì tốc độ t nhân hoá càng nhanh chóng. Và các nớc ở Đông Âu
và cộng đồng các quốc gia độc lập - SNG thờng thực hiện theo phơng pháp này. Ví
dụ: ở Bungary Chính phủ bán 25% cổ phần của công ty BTC (công ty Viễn thông
Bungary). Tốc độ t nhân hoá những năm gần đây đã phát triển nhanh chóng kể cả ở
các nớc phát triển và các nớc đang phát triển. Xu thế này ngày càng tăng khi mà tự do
hoá Viễn thông đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới
Tóm lại, xu hớng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hớng khuyến khích
cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực t nhân trong khai thác dịch vụ
Viễn thông ngày càng phổ biến gần nh toàn bộ các nớc trên thế giới với mục tiêu tăng
cờng hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nớc, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ, huy động đợc nhiều nguồn vốn đầu t nhằm đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về thông tin Viễn thông của xã hội và ngời sử
dụng
Khi xem xét hai xu hớng chủ yếu về Viễn thông kể trên phải kể đến vai trò của
các công ty đa quốc gia - MNCs trong lĩnh vực khai thác dịch vụ Viễn thông. Chính
các công ty này là chất xúc tác cho quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá Viễn thông. Các
MNCs đã xây dựng một mạng lới thông tin có tính toàn cầu từ đầu này đến đầu kia,
không chia cắt, phục vụ thông tin quá "tất cả một cửa". Khi các hiệp ớc, hiệp định về
thông tiến quân vào thị trờng tin học mà cụ thể là thị trờng thiết bị mạng dữ liệu.
+ Ngày 26/6/1998, công ty điện báo điện thoại - ATT của Mỹ tuyên bố bỏ ra 4
tỉ USD doanh thu mua công ty truyền hình hữu tuyến (truyền hình cáp) lớn thứ hai của
nớc Mỹ là TCI, trở thành vụ mua bán sáp nhập quy mô lớn nhất giữa hai ngành Viễn
thông và truyền hình hữu tuyến. Vụ việc này đợc coi nh là sự bắt đầu quan trọng của
công ty điện thoại đờng dài tiến quân vào thị trờng nội hạt, cũng là bằng chứng tốt đẹp
về việc hoà nhập giữa Viễn thông và truyền hình hữu tuyến.
Ngoài ra còn có nhiều vụ thu mua, sáp nhập khác nữa giữa các hãng Viễn
thông (Chế tạo và khai thác, đờng dài và nội hạt, trong nớc và quốc tế )với các hãng
máy tính - tin học, các hãng truyền hình trong một nớc, và giữa các nớc và các khu
vực khác nhau. Sáp nhập, tổ chức lại và liên hiệp giữa các ngành Viễn thông-Tin học-
Truyền hình đã làm cho tài nguyên, t bản, kỹ thuật, thị trờng... đợc tổ chức lại, bù đắp
u thế cho nhau giữa các ngành, Ví dụ: Các công ty Viễn thông cần kỹ thuật ở các các
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công ty máy tính, còn các công ty máy tính thì cần thị trờng ở các công ty Viễn thông.
Điều này tạo điều kiện cho mạng Viễn thông phát triển nhanh chóng và trở thành cơ
sở hạ tầng thông tin quốc gia có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu về dịch vụ thông tin
và trở thành nền tảng hết sức quan trọng để "Xã hội công nghiệp" chuyển sang thời kỳ
của "Xã hội thông tin".
2. Tự do hoá dịch vụ Viễn thông - nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia
các tổ chức kinh tế quốc tế.
