Những rủi ro từ cạnh tranh trong thị trường Viễn thông Việt Nam - Pdf 32

LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường Viễn thông Việt Nam được đánh giá là thị trường có tốc độ phát
triển nhanh trên thế giới. Do đó, viễn thông đã trở thành một thị trường hấp dẫn với
các nhà đầu tư trong và ngoài nước, và hơn nữa khi Việt Nam chính thức gia nhập
WTO. Cũng chính vì sự hấp dẫn này mà kéo theo nhiều người muốn gia nhập thị
trường, từ đó tạo nên tính cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Thị trường viễn thông
sẽ không còn dễ chơi như thưở ban đầu mà trở nên cạnh tranh gay gắt giữa các
doanh nghiệp để tranh giành thị phần. Trong cuộc đua quyết liệt này, doanh nghiệp
viễn thông sẽ khó tránh khỏi những rủi ro do thị trường cạnh tranh mang lại. Vì vậy
quản trị rủi ro là công tác cần thiết mà các doanh nghiệp cần thực hiện tốt để phòng
ngừa những rủi ro tránh những tổn thất mà mình phải gánh chịu. Trước vấn đề này
nhóm chúng tôi chọn đề tài “ Những rủi ro từ cạnh tranh trong thị trường Viễn
thông Việt Nam”.
Mục đích nghiên cứu: trong đề tài này, chúng em sẽ nhận diện một số rủi ro
trong môi trường cạnh tranh của thị trường viễn thông và đề ra một số giải pháp
trong quản trị rủi ro.
Phạm vi nghiên cứu: Thị trường Viễn thông Việt Nam, và đặc biệt là thị
trường di động. Vì do khó khăn trong cập nhật số liệu, nên nhóm chúng tôi chỉ có
thể đưa ra những con số thống kê, tính toán trong trong năm 2008.
Phương pháp nghiên cứu: vì lý do về thời gian, nên nhóm chúng tôi chỉ nghiên
cứu trên thông tin thứ cấp.
Kết cấu đề tài:
I- Rủi ro và quản trị rủi ro
II- Thị trường Viễn thông Việt Nam
III- Những rủi ro từ môi trường cạnh tranh
IV- Giải pháp
I- RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO:
1.Rủi ro:
a- Định nghĩa:
Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn
thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ

lượng dân số thấp, sức mua kém, tỉ lệ dân số trẻ thấp,... đều có thể là nguồn gốc rủi
ro cho các hoạt động thương mại, đầu tư của doanh nghiệp. Ngược lại, một xã hội
biết khuyến khích nuôi dưỡng các giá trị sáng tạo, các cảm hứng đầu tư, chắc chắn
sẽ là lá chắn bảo vệ tốt cho các doanh nghiệp.
Thứ ba là các rủi ro đến từ nơi có môi trường thấp kém về văn hóa, tha hóa về
đạo đức... Một xã hội nơi có dân trí thấp, các chuẩn mực văn hóa thiếu, đạo đức
không được đề cao, làm sao có thể thực thi pháp luật tốt được? Một khi pháp luật
không được thực thi hiệu quả thì ngàn vạn rủi ro có thể xảy ra. Ở đó, sẽ có sự lộng
quyền của chính trị, sự lộng hành của các loại tội phạm như trộm cắp, cướp bóc,
bạo loạn, lừa đảo kinh tế ngầm, bội ước hợp đồng, hàng giả, hàng nhái, kích động
tôn giáo, sắc tộc, hận thù... Các giá trị "chân, thiện, mỹ”, như là chuẩn mực của văn
hóa, đạo đức một khi đã bị chà đạp thì làm sao kinh doanh chân chính, đầu tư bền
vững có chỗ đứng lâu dài được ? Hệ quả sẽ là các loại kinh doanh chụp giật, lừa
đảo, dối trá... sẽ thống trị.
Thứ tư là các rủi ro từ môi trường chính trị, nơi thiếu các thiết chế để bảo vệ
quyền tự do, dân chủ, quyền sở hữu tài sản của người dân nói chung, doanh nghiệp
nói riêng. Môi trường chính trị bao gồm sự ổn định về chính trị, an ninh, an toàn
cho doanh nghiệp, người dân. Một quốc gia thường xuyên thay đổi chính sách,
thường xuyên có đảo chính, chiến tranh, bạo loạn, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bãi
công. đình công, thường xuyên có sự can thiệp thiếu chuẩn mực vào thị trường,
chính sách bị các nhóm lợi ích mờ ám chi phối, phân biệt đối xử, tham ô, hối lộ
trầm trọng... đều gây nguy cơ rủi ro cho các doanh nghiệp khiến họ thiếu niềm tin
kinh doanh, mất động lực đầu tư hoặc tệ hại hơn, kinh doanh theo kiểu băng đảng
maphia, băng hoại nhà nước, gây hại cho cả nền kinh tế, xã hội.
Thứ năm là các rủi ro từ môi trường kinh tế. Một nền kinh tế khoẻ là một nền
kinh tế có sức đề kháng cao, có khả năng giải quyết khủng hoảng một cách tốt nhất
theo hướng minh bạch, chi phí thấp, tính bền vững cao. Một môi trường kinh tế, nơi
thường xuyên có khủng hoảng, lạm phát triền miên, giá cả thất thường, cung cầu bất
ổn, tỷ giá thay đổi chóng mặt, hàng hóa dịch vụ khan hiếm (thật và giả), độc quyền
không kiểm soát được, cạnh tranh công bằng chỉ nằm trên giấy... cùng với việc

doanh nghiệp, sự yếu kém của cán bộ quản lý và nhân viên, thiếu đạo đức và văn
hóa kinh doanh, thiếu động cơ làm việc, thiếu đoàn kết nội bộ ... Tôn Tử nói: biết
mình biết người, trăm trận trăm thắng". Ba rủi ro có thể đến: thứ nhất là chỉ biết
mình mà không biết người, thứ hai là chỉ biết người mà không biết mình và cuối
cùng, không biết cả mình lẫn người. Để "biết mình", điều quan trọng nhất là thường
xuyên tự kiểm tra và kiểm tra đối chứng hệ thống quản trị doanh nghiệp của mình
có hiệu quả không, có minh bạch không. Quản trị doanh nghiệp là toàn bộ các điều
lệ, quy tắc, quy chế, thông lệ quản lý và điều hành doanh nghiệp. Quản trị doanh
nghiệp tốt sẽ giúp các chiến lược, quyết định của doanh nghiệp được ban hành sáng
suốt nhất, thực thi hiệu quả nhất, loại trừ được rủi ro tốt nhất. Quản trị doanh nghiệp
tốt bảo đảm phát huy hết nguồn lực (nhân lực/ vật lực) trong doanh nghiệp đồng
thời sớm phát hiện được "bệnh" của chính mình.
Nhận dạng phân loại rủi ro của doanh nghiệp như trên đây cũng chỉ là tương
đối. Thực tế có sự ảnh hưởng dây chuyền giữa các nguyên nhân gây rủi ro. Và như
lời người xưa nói “Có chí làm quan, có gan làm giàu”. Gan ở đây không phải là liều
lĩnh, liều mạng mà là gan biết "sống chung" với rủi ro, biết chấp nhận, biết phòng
tránh và hạn chế tác hại của nó có hiệu quả.
2.Quản trị rủi ro:
a- Định nghĩa:
Quản lý rủi ro là một quá trình xem xét đánh giá toàn diện các hoạt động của
doanh nghiệp để nhận biết những nguy cơ tiềm ẩn có thể tác động xấu đến các mặt
hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp ứng phó, phòng
ngừa phù hợp tương ứng với từng nguy cơ. Chúng ta cũng có thể hiểu quản lý rủi ro
là một quá trình được tổ chức một cách chính thức và được thực hiện liên tục để xác
định (identify), kiểm soát (control) và báo cáo (report) các rủi ro có thể ảnh hưởng
đến việc đạt được những mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Quá trình quản trị rủi ro
b- Yêu cầu đối với hoạt động quản lý rủi ro:
Để đảm bảo hoạt động Quản lý rủi ro thực hiện được mục tiêu đã định, việc tổ
chức thực hiện phải đảm bảo các yêu cầu sau:

họat động đào tạo và nâng cao nhận thức về rủi ro; · Đặc biệt là việc thực thi, tuân
thủ chính sách quản lý rủi ro. Tại nhiều doanh nghiệp, việc thực hiện các biện pháp
phòng ngừa rủi ro được đưa vào hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng thực hiện
công việc của nhân viên (KPIs).
d- Quy trình quản lý rủi ro:
Về cơ bản, quy trình quản lý rủi ro thường bao gồm các bước công việc cơ bản
như: xác nhận mục tiêu của doanh nghiệp, xác định rủi ro, mô tả và phân loại rủi ro,
đánh giá và xếp hạng rủi ro, xây dựng kế hoạch ứng phó, lập báo cáo cập nhật tình
hình thực thi, giám sát quá trình thực hiện, rà soát và cải tiến quy trình quản lý rủi
ro. Chi tiết về một số bước chính trong quy trình quản lý rủi ro như sau:
*Xác nhận mục tiêu của doanh nghiệp
Hoạt động quản lý rủi ro được tổ chức và triển khai nhằm hướng tới
việc đảm bảo thực hiện thành công các mục tiêu của doanh nghiệp. Vì vậy, khi bắt
đầu quá trình quản lý rủi ro, công việc đầu tiên Ban lãnh đạo doanh nghiệp cần thực
hiện là xác nhận các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đây sẽ là cơ sở đảm bảo
hoạt động quản lý rủi ro được tổ chức đúng hướng.
*Xác định rủi ro
Có rất nhiều phương thức để xác định rủi ro. Mỗi phương thức đều có
ưu và nhược điểm riêng. Tuy nhiên, thông thường người ta sử dụng các phương
thức sau để xác định rủi ro: · Tổ chức Hội thảo đánh giá rủi ro; · Tổ chức họp "Tấn
công trí não"; · Thông qua Phiếu điều tra; · Thông qua hoạt động Kiểm toán và
kiểm tra; · Dựa trên mức chuẩn của ngành; · Thông qua Phân tích các tình huống…
Trên thực tế, phương thức xác định rủi ro được sử dụng nhiều nhất là tổ chức Hội
thảo đánh giá rủi ro. Tham dự Hội thảo bao gồm Ban Giám đốc và lãnh đạo của tất
cả các phòng ban trong doanh nghiệp, Các thành viên tại hội thảo sẽ cùng trao đổi
để đưa ra một danh sách các rủi ro doanh nghiệp cần lưu tâm. Trong nhiều trường
hợp, kết quả của quá trình xác định rủi ro là một danh sách dài các rủi ro tiềm ẩn.
Tuy nhiên, điều này cũng không đáng phải quá lo lắng vì với việc thực hiện các
bước tiếp theo của quy trình quản lý rủi ro sẽ giúp nhận diện rõ ràng những rủi ro
nào là mối nguy cơ thật sự lớn đối với doanh nghiệp.

