DẠY HỌC THEO DỰ ÁN - Pdf 23

TRƯỜNG CĐSP ĐĂKLĂK
******
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
TRONG VIỆC DẠY HỌC PHẦN
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
N gười thực hiện : Trịnh Đức Long
Tổ Ngữ Văn - Khoa Xã hội & Nhân văn
NĂM HỌC 2010-
2011
A . PHẦN MỞ ĐẦU

I- Mục đích lý do chọn đề tài:
1. Xuất phát từ những chủ trương lớn của Đảng và chính phủ về công tác giáo dục: Nghị quyết TW
II khoá VIII, luật giáo dục, đặc biệt tinh thần chỉ thị 15/1999/CT của Bộ Giáo dục & Đào tạo nhấn
mạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong các trường sư phạm. Chỉ thị nhấn mạnh:
Một mặt các trương sư phạm phải chủ động tham gia tích cực về việc đổi mới PPDH ở phổ thông,
mặt khác bản thân trường sư phạm phải tự đổi mới về phương pháp để có đủ sức, đủ tầm trở thành
các trung tâm phương pháp hiện đại có ảnh hưởng tích cực đến trường phổ thông.
2. Xuất phát từ yêu cấu đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải tăng cường việc tự học, tự
rèn để hoàn thiện kiến thức. Do vậy đối mới phương pháp dạy học, tăng cường trang bị cách học,
phát huy tính tích cực chủ động trong học tập của sinh viên là điền cần thiết. Việc dạy học theo dự án
sẽ góp phần giải quyết tốt bài toán nhận thức đó.
3. Xuất phát từ nhu cầu nhận thức của bản thân: sau đợt tập huấn Module dạy học tích cực tại Ninh
Thuận (tháng 10 năm 2010), bản thân muốn vận dụng những kiến thức tiếp thu qua đợt tập huấn vào
thực tiến hoạt động dạy học tại trường CĐSP ĐăkLăk.
II- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu là ứng dụng phương pháp dạy học theo dự án
trong việc dạy học phần Cơ sở văn hóa Việt Nam.
III- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào 2 nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sâu đây:

1.3. Khái niệm Phương pháp dạy học rất phức hợp với nhiều bình diện và phương diện
khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xem xét PPDH ở bình diện trung
gian. Tập trung nghiên cứu Phương pháp dạy học theo dự án ở góc độ là một cách thức, một
con đường để đạt được mục tiêu dạy học dưới quan điểm lấy người học làm trung tâm.
2. Sự cần thiết phải đổi mới các PPDH ở đại học
2.1. Đổi mới Phương pháp dạy học là vấn đề đang được toàn Đảng toàn dân hết sức quan
tâm trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới Phương pháp dạy học không phải là sự thay thế các
phương pháp cũ bằng hàng loạt các phương pháp mới. Về mặt bản chất, đổi mới Phương
pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện dạy học,
các hình thức tổ chức triển khai vận dụng phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm
của phương pháp truyền thống và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát
huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học; giúp người học sớm đạt được
năng lực mong muốn. Đổi mới Phương pháp dạy học nói chung là một vấn đề mang tính tất
yếu, là một hiện tượng xã hội phát triển hợp qui luật.
2.2. Dân tộc ta đang ra biển lớn của sự hội nhập toàn cầu, bối cảnh quốc tế và trong nước
có nhiều thay đổi (sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hóa mạnh
mẽ, việc thực hiện đường lối đổi mới và sự chuyển dịch mạnh mẽ của về cơ cấu kinh tế của
đất nước thời kì hội nhập). Một quốc gia dù chưa hoặc đang phát triển, nhưng nhờ hội nhập
toàn cầu, nếu biết tận dụng cơ hội, cũng có thể sử dụng được một phần thành tựu đó cho mục
đích phát triển của quốc gia mình. Vì vậy, bên cạnh việc học tập, kế thừa thành quả khoa học
của nhân loại, chúng ta cần đi trước đón đầu, cần phải đổi mới tư duy, phương pháp làm việc,
học tập. Sự cần thiết đổi mới giáo dục đã được ghi trong nghị quyết 40/2000/ QH10 về đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông và thể hiện trong chỉ thị 14/2001/CT-TTG ngày
11/6/2001 của Thủ tướng chính phủ về thực hiện nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội.
2.3. Thế giới đã chuyển sang thời kì kinh tế tri thức, cho nên đầu tư vào giáo dục sẽ là đầu
tư hiệu quả nhất cho sự hưng thịnh của mối quốc gia. Cũng vì lí do này mà nhu cầu học tập
của người dân ngày càng nhiều, trình độ dân trí ngày càng cao, mô hình xã hội học tập đang
hình thành và phát triển. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra khả năng và điều
kiện thuận lợi cho việc sử dụng phương tiện công nghệ thông tin vào quá trình dạy học. Việc
sử dụng có tính sư phạm những thành quả của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi hiệu quả

Phương pháp dạy học theo dự án (Project based learning) ban đầu nó chỉ được áp dụng khi
dạy môn kĩ thuật ở các trường đại học và cao đẳng. Dần dần nó được sử dụng rộng rãi trong
các môn học khác và trở nên phổ biến, nhất là các nước phát triển.
2.2. Bản chất dạy học theo dự án
- Dạy học theo dự án là một mô hình dạy học lấy HS làm trung tâm, giúp phát triển kiến
thức và các kĩ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích HS
tìm tòi, hiện thực hóa những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản
phẩm của chính mình. Dạy học theo dự án được hiểu là một PP hay một hình thức dạy học,
trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và
thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn
bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm
tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
- Chương trình dạy học theo dự án được xây dựng dựa trên những tình huồng, câu hỏi định
hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh
thực tế. Bài học thiết kế theo dự án chứa đựng nhiều kĩ thuật dạy học khác nhau, có thể lôi
cuốn được mọi đối tượng HS, không phụ thuộc vào cách học của họ. Thông thường HS sẽ
được làm việc với các chuyên gia và những thành viên trong cộng đồng để giải quyết vấn đề,
hiểu sâu nội dung hơn. Các phương tiện kĩ thuật cũng được sử dụng để hỗ trợ việc học.
Trong quá trình thực hiện dự án có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp HS
tạo ra những sản phẩm có chất lượng.
- Hình thức làm việc chủ yếu trong học theo dự án là theo nhóm, mỗi người học cộng tác
với các thành viên khác trong nhóm trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết
4
những vấn đề và cuối cùng trình bày công việc mình đã làm trước nhóm. Bước cuối cùng có
thể là một buổi thuyết trình có sử dụng các phương tiện nghe nhìn (Power Point), một ấn
phẩm báo chí, một trang Web hoặc một sản phẩm được tạo ra.
III. Đặc điểm của dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án có những đặc điểm cơ bản sau:
1. Tính thực tiễn:
Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn cuộc sống, kết quả dự án phải có ý nghĩa thực tiễn xã

điều họ đang học.
IV. Phân loại dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Dưới đây là một số
cách phân loại:
1. Phân loại theo chuyên môn
+ Dự án trong môn học: Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.
+ Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau.
+ Dự án ngoài chuyên môn: dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học.
2. Phân loại theo sự tham gia của người học
Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân. Dự án dành cho nhóm HS là hình thức DH chủ yếu.
Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho
một lớp học.
5
3. Phân loại theo quĩ thời gian
+ Dự án nhỏ: Thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 – 6 giờ học.
+ Dự án trung bình: Dự án trong một hoặc một số ngày (ngày dự án) nhưng giới hạn là
một tuần hoặc 40 giờ học.
+ Dự án lớn: Thực hiện với quĩ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (40 giờ học), có thể kéo
dài nhiều tuần (tuần dự án).
4. Phân loại theo nhiệm vụ
+ Dự án tìm hiểu: Là dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
+ Dự án nghiên cứu: Nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, các quá trình.
+ Dự án kiến tạo: Trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế
hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu
diễn, sáng tác.
Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Dự án có tính tổng hợp là dự án kết
hợp nhiều hoạt động khác nhau. Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng
dự án theo đặc thù riêng.
BẢNG SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI DỰ ÁN DẠY HỌC
IV. Xác định vai trò nhiệm vụ của giáo viên và học sinh trong dạy học theo dự án

NHIỆM VỤ
Trong
môn học
Liên môn
Ngoài
môn học
Dự án
cá nhân
Dự án
nhóm
Dự án
toàn lớp
Dự án
Trường
Dự án
nhỏ
Dự án
trung bình
Dự án lớn
Dự án
tìm hiểu
Dự án
nghiên cứu
Dự án
kiến tạo
2.1. HS đóng vai trò là những “chuyên gia” thuộc các ngành nghề khác nhau trong xã hội
để có thể tham gia ngày càng tích cực vào việc thực hiện mục đích học tập. Trong một dự án
học tập, HS không chỉ tham gia vào quá trình quản lí một phần mà còn quản lí tổng thể dự
án. Tức là, trong quá trình học tập, HS được tham gia quyết định và tự quyết định các giai
đoạn của quá trình dạy học, đặc biệt là trong việc xây dựng kế hoạch và thực hiện dự án.