Năm 1995, việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN đã mở
ra một thời kỳ mới cho kinh tế đối ngoại đó là thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Đến
tháng 8 năm 1998, Việt Nam đợc kết nạp vào tổ chức kinh tế châu á - Thái Bình D-
ơng - APEC. Và trong thời gian tới Việt Nam đang nỗ lực đàm phán, thơng lợng để đ-
ợc gia nhập vào Tổ chức thơng mại thế giới WTO, và cũng đang tiến hành thơng lợng
với Hoa Kỳ để đi đến ký hiệp định thơng mại giữa hai nớc. Tuy nhiên để hội nhập đầy
đủ vào các tổ chức này thì Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà các tổ
chức kinh tế quốc tế yêu cầu trong đó có nghĩa vụ tự do hoá thơng mại dịch vụ. Trớc
dịch vụ cơ bản. Việt Nam vẫn là một đất nớc đang phát triển, dịch vụ Viễn thông còn
non trẻ và yếu kém. Tuy nhiên, một khi đã tham gia vào cuộc chơi thơng mại toàn
cầu, Việt Nam không thể không tính tới phải mở rộng lĩnh vực dịch vụ thơng mại nói
chung và lĩnh vực dịch vụ Viễn thông nói riêng. Việc mở cửa hội nhập dịch vụ Viễn
thông trớc hết là vì lợi ích phát triển của Việt Nam, tạo thuận lợi cho Viễn thông Việt
Nam phát triển phù hợp với xu thế phát triển của thế giới hiện nay.
2.2. Trong ASEAN.
Các quốc gia trên thế giới mở cửa và hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực
nh ASEAN, APEC, EU... đều lấy các nguyên tắc hoạt động của WTO làm tiêu chuẩn.
Do vậy mở cửa và hội nhập dịch vụ Viễn thông trong ASEAN cũng đều dựa trên các
nguyên tắc của GATS/WTO. Nhng các cam kết tự do hoá dịch vụ Viễn thông trong
ASEAN phải sâu và rộng hơn so với các cam kết của các nớc thành viên đã đa ra trong
GATS/WTO. Thực tế cho thấy, hết vòng I (1996-1998) về đàm phán dịch vụ Viễn
thông trong ASEAN khó có thể đạt đợc những gì cao hơn so với đàm phán trong
WTO vì các nớc ASEAN đã phải nhợng bộ đáng kể trong hiệp định Viễn thông cơ
bản (GBT) nên không thể đa ra đợc các cam kết sâu hơn nữa trong ASEAN. Đối với
Việt Nam, hiện tại cha phải là thành viên của WTO nên trong quá trình đàm phán về
tự do hoá thị trờng dịch vụ Viễn thông trong ASEAN, Chính phủ Việt Nam đã tham
gia cam kết trên cơ sở thể chế hiện hành. Do vậy trong thời gian Việt Nam cha trở
thành thành viên chính thức của WTO thì Viễn thông Việt Nam cha phải chịu sức ép
gì lớn về mở cửa thị trờng.
2.3. Trong tổ chức kinh tế châu á - Thái bình dơng (APEC).
Về tiến trình tự do hoá các hoạt động Viễn thông trong APEC đều nhằm vào
mục tiêu nh đã đặt ra trong hội nghị cấp cao không chính thức AELM lần 2 (Bogor,
1994) và AELM lần 3 (Osaka, 1995), tức là thực hiện liên tục giảm những hạn chế,
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho thơng mại dịch vụ, dành cho nhau u đãi
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia đi theo tiến trình của hiệp định đàm phán Uruquay
về thơng mại dịch vụ GATS của tổ chức thơng mại thế giới WTO.
Nam phải mở cửa và tự do hoá tất cả các loại hình dịch vụ Viễn thông bao gồm cả
dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ giá trị cơ bản, yêu cầu Việt Nam đa ra phụ lục nêu
rõ các quy định của Việt Nam về truy nhập thị trờng, đãi ngộ tối huệ quốc (Most
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Favored Nation - MFN), đãi ngộ quốc gia (National treatment - NT), và ngoài các hạn
chế đó thì Việt Nam sẽ phải mở cửa hoàn toàn cho các dịch vụ và công ty khai thác
dịch vụ của Mỹ tham gia vào thị trờng dịch vụ Viễn thông của Việt Nam. Đây là một
khó khăn đối với Việt Nam khi Việt Nam mới ở giai đoạn bắt đầu xem xét việc điều
chỉnh chính sách theo các nguyên tắc của WTO.