* Xây dựng kế hoạch ứng phó
Xây dựng kế hoạch ứng phó là giai đoạn quan trọng trong quá trình
quản lý rủi ro. Tại giai đoạn này doanh nghiệp phải đưa ra các biện pháp phòng
ngừa, kiểm soát cụ thể cần thực hiện để phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại nếu rủi
ro xảy ra. Điều quan trọng ở đây là doanh nghiệp đưa ra được các biện pháp khả thi,
hữu hiệu và ít tốn kém. Có 3 nội dung phải được xác định cụ thể đối với từng rủi ro
khi xây dựng kế hoạch ứng phó, đó là: 1. Những biện pháp phải thực thi để phòng
chống, ngăn ngừa rủi ro xảy ra; 2. Thời hạn cụ thể phải thực hiện xong các biện
pháp đã đưa ra; và 3. Ai là sẽ người chịu trách nhiệm chính quản lý rủi ro đó.
* Tổ chức giám sát việc thực hiện các biện pháp
Trong quá trình thực thi các biện pháp ứng phó, doanh nghiệp cần xây
dựng hệ thống báo cáo thường xuyên nhằm đảm bảo kiểm soát chặt chẽ quá trình
thực hiện. Doanh nghiệp cũng cần đảm bảo mọi thiếu sót trong việc thực hiện các
biện pháp kiểm soát rủi ro phải được thông tin kịp thời đến cấp quản lý có trách
nhiệm. Thường xuyên tổ chức kiểm tra và đánh giá việc tuân thủ chính sách quản lý
rủi ro và các tiêu chuẩn liên quan. Môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động là
không ngừng vận động, do vậy doanh nghiệp cần quan tâm xem xét điều chỉnh các
biện pháp đang thực hiện cho phù hợp với những chuyển biến của môi trường. Định
kỳ, doanh nghiệp cần xem xét lại mức độ phù hợp của danh sách các rủi ro cùng với
biện pháp ứng phó tương ứng. Tóm lại, để thiết lập được một hệ thống quản lý rủi
ro hoạt động hiệu quả, bên cạnh việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro của doanh
nghiệp, bản thân lãnh đạo doanh nghiệp phải cam kết ủng hộ việc triển khai, đảm
bảo không tồn tại khái niệm "vùng cấm" trong doanh nghiệp, những khu vực không
được tiếp cận đánh giá, kiểm soát.
Đồng thời, lãnh đạo doanh nghiệp cũng phải thật sự coi trọng công tác thông tin,
tuyên truyền và đào tạo để xây dựng văn hóa quản lý rủi ro đến mọi đối tượng trong
doanh nghiệp. Đã đến lúc các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam cần nhìn nhận
một cách nghiêm túc về vai trò của hoạt động quản lý rủi ro, cân nhắc thiết lập và
duy trì một hệ thống quản lý rủi ro trong doanh nghiệp của mình. Kinh nghiệm thực
tế cho thấy, một khi rủi ro được dự báo trước, doanh nghiệp hoàn toàn có thể xây

đang dẫn đẩu thị trường với 29% thị phần,x ếp trên Mobifone và Vinafone với thị
phần lần lượt là 28% và 25%. Cả Vinafone và Mobifone được sở hữu bởi VNPT.
Cùng với nhau, 3 nhà cung cấp dịch vụ di động GSM thống trị 82% thị trường tính
đến cuối 2008. Số lượng thuê bao CDMA đạt đến 6 triệu tính đến cuối năm 2007,
vượt lên hẳn so với mức 2 triệu cuối năm 2006. .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status