Về cơ bản, khâu lập kế hoạch dự án bao gồm các bước:
• Xác định mục tiêu học tập cụ thể bằng cách sử dụng các chuẩn nội dung và những
kĩ năng bậc cao mong muốn.
• Thiết kế bộ câu hỏi khung.
• Lập kế hoạch đánh giá.
• Thiết kế các hoạt động.
3. Tiêu chuẩn 3. Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các
chuẩn
Những dự án tốt được phát triển dựa trên những nội dung cốt lõi của chương trình đáp ứng
các chuẩn môn học. Dự án có các mục tiêu rõ ràng gắn với các chuẩn và tập trung vào những
hiểu biết của HS sau quá trình học. Từ việc định hướng vào mục tiêu, GV sẽ lựa chọn hình
thức dạy học phù hợp, lập kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học. Kết quả
của dự án được thể hiện kết tinh trong sản phẩm và quá trình thực hiện nhiệm vụ, ví dụ phần
7
thuyết trình đầy thuyết phục hay ấn phẩm thông tin thể hiện sự lĩnh hội các chuẩn nội dung
và mục tiêu dạy học.
+ Dự án được định hướng theo Bộ câu hỏi khung chương trình môn học: Câu hỏi khung
chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng tâm. HS được
giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính
liên môn. HS sẽ buộc phải tư duy sâu hơn về các vấn đề về nội dung của môn học theo các
chuẩn và mục tiêu.
Có ba dạng câu hỏi khung chương trình: Câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội
dung. Câu hỏi khái quát là các câu hỏi rộng, có tính mở, đề cập đến những ý tưởng lớn và các
khái niệm xuyên suốt. Câu hỏi loại này thường mang tính liên môn, giúp HS hiểu được mối
quan hệ giữa các môn học. Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự án, hỗ trợ việc tìm
kiếm lời giải cho câu hỏi khái quát. Các câu hỏi bài học thể hiện mức độ hiểu những khái
niệm cốt lõi về dự án của HS. Các câu hỏi nội dung thường mang tính thực tiễn cao, bám sát
các chuẩn và mục tiêu đề ra.
4. Tiêu chuẩn 4. Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên
Ngay từ khi triển khai dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ và phải luôn được

2.2. Trong giai đoạn này, để thuận lợi khi xây dựng ý tưởng mới xung quanh chủ đề đã lựa
chọn cũng có thể sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H. Trong các câu hỏi này, câu hỏi Tại sao
và Như thế nào là quan trọng nhất.
8
Hoạt động lập kế hoạch nhiệm vụ học tập nhằm giúp cho các thành viên trong nhóm biết
được ai sẽ làm nhiệm vụ gì và thời hạn hoàn thành. Đây là hoạt động hợp tác giữa các thành
viên, đòi hỏi mỗi thành viên phải ý thức phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau để hoàn thành
dự án. Việc phân công nhiệm vụ cho các thành viên có thể mô tả chi tiết qua bảng sau:
Tên thành viên Nhiệm vụ Thời hạn hoàn thành
3. Bước 3: Thực hiện dự án
3.1.Trong giai đoạn này, dự án được định hình. Người học học bằng cách nghiên cứu, biến
đổi hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kết quả chung. Họ thu thập dữ liệu,
tiến hành các thí nghiệm, gặp gỡ các nhân vật cần thiết, phân tích, so sánh, cân, đo, tính toán,
viết, vẽ, tranh luận Máy tính cung cấp dữ liệu cập nhật về một số lớn các thông tin và các vấn
đề thực tế, tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các thành viên của cùng lớp học hoặc với các lớp
học khác. Tổng hợp những đóng góp là một hoạt động cần thiết của việc thực hiện dự án. Hoạt
động này thường thể hiện ở hai mặt: việc giới thiệu cho toàn lớp những đóng góp của nhóm
nhỏ, đồng thời là dịp để thành viên này hay thành viên khác điều chỉnh bởi chính họ để có sản
phẩm của tập thể, của cả lớp. Những đóng góp khác nhau sẽ được giới thiệu và mỗi đóng góp
nhằm theo đuổi một câu hỏi để mang đến những sản phẩm chung.
3.2. Giáo viên tạo thuận lợi cho sự trao đổi thường xuyên và cởi mở giữa các thành viên,
tạo sự tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn bên cạnh sự chịu trách nhiệm về những
nhiệm vụ, mời các nhóm thường xuyên đánh giá sự tiến triển của công việc và tận dụng dịp
này để động viên, kích thích, và chỉnh sửa để nhằm đến đích. Những chiến lược người học sử
dụng cần phải trở thành đối tượng của sự quan sát liên tục của giáo viên. Tuy nhiên, tác động
của giáo viên cần mang đến một không khí cởi mở. Những câu hỏi về các hoạt động của
nhóm, về sự chịu trách nhiệm, về phương pháp nghiên cứu, về sự phân biệt giữa cái đúng và
cái sai, sẽ dẫn đến những đề nghị hấp dẫn đối với các dự án tương lai.
3.3. Khi thực hiện dự án, các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho
nhóm và cá nhân, HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành.

hiện các dự án tiếp theo khác.
5.2. Có những phương pháp đánh giá khác nhau như: trao đổi bằng thư, đánh giá toàn lớp,
đánh giá đồng đẳng, tự đánh giá, học sinh nêu câu hỏi, đánh giá các nhóm…
*Chú ý: Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối. Trong thực tế
chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau. Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện
trong tất cả các giai đoạn của dự án. Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu
trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án. Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả
chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án).
10
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH HỌC THEO DỰ ÁN
BƯỚC 1. Quyết định chủ đề dự án
Giáo viên tạo điều kiện để học sinh đề xuất chủ đề,
xác định mục tiêu dự án.
BƯỚC 2. Xây dựng kế hoạch
Học sinh lập kế hoạch làm việc, phân công lao động.
BỨỚC 3. Thực hiện dự án
Học sinh làm việc nhóm và cá nhân theo kế hoạch.
Kết hợp lý thuyết và thực hành, tạo ra sản phẩm.
BƯỚC 4. Giới thiệu sản phẩm dự án
Học sinh thu thập sản phẩm, giới thiệu, công bố sản phẩm
dự án.
BƯỚC 5. Đánh giá
Giáo viên và học sinh đánh giá kết quả và quá trình. Rút ra
kinh nghiệm.
VII. Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học theo dự án.
1. Ưu điểm
Dạy học theo dự án mang lại rất nhiều lợi ích cho cả GV và HS. Ngày càng nhiều các
nghiên cứu lí luận ủng hộ cho việc áp dụng phương pháp dạy học theo dự án trong trường
học để khuyến khích HS, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kĩ năng học tập hợp tác
và nâng cao hiệu quả học tập.

có thể sẽ gặp khó khăn khi chủ động định hướng quá trình học tập.
  
11
Chương II. Ứng dụng phương pháp dạy học theo dự án
khi dạy học phần Cơ sở văn hóa Việt Nam.
I. Nhận diện các đơn vị kiến thức trong học phần cơ sở văn hóa Việt Nam có thể thực hiện
phương pháp dạy học theo dự án.
Học phần cơ sở Văn hóa Việt Nam có thể triển khai dạy học theo dự án ở nhiểu cấp độ: Bài học,
chương hoặc toàn bộ học phần
Chương I: Văn hóa và Văn hóa Việt Nam
1. Văn hóa là gì?
+ Khái niệm: Văn hóa và một số các khái niệm hữu quan.
+ Phân biệt sự giống và khác nhau giữa các khái niệm
+ Đặc trưng của văn hóa: Tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử.
+ Chức năng của văn hóa: Tổ chức điều chỉnh xã hội, giao tiếp, giáo dục
2. Văn hóa Việt Nam
+ Không gian và thời gian văn hóa Việt Nam.
+ Tiến trình văn hóa Việt Nam:
- Lớp Văn hóa bản địa: Văn hóa tiền sử, văn hóa Văn Lang - Âu Lạc
- Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực: Văn hóa Bắc thuộc, Đại Việt.
- Lớp Văn hóa giao lưu với phương Tây: Văn hóa Đại Nam, Văn hóa hiện đại
Chương II. Các thành tố văn hóa Việt Nam
1. Văn hoá nhận thức
Tìm hiểu hệ thống triết lý của phương Đông và Việt Nam về:
+ Quan niệm về bản chất cấu trúc và vận hành của vũ trụ.
+ Quan niệm về bản chất thời gian vũ trụ
+ Quan niệm về bản chất con người thiên nhiên
+ Quan niệm về bản chất con người xã hội
2. Văn hoá tổ chức cộng đồng
Tìm hiểu Văn hoá tổ chức đời sống tập thể và đời sống cá nhân

hóa dân gian của dân tộc Ê Đê”
Giáo viên có thể sử dụng kỹ thuật công não để phát huy khả năng tư duy của sinh viên.
Đây là kỹ thuật dạy học tích cực giúp cho SV trong một thời gian ngắn có thể nảy sinh nhiều
ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề cần tìm hiểu. Khi công não GV cần chú ý một số nguyên
tắc sau:
- Không nhận định đánh giá trong quá trình SV thu thập, đề xuất ý tưởng
- Khuyến khích số lượng các ý tưởng
- Kuyến khích năng lực liên tưởng, tưởng tượng của sinh viên
GV hướng dẫn SV thảo luận nhận diện những vấn đề có liên quan đến văn hóa dân gian Ê
đê, phát hiện liệt kê vấn đề dưới dạng sơ đồ nhện như sau:
Sau khi thực hiện kỹ thuật công não từ sơ đồ nhện, SV đã phát hiện các vấn đề (có thể
chính xác hoặc chưa chính xác lắm), bước tiếp theo GV định hướng SV lập sơ đồ tư duy.
Đây chính là bước phân tích, ghép nối, tổng hợp các ý tưởng để đảm bảo nguyên tắc logic
nhận thức vấn đề. Khi xây dựng sơ đồ tư duy cần chú ý những yêu cầu sau:
- Để các ý tưởng phát triển tự do
- Tôn trọng ý kiến của người khác, không phê phán
- Kết hợp các ý tưởng
- Đặt câu hỏi để phát triển hoặc gộp các ý tưởng trùng lặp
- Cử thành viên ghi lại ý tưởng
Gv định hướng nhóm các vấn đề cần tìm hiểu theo loại hình đảm bảo tính hệ thống. Đây
chính là các tiểu chủ đề cần triển khai tìm hiểu nghiên cứu. Có thể sử dụng sơ đồ tư duy (sơ
đồ Graph) để xây dựng các tiểu chủ đề nghiên cứu.
13
1.3. Xác định mục tiêu cần đạt của dự án:
a. Về kiến thức:
- Hiểu biết, phân tích những nét đặc sắc về Văn hóa dân gian của dân tộc Ê Đê
- Nhận diện thực trạng văn hóa dân gian trong đời sống sinh hoạt của đồng bào Ê đê ở
ĐăkLăk.
- Đề xuất những giâi pháp để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân gian của đồng
bào Ê Đê ở ĐăkLăk.

ĐĂM SAN
Sưu tầm tư liệu: chủ
đề phong tục, tín
ngưỡng
Sách vở, Internet,
máy ảnh, máy ghi âm
4 ngày Tư liệu hình ảnh,
phim, băng ghi
âm
14
THÁC ĐỔ
Sưu tầm tư liệu: chủ
đề kiến trúc, điêu
khắc
Sách vở, Internet,
máy ảnh, máy ghi âm
4 ngày Tư liệu hình ảnh,
phim, băng ghi
âm
CỒNG CHIÊNG
Sưu tầm tư liệu: chủ
đề âm nhạc, lễ hội
Sách vở, Internet,
máy ảnh, máy ghi âm
4 ngày Tư liệu hình ảnh,
phim, băng ghi
âm
BA ZAN
Chuẩn bị cơ sở vật
chất

vĩnh cửu.
b. Phương pháp triển khai:
Trong quá trình triển khai dự án, GV hướng dẫn SV sử dụng một cách linh hoạt các
phương pháp học tích cực
+ Tham khảo đọc tài liệu thông qua các nguồn: sách vở,báo chí, truyền hình, mạng
Internet
+ Phỏng vấn (Kỹ thuật lắng nghe phản hồi tích cực)
+ Quan sát tương tác
+ Thảo luận nhóm (Kỹ thuật mảnh ghép, khăn trải bàn)
+ So sánh đối chiếu, Phân tích tổng hợp kết quả
3. Bước 3. Thực hiện triển khai dự án
3.1. Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện trang thiết bị phục vụ dự án
a. Chuẩn bị hồ sơ
15
GV hướng dẫn các nhóm dự án thảo luận và thống nhất soản thảo một số biểu bảng, phiếu
khảo sát điều tra phỏng vấn để thu thập dữ liệu. Các thông tin trong phiếu điều tra, bảng biểu phải
đầy đủ để có được nguồn tư liệu phong phú. Có thể thiết kế các loại phiếu sau:
+ Phiếu tìm hiểu về các chủ đề văn hóa dân gian Ê đê:
(Thu thập từ các nguồn tư liệu ( sách vở, phát thanh truyền hình, Internet, tham quan điền dã )
Tên chủ đề Nguồn gốc
Mô tả (Đặc điểm,
tính chất,
tiến trình…)
Ý nghĩa
Âm nhạc
Đàn T.rưng
Đinh Năm
K’lôngput
Tín ngưỡng Đa thần
Phong tục

* Nguyên nhân của những hạn chế trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân gian
Do thị hiếu văn hóa người dân không thích những loại hình văn hóa ấy
Do sự tác động của lối sống, văn hóa hiện đại
Do sự xuất hiện của nhiều kênh thông tin khác hấp dẫn hơn (Truyền hình, Internet, game )
Do hình thức tuyên truyền giáo dục không hiệu quả
Do cơ chế, chính sách chưa hợp lý, thiếu đồng bộ
* Theo bạn nên có những giải pháp gì để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân gian đạt hiệu
quả nhất? ( Đối với cá nhân, gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội)
16
b. Chuẩn bị các thiết bị hỗ trợ khi thu thập dữ liệu: Máy vi tính, mạng Internet, máy ảnh, máy
ghi âm, đèn chiếu.
3.2. Các nhóm tiến hành quan sát điều tra nghiên cứu thu thập dữ liệu theo các tiểu chủ đề
đã được xác định trong kế hoạch triển khai dự án.
a. Nghiên cứu tìm hiểu những nét đặc sắc về văn hóa dân gian E đê:
Dựa vào những kiến thức đã học về cơ sở văn hóa Việt Nam, các thành viên trong nhóm
theo sự phân công sử dụng các phương tiện (Phiếu điểu tra, phỏng vấn, Internet, tư liệu, máy
ảnh, ghi âm…) để tìm hiểu những giá trị đặc sắc của văn hóa dân gian Êđê. Có thể xem đây
là những môđun kiến thức văn hóa, giữa chúng tuy có tính độc lập nhưng vẫn có mối quan hệ
ảnh hưởng lẫn nhau. Đối với văn hóa dân gian Ê đê cần chú ý những điểm trội riêng biệt so
với văn hóa dân gian Việt Nam nói chung qua các bình diện sau:
- Giá trị âm nhạc dân gian Ê đê: Tìm hiểu một số nhạc cụ dân gian Ê Đê (Đàn T’rưng,
Đinh Năm, K’lôngput) trên các bình diện: Mô tả đặc điểm, môi trường diễn xướng, ý nghĩa)
- Đặc điểm tính ngưỡng dân gian Eđê: Tìm hiểu bản chất tín ngưỡng đa thần
- Đặc điểm Phong tục tập quán dân gian Ê đê:
+ Hôn lễ: Tìm hiểu tập tuc nối dây (Chế độ mẫu hệ)
+ Tang lễ: Tìm hiểu tập tục bỏ mả
+ Trang phục: Tìm hiểu trang phục của người Êđê gắn liền với những tập tục
+ Trò chơi dân gian: tìm hiểu một số trò chơi dân gian gắn liền với tính cách tâm hồn
người Êđê
- Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc: Tìm hiểu đặc trưng, ý nghĩa của kiến trúc dân gian Êđê

tranh ảnh, video Clip và nhạc.
- Phân công thành viên xây dựng và giới thiệu sản phẩm.
4. Bước 4. Tổ chức công bố trình bày sản phẩm của dự án
Nhóm dự án cử đại diện công bố sản phẩm dự án dười dạng văn bản kết hợp với minh họa
trình chiếu Power point. Cấu trúc văn bản báo cáo gồm những nội dung sau:
- Tên dự án
- Lý do chọn nội dung dự án
- Mục tiêu dự án
- Các hoạt động triển khai dự án
- Dữ liệu bàn luận
- Kết luận
- Bài học kinh nghiệm sau khi triển khai dự án
- Đề xuất những hướng tiếp tục phát triển đự án (nếu có).
5. Bước 5. Đánh giá kết quả rút ra kinh nghiệm để thực hiện dự án tiếp theo
5.1. Đánh giá kết quả
a. Dự án đã nêu bật được những giá trị đặc sắc của văn hóa dân gian Êđê (Văn hóa vật
thể và phi vật thể)
b. Trên cơ sở thực trạng văn hóa dân gian trong đời sống sinh hoạt cộng đồng của đồng
bào Ê đê, dự án đã chia sẻ một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc.
5.2. Bài học kinh nghiệm
a. Về tổ chức kế hoạch triển khai đự án chặt chẽ, đảm bảo tiến độ công việc nghiên cứu
b. Sử dụng một số phương pháp điều tra hợp lý, thu được kết quả chính xác.
c. Thành công trong việc hợp tác giữa những thành viên trong nhóm dự án hoạt động
tích cực, nhiệt tình, đồng bộ
d. Sử dụng những phương pháp học tích cực khi thự hiện dự án.
III. Giới thiệu minh họa một góc sản phẩm của dự án học tập Cơ sở văn hóa Việt Nam:
” Tìm hiểu những nét đặc sắc về văn hóa dân gian của dân tộc Êđê ”
ĐÀN ĐING NĂM
• ĐING NĂM - Loại nhạc cụ rất quen thuộc của đồng bào

Đàn t'rưng làm bằng một số ống tre lồ ô hay nứa có kích
cỡ khác nhau. Đàn t'rưng chuyên nghiệp có khoảng 12 đến
16 ống xếp thành hàng trên giá đàn theo thứ tự đi dần lên từ
ống lớn đến ống nhỏ, từ ống dài đến ống ngắn. Đàn t'rưng
có âm vực rộng gần 3 quãng 8. Kỹ thuật diễn tấu nhạc cụ
này khá đơn giản, dùng dùi (bằng tre hoặc gỗ) gõ vào ống
để tạo ra âm thanh. Những ống to và dài phát ra âm trầm,
còn những ống nhỏ và ngắn có âm cao. Âm sắc của đàn
t'rưng hơi đục, tiếng không vang to, vang xa nhưng khá đặc
biệt. Nghe tiếng đàn t'rưng ta có cảm giác như tiếng suối róc
rách, tiếng thác đổ, tiếng xào xạc của rừng tre nứa khi gió
thổi.
Theo truyền thống, T'rưng là nhạc cụ do nam giới sử dụng,
chỉ được chơi trên nương rẫy, kiêng cữ đánh trong nhà và
trong làng. Vì người dân tộc tin rằng trong mỗi ống đàn có
một vị thần cư trú, giúp con người bảo vệ cây trồng trên rẫy.
Song hiện nay, ta thấy trên các sân khấu chuyên nghiệp,
người chơi đàn T'rưng thường là nữ giới.
CỒNG CHIÊNG
Cồng chiêng Tây Nguyên là nơi chứa đựng những giá trị kiệt tác của nhân loại. Không chỉ
có sức hấp dẫn đặc biệt ở kỹ thuật diễn tấu mà còn là biểu tượng cho cuộc sống của con
người. Cồng - Chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng
đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20
đến 50 - 60cm, loại cực đại tới 90 - 120cm.
Cồng chiêng có thể dùng đơn lẻ hoặc theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí
có nơi tới 18 - 20 chiếc. Cồng chiêng được gõ bằng dùi, đấm bằng tay. Có tộc còn áp dụng
kỹ thuật chặn tiếng bằng tay trái hoặc tạo giai điệu trên một chiếc chiêng. Mỗi bài chiêng
đều có rất nhiều bè, trong đó mỗi cá nhân dùng một cái chiêng, bài chiêng có bao nhiêu
chiêng thì có bấy nhiêu người đánh. Các nghệ sĩ cồng chiêng nhớ rõ các tiết tấu trong đầu
và kết hợp với nhau rất hài hòa. Cách phối hợp âm thanh của dàn cồng chiêng giữa các

chiêng sẽ cấp cho đứa bé những tín hiệu đầu tiên của văn hoá dân tộc. Chiêng còn sử
dụng khi làm đám cưới, làm nhà mới, làm rẫy, đưa người chết ra mồ và cả khi bỏ nhà mồ.
Chiêng đem cái thiêng vào cuộc sống, khiến con người cảm thấy được sống trong một
không gian thanh cao, tâm linh, huyền ảo. Tiếng cồng chiêng Tây Nguyên hoà nhịp âm
vang gợi cho người nghe như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy,
không gian lễ hội của người nơi đây. Không chỉ có vậy, tiếng cồng chiêng còn đem đến
đời sống của người Tây nguyên sự lãng mạn. Đó chính là nguồn gốc của những áng sử
thi, thơ ca đi vào lòng người.
Cồng chiêng cũng là một nhạc cụ rất phổ biến trong nền âm nhạc của các tộc người Việt
Nam. Nhưng với người Tây Nguyên, cồng chiêng là đại diện, là nguồn sống, là tín ngưỡng
tâm linh. Những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc, hòa quyện với tiếng suối,
tiếng gió và với tiếng lòng sẽ sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
 Xã hội Ê đê cổ đại theo tín ngưỡng đa thần:
Đứng đầu là thần Aêđiê (Trời, ông Gỗn) có toàn
quyền phán xét, sắp đặt thế giới.
 Dưới đó là các vị chư thần đảm nhiệm nhiều chức
năng khác nhau: Thần núi (Giang Chư), Thần nước
(Yang Ea), Thần lửa (Yang Púi); sau đó là các vị thần
nông, thần chữa bệnh, thần trừng phạt những kẻ có
tội
LỄ BỎ MẢ
TÌM HIỂU PHONG TỤC TÂP QUÁN DÂN GIAN Ê ĐÊ
20
LỄ CẦU THẦN LỬA
LỄ BỎ MẢ - hình thức nghi lễ tang ma nhưng gắn liền với NT
điêu khắc dân gian (tượng nhà mồ) thể hiện tính nhân văn.
Lễ bỏ mả bao gồm nhiều hoạt động như:
- Hiến tế bằng súc vật; Lễ cúng và chia của cải cho người đã
khuất; Trình diễn âm nhạc, múa, trò rối và mặt nạ; Ẩm

cho con trẻ không bị khủng hoảng về tình cảm, tâm lý mà còn bảo vệ của cải vật chất, bảo
vệ gia đình mẫu hệ.
NGHỀ DỆT THỔ CẨM TRUYỀN THỐNG
• Theo tập tục lễ cưới hỏi, cô gái tự tay
dệt các tấm chăn, áo, khố, thổ cẩm để
làm quà tặng họ hàng nhà chồng. Vì thế
nghề dệt thổ cẩm với những hoa văn
trang trí tinh xảo trở thành nét đẹp nghệ
thuật dân gian.
• Nguyên liệu dệt của người Êđê là cây
bông. Người ta tách hạt, bật cho bông tơi
xốp rồi se lại thành những con bông, từ
con bông lại kéo thành sợi thô ( chưa qua
quy trình nhuộm)
(Dệt thổ cẩm tại Buôn A Kô thôn)
• Trang phục Êđê truyền thống có 5 màu cơ bản:đỏ, vàng, xanh, đen và trắng, đều
từ nguyên liệu của các loại cây củ trong rừng.
21
• Khung dệt của người Eđê là kiểu khung dệt Indonesien, nói một cách đơn giản, là
về hình thức dệt vải của người Eđê không khác gì việc đan lát (các nhà dân tộc học
gọi đây là kỹ thuật đan luồn sợi)
TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG
Y phục cổ truyền người Êđê là màu đen điểm hoa văn sặc sỡ. Đàn bà mặc áo, quấn váy
(Ieng). Đàn ông đóng khố (Kpin), mặc áo. Người Ê Đê ưa dùng các đồ trang sức
bằng bạc, đồng, hạt cườm.
 Trang phục nam
Nam để tóc ngắn quấn khăn đen nhiều vòng trên đầu. Y phục
truyền thống gồm áo và khố.
Áo có hai loại cơ bản: áo dài trùm mông: tay áo, thân áo cũng dài
trùm mông, có xẻ và khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân và

nay nữ thanh niên thường mặc váy kín.
22

NHÀ SÀN Ê ĐÊ
Nhà sàn Ê Đê rất dài vì là nơi ở chung
của cả một dòng họ và thường được nối dài
thêm khi một thành viên nữ trong gia đình
xây dựng gia thất (người Ê Đê theo chế độ
mẫu hệ)
Nhà truyền thống được xây dựng bằng vật
liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh, cột kèo bằng
gỗ tốt có sức bền cùng thời gian. Các đà
ngang, đòn dông được đẽo hoàn toàn bằng
tay, từ những cây gỗ nguyên vẹn dài có thể
tới trên chục mét; đếm chúng, ta có thể biết
nhà đã có thêm bao nhiêu lần được nối dài.
Vách và lót sàn bằng các phên nứa đập nát; mái lợp cỏ tranh đánh rất dày thường chỉ
làm một lần và sử dụng vĩnh viễn. Gầm sàn dùng làm nơi nuôi nhốt trâu, bò,lợn. Khi làm
nhà mới, người Ê Đê rất kiêng không dùng lại gỗ nhà cũ mà thường đốt bỏ.
Kết cấu nhà gồm hai phần: Nửa đằng cửa chính gọi là Gah là nơi tiếp khách, sinh hoạt
chung của cả nhà dài chứa các vật dụng như bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (Kpan)
được đẽo từ những thân cây rừng nguyên vẹn kể cả chân, trên vách treo cồng chiêng
nửa còn lại gọi là Ôk đặt bếp nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng. Bếp lửa đặt
trực tiếp trên sàn là một khung vuông bằng gỗ đổ đất nện và đốt lửa trên đó cả ngày với
mục đích giữ lửa và để chống muỗi và các loại côn trùng khác.
Người Ê Đê có tập quán khi ngủ đầu quay về hướng Đông, chân hướng Tây. Do đó nhà
dài theo hướng Bắc Nam. Chỗ ngủ được chia làm nhiều ngăn bằng những thanh tre. Ngăn
đầu của vợ chồng chủ nhà, tiếp theo là ngăn người con gái chưa lấy chồng, sau đó đến
các ngăn của vợ chồng những người con gái đã lấy chồng, cuối cùng là ngăn dành cho
khách.

thần nhà rông, thần bến nước để xin phép.
Tượng nhà mồ thể hiện chủ yếu bằng các mảng, khối, chứ không đi sâu vào chi tiết. Tư
thế, thần thái của tượng muôn hình muôn vẻ. Người bế con, lấy nước, mang gùi, ngồi
khóc, đánh trống đánh chiêng, chia phần cơm lam, phụ nữ khoả thân, đôi trai gái đang làm
cái việc duy trì nòi giống một cách thật tự nhiên giữa thanh thiên bạch nhật Đó chính là
sự tái hiện cuộc sống thật một cách sinh động. Các bức tượng được tô điểm màu sắc chế
ra từ rễ, lá, vỏ cây rừng. Các nét hoa văn trên trang phục tượng cũng được phối màu rất
linh hoạt.
Tượng nhà mồ đa dạng về kích cỡ, thường
dùng đơn vị đo là sải tay để ước lượng. Mỗi
tượng trung bình được tính bằng một sải rưỡi,
trong đó có nửa sải chôn xuống đất, một sải
nhô lên là thân tượng. Tất cả tượng đều được
chôn bao quanh khu nhà mồ.
Tượng nhà mồ qua bàn tay sáng tạo của các
nghệ nhân, chứa đựng những thông tin mang
tính xã hội, cộng đồng sâu sắc. Chúng vừa là
những tác phẩm nghệ thuật, vừa mang ý nghĩ
tâm linh nhưng không hề tạo ra cảm giác cách
biệt mà trái lại, rất thân quen, gần gũi với mọi
người. Hầu như ở bất cứ buôn làng Ê Đê,
chúng ta cũng có thể bắt gặp những quần thể
tượng nhà mồ. Vẻ quạnh hiu, u tịch của những
bức tượng đã dần dần bớt đi vì du khách bốn
phương ngày càng lui tới nhiều hơn để chiêm
ngưỡng.
24
TÌM HIỂU MỘT SỐ LỄ HỘI DÂN GIAN Ê ĐÊ
LỄ HỘI ĐÂM TRÂU
Lễ đâm trâu phổ biến ở nhiều dân tộc Tây

trống nỗi lên rộn rã, nam nữ thanh niên nắm tay nhau nhảy múa theo vòng tròn ngựơc
chiều kim đồng hồ (chiều của sự sống) xung quanh cây nêu buộc trâu. Gìa làng ra hiệu cho
vòng múa tản dần nhập vào vòng người bên ngoài. Một nhóm chàng trai khoẻ mạnh, giỏi
tài săn bắt trong buôn cầm theo dao, lao, kiếm, xà gạc… tiến vào dẫn đầu đàn chiêng
trống, tiếp tục vừa đi vòng tròn, vừa múa vũ khí để lừa nhịp đâu trâu. Người được cử đâm
trâu phải là người có kinh nghiệm, khoẻ mạnh và chính xác khi trâu bị đâm vào đúng vị trí,
con trâu ngã xuống chết ngay được coi là điều may mắn, buôn làng sẽ được khoẻ mạnh,
làm ăn thuận lợi.
Người tây nguyên sợ nhất là khi làm lễ đâm trâu mà con trâu không chết, lại đứt dây chạy
vuột, phải bắt lại. Đó là điềm xấu cho buôn làng báo hiệu mùa màng có thể bị mất mùa.
Những dũng sĩ trong đội đâm trâu lập tức bị loại, chọn người khác thay thế.
Khi con trâu đã tắt thở, thầy cúng mang một chiếc nồi đồng nhỏ đến hứng huyết trâu hoà
với rượu, sau đó dùng dao cắt tai, mũi, mắt, đuôi trâu, mỗi thứ một ít bày lên mâm cúng.
Rượu hoà huyết được bôi lên thân cây nêu, hoặc lên quẻ âm dương để xem bói. Nhóm
dao kiếm tiếp tục xẻ thịt trâu để ăn mừng. Phần nghi lễ tín ngưỡng kết thúc,mọi người
được ăn uống ca hát nhảy múa, kể chuyện xưa… cho đến khi hết rượu thịt thì mới giải
tán.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status