Các mối quan hệ thơng mại và kinh tế song phơng sẽ rất quan trọng đối với
Việt Nam, bởi Mỹ không chỉ là một thị trờng tiềm năng lớn cho các sản phẩm của
Việt Nam và một nguồn cung cấp tài chính, kỹ thuật và kỹ năng quản lý mà còn là
một trong những đối tác đàm phán quan trọng trong tiến trình gia nhập WTO của Việt
Nam. Tuy nhiên xét về thực trạng phát triển Viễn thông của Việt Nam hiện nay, thì
những yêu cầu của Mỹ về mở cửa thị trờng Viễn thông đối với Việt Nam là quá cao.
Mỹ phải chấp nhận một khoảng thời gian chuyển đổi nhất định theo quy chế mà WTO
cho phép Việt Nam khi đàm phán gia nhập tổ chức này.
3. Những thách thức và cơ hội đặt ra cho Viễn thông Việt Nam trớc xu
thế mở cửa và hội nhập quốc tế về dịch vụ Viễn thông.
3.1. Những thách thức.
Qua phân tích 3 xu hớng chủ yếu của Viễn thông trên thế giới cũng nh yêu cầu
của các tổ chức thơng mại quốc tế và khu vực, có thể thấy Viễn thông Việt Nam sẽ
gặp phải một số thách thức chủ yếu khi tiến hành tự do hoá và hội nhập quốc tế về
dịch vụ Viễn thông sau:
+ Hiện tại Việt Nam vẫn cha có Luật Bu chính - Viễn thông, hệ thống luật và
văn bản pháp lý có liên quan nói chung cũng cha đợc hoàn thiện và đồng bộ. Điều này
gây khó khăn rất lớn cho Việt Nam trong việc công khai hoá thể chế chính sách của
Viễn thông Việt Nam khi tham gia đàm phán với các tổ chức kinh tế quốc tế cũng nh
quá trình xây dựng lộ trình hội nhập về dịch vụ Viễn thông. Mặt khác với thể chế
quốc tế sẽ mang lại những cơ hội cho Viễn thông Việt Nam.
+ Việc mở cửa và hội nhập hay nói chính xác hơn là việc tham gia vào các tổ
chức quốc tế nh ASEAN, APEC, WTO... Viễn thông Việt Nam có thể tận dụng đợc
những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất trong lĩnh vực Viễn thông và vốn đầu
t nớc ngoài để xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia. Hiện tại đầu t n-
ớc ngoài trong lĩnh vực dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam chỉ đợc hoạt động dới hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), tuy nhiên mở cửa và tự do hoá thị trờng
trong đó có việc cho phép các công ty nớc ngoài đầu t vào thị trờng dịch vụ Viễn
thông dới dạng liên doanh - JV, hình thức BOT... sẽ thu hút đợc thêm nhiều vốn đầu t
để phát triển Viễn thông, đa dạng hoá các dịch vụ.
+ Viễn thông vừa là một ngành kỹ thuật thuộc cơ sở kết cấu hạ tầng, là phơng
tiện giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển. Chính vì vậy sự hội nhập Viễn thông
còn thúc đẩy sự tham gia của các ngành kinh tế khác nh tài chính, ngân hàng, thơng
mại, đầu t... và do đó gián tiếp tạo cơ hội thuận lợi cho các ngành cùng tham gia vào
quá trình hội nhập.
+ Việc tự do hoá và hội nhập dịch vụ Viễn thông đồng nghĩa với việc Viễn
thông Việt Nam sẽ nhận đợc những u đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia, tạo điều
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kiện thuận lợi cho các công ty cung cấp dịch vụ Viễn thông Việt Nam thâm nhập vào
thị trờng các nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới.
III - Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lợc tự do hoá và
mở cửa thị trờng dịch vụ viễn thông Việt Nam
1. Bản chất của tự do hoá và mở cửa thị trờng:
Toàn cầu hoá hiểu theo nghĩa rộng là sự gia tăng trong giao lu quốc tế về kinh
tế xã hội, văn hoá và chính trị trên toàn thế giới. Về kinh tế nó có nghĩa là sự di
chuyển ngày một tăng của các loại hàng hoá, dịch vụ tài chính và các yếu tố của quá
trình sản xuất. Khi các quốc gia cùng tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá thì các
quốc gia đó đang hội nhập với thế giới. Ngày nay quá trình toàn cầu hoá và khu vực
hoá trong quan hệ quốc tế không còn là xu hớng mà đã trở thành quy luật khách quan.
Xét trên góc độ tài chính, ngành này chỉ đứng sau lĩnh vực Bảo hiểm và Ngân hàng.
Chính vì vậy lĩnh vực dịch vụ Viễn thông đã trở thành đối tợng đàm phán thơng mại
rộng khắp trên toàn cầu. Tổ chức thơng mại thế giới WTO đa ra mục tiêu thực hiện thị
trờng tự do thơng mại toàn cầu về hàng hoá và dịch vụ vào năm 2020, trong đó các
hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với các sản phẩm công nghệ thông tin sẽ đợc
cắt giảm từ 6/1997 và các dịch vụ Viễn thông cơ bản đã đợc 72 quốc gia trên thế giới
cam kết mở cửa cho cạnh tranh với nớc ngoài từ 01/01/1998. APEC có kế hoạch tơng
tự nhng rút ngắn thời hạn thực hiện đối với các nớc là 10 năm (2010 đối với các nớc
phát triển và 2020 đối với các nớc đang phát triển) và cho phép mỗi nớc có một lộ
trình riêng tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế và đặc thù riêng của nớc mình để đi tới
đích cuối cùng. Hội nghị thờng niên APEC 1997 đã ra tuyên bố chung về việc u tiên
thực hiện tự do hoá 9 lĩnh vực, trong đó có dịch vụ Viễn thông, dành cho nhau u đãi
tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, thực hiện thoả thuận công nhận lẫn nhau và tăng cờng
hợp tác song phơng, đa phơng trong các dự án Viễn thông khu vực. ASEAN cùng xây
dựng tầm nhìn 2020 của mình, theo chơng trình đến năm 2020 ASEAN sẽ mang
dáng dấp của liên minh Châu Âu, tức là một thị trờng không biên giới. Chơng trình
AFTA của ASEAN đã vạch ra lộ trình giảm thuế xuất nhập khẩu đối với các thiết bị
Viễn thông xuống còn 0-5 % vào năm 2003, còn đối với các dịch vụ Viễn thông, các
nớc ASEAN đang cố gắng đạt đợc những thoả thuận mới trong thời gian tới.
Trớc xu thế tự do hoá và toàn cầu hoá dịch vụ Viễn thông diễn ra hầu hết các
quốc gia trên thế giới và đợc đa vào chơng trình hành động của tất cả các tổ chức kinh
tế quốc tế và khu vực: WTO, APEC, ASEAN ... đã đặt ra cho dịch vụ Viễn thông Việt
Nam cần có một chiến lợc phát triển phù hợp với xu hớng phát triển của Viễn thông
thế giới, đồng thời phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc
cũng nh thực trạng Viễn thông Việt Nam.
Vậy chiến lợc tự do hoá và mở cửa dịch vụ viễn thông là gì?
* Xét một cách tổng thể thì chiến lợc là tập hợp những mục tiêu chiến lợc có
tính chất dài hạn và những nhiệm vụ của một doanh nghiệp, một ngành, một lĩnh vực
nào đó với hệ thống các giải pháp, chính sách, kế hoạch hành động thực hiện đồng bộ
để đạt đợc các mục tiêu đó một cách hiệu quả nhất.
vấn đề tự do hoá và mở cửa thị trờng đối với dịch vụ Viễn thông Việt Nam.
Dới góc độ quản lý Nhà nớc, thì chiến lợc tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch
vụ Viễn thông sẽ gồm:
- Hoạch định chính sách để thực hiện chiến lợc.
- Tiến hành thực hiện các chính sách đó.
- Kiểm soát tình hình thực hiện chính sách.
25