Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, công cuộc đổi mới của Chính phủ với việc
chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường đã mở
ra cơ hội kinh doanh, làm ăn lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài và góp
phần đẩy nhanh tiến trình tư nhân hoá tại Việt Nam. Một trong những
vấn đề đang được các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế quan
tâm là bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng do vai trò quan
trọng của chúng trong việc bảo toàn vốn, hình thành tâm lý ổn định, an
tâm cho người được bảo hiểm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Đây cũng là mối quan tâm lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm
Việt Nam, nhất là từ khi thị trường bảo hiểm đã chuyển từ "thị trường
của người bán" thành "thị trường của người mua". Vấn đề nghiên cứu,
cải tiến, áp dụng và triển khai các loại hình bảo hiểm mới đang trở thành
một trong những chiến lược quan trọng mà các công ty bảo hiểm sử dụng
để cạnh tranh trên thị trường.
Đối với những cán bộ bảo hiểm cũng như những ai đang nghiên cứu,
học tập trên lĩnh vực này, nghiệp vụ Bảo hiểm Cháy nổ đã không còn
xa lạ. Mấy năm gần đây Chính phủ và Bộ Tài chính đã đưa vào áp dụng
chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu thấu
đáo, tường tận cơ sở lý luận và thực tế triển khai loại hình này cho phù
hợp với điều kiện Việt Nam mà vẫn đáp ứng được với nhu cầu ngày càng
đa dạng và phức tạp của các doanh nghiệp đang là câu hỏi lớn đặt ra với
tất cả các công ty bảo hiểm hoạt động tại Việt nam. Chính vì vậy, em đã
chọn đề tài “Thực trạng khai thác bảo hiểm hiểm cháy nổ bắt buộc ở
công ty Bảo Việt Hà Nội” làm nội dung nghiên cứu.
- 1 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mục đích của đề tài nhằm tập hợp, hệ thống hoá các nguyên tắc lý
luận được áp dụng chung trong loại hình Bảo hiểm Hoả hoạn, các đặc
nguy hiểm nhất. Nó thường mang tính chất thảm họa và khi xảy ra hậu quả
để lại rất nặng nề. Việc khắc phục nó đòi hỏi phải có nguồn tài chính khổng
lồ.
Theo lịch sử để lại từ thời Phục Hưng, ở Châu Âu vẫn chưa có một hệ
thống phòng cháy hữu hiệu nào hơn hệ thống sử dụng từ thời các hoàng đế
La Mã trị vì. Ở các thành phố lớn và thị trấn, nhà nào cũng phải dự trữ các
xô đầy nước. Vào ban đêm đội tuần tra đi dọc các phố hễ thấy nhà nào có
nguy cơ cháy là họ báo ngay cho chủ nhà. Nếu có hỏa hoạn xảy ra thì thì
thiệt hại từ cháy có thể được phường hội giúp đỡ với điều kiện họ phải là hội
vên. Tuy nhiên khoản trợ giúp này chỉ mang tính chất động viên khích lệ
chứ chưa thể coi là một khoản bồi thường thực sự. Phường hội đầu tiên theo
kiểu này do các nhà buôn thành phô Rowen (Pháp) thành lập năm 1374
- 3 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong nhà thờ Saint Ptree. Nhưng thời bấy giờ dân chúng vẫn có tư tưởng
xem hỏa hoạn là rủi ro không thể tránh khỏi cũng như nạn đói, chiến tranh
và các bệnh dịch khác…
Sự xuất hiện của bảo hiểm cháy nổ được đánh dấu bằng vụ cháy thảm
khốc ở Luôn Đôn nước Anh ngày 2/9/1666 hủy diệt 13.000 căn nhà trong đó
có hơn 100 nhà thờ trong 4 ngày để lại một sự thiệt hại quá lớn không thể
cứu trợ được, lúc ngày người ta mới ý thức được tầm quan trọng của việc
thiết lập hệ thống phòng cháy, chữa cháy và bồi thường cho người bị thiệt
hại. Sau đó những nhà khinh doanh ở nước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồng
chia sẻ rủi ro hỏa hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo hiểm
hỏa hoạn như : Một số văn phòng cung cấp dịch vụ phòng cháy, chữa cháy
và bảo hiểm cháy “ Fire Office ” (năm 1667) , năm 1684 công ty bảo hiểm
hỏa hoạn đầu tiên ra đời là công ty “ Friendly Society ” sau đó hang loạt các
công ty bảo hiểm khác đã ra đời: “ Hand and Hand ” năm 1696, “ Lom Bard
House ” năm 1704… Nước Pháp do ảnh hưởng của vụ hỏa hoạn ở Luân
Đôn, nên năm 1786 công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên mới được thành lập
28.000 tỷ đồng. Năm 2000 doanh thu phí bảo hiểm đạt 16.200.000 USD
tăng 16% so với năm 1999. Ngày càng có nhiều công ty tham gia cung cấp
các sản phẩm bảo hiểm hỏa hoạn, gần đây có các công ty như: AAA, BIC…
làm cho thị trường bảo hiểm hỏa hoạn đa dạng và phong phú, tăng tính chất
cạnh tranh từ đó nâng cao được chất lượng sản phẩm.
Như vậy, nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn ngày được triển khai rộng
khắp, mọi người dân và doanh nghiệp đều có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu
nghiệp vụ này. Đáp ứng tốt nhu cầu cần thiết của nền kinh tế xã hội.
- 5 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.2 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm cháy nổ bắt buộc:
Điều 8, Luật kinh doanh bảo hiểm có ghi rõ: “ …Bảo hiểm bắt buộc
chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công
cộng và an toàn xã hội”. Theo quy định này thì chỉ những thiệt hại gây hậu
quả cho lợi ích của người khác hoặc của xã hội mới thuộc phạm vi bảo hiểm
bắt buộc. Do đó loại bảo hiểm này chủ yếu là bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Thực hiện bắt buộc loại bảo hiểm này giúp giải quyết tốt các tranh chấp khi
xảy ra tai nạn làm thiệt hại cho người khác hoặc của Nhà nước. Nó đáp ứng
được nhu cầu hội nhập khi văn hóa khiếu nại sẽ là phương pháp chủ yếu giải
quyết tranh chấp giữa các bên. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đã ban hành
nghị định 130/CP-NĐ quy định các doanh nghiệp, cơ sở có nguy cơ cháy nổ
bắt buộc phải tham gia bảo hiểm cháy… Vì sao lại có quy định này khi mà
đối tượng của bảo hiểm cháy nổ là tài sản riêng của một số cá nhân, đơn vị,
và nếu họ không gây thiệt hại cho ai khác ngoài bản thân thì họ không phát
sinh trách nhiệm gì với xã hội. Trên thực tế các nước chủ yếu áp dụng bảo
hiểm cháy nổ dưới dạng tự nguyện, nhưng đối với những cơ sở kinh tế trọng
điểm, tập trung như nhà máy điện, lọc dầu, ciment… thường áp dụng bảo
hiểm bắt buộc. Bởi chẳng may gặp rủi ro và xảy ra tổn thất lớn sẽ có ảnh
hưởng đáng kể đến nền kinh tế quốc dân. Do đó tham gia bảo hiểm cháy nổ
như một hình thức đảm bảo an toàn xã hội. Hiện nay, các quốc gia duy trì
xã hội, không còn là vấn đề riêng của mỗi cá nhân doanh nghiệp.
Thực hiện quy định bảo hiểm cháy nổ bắt buộc sẽ mang lại rất nhiều lợi
ích đối với nhà nước, với doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp bảo hiểm
nói riêng:
- 7 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thứ nhất, đối với nhà nước và xã hội thực hiện cháy nổ bắt buộc tạo ra
những lợi ích sau:
• Quy định bảo hiểm cháy nổ bắt buộc gián tiếp nâng cao tinh thần
trách nhiệm phòng cháy chữa cháy trong xã hội. Trước khi tham
gia bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, cơ sở và doanh nghiệp buộc phải
sở hữu giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn phòng cháy chữa cháy. Do
vậy, đây là cơ hội để chấn chỉnh và thực hiện nghiêm túc một lần
nữa công tác PCCC.
• Tăng thu ngân sách: Do doanh nghiệp bảo hiểm tăng doanh thu từ
chi phí bảo hiểm cháy nổ, lợi nhuận tăng, kết quả là thuế thu nhập
doanh nghiệp phải nộp nhiều hơn.
• Bảo hộ nghành kinh tế bảo hiểm trước tác động của hội nhập kinh
tế quốc tế. Hiện nay, tại Luật kinh doanh bảo hiểm bắt buộc phải
xin phê duyệt của cơ quan quản lý là Bộ Tài chính. Luật cũng quy
định các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm nước ngoài
được phép bán sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nói chung, chứ
không nói rõ là trong lĩnh vực nào. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
doanh nghiệp bảo hiểm nào trong khối này ( có vốn đầu tư nước
ngoài ) được phép bán bảo hiểm bắt buộc. Như vậy, rõ rang qui
định chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đã tạo ra lợi thế cho các
doanh nghiệp trong nước. Nó tạo ra sự giới hạn sân chơi cho các
doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài trước thị trường bảo hiểm cháy
nổ đầy hấp dẫn. Đây sẽ là bước đệm để tăng cường hơn nữa nội
lực của các doanh nghiệp, tạo ra vị thế vững chắc cho các doanh
chế được số vụ cháy, nổ tức là hạn chế lượng khí độc hại CO2 thải
ra môi trường, như vậy đã góp phần giảm bớt sự ô nhiễm.
• Sự bắt buộc sẽ tạo ra một xã hội an toàn hơn, bởi tất cả các cơ sở
doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, khi bị tổn thất sẽ nhanh chóng
nhận được tiền bồi thường đầy đủ, từ đó khôi phục nhanh chóng
hoạt động của chính mình. Nếu không có bảo hiểm cháy nổ bắt
buộc, sẽ có rất nhiều người không nhận thức hết sự nghiêm trọng
của vấn đề…
Thứ hai: Ích lợi của sự bắt buộc tham gia bảo hiểm cháy nổ đối với
doanh nghiệp và cơ sở:
• Tạo ra động lực mạnh hơn khi tham gia bảo hiểm. Vì bắt buộc,
doanh nghiệp để tránh những phiền phức nhất định, sẽ đặt biệt chú
ý đến việc tham gia bảo hiểm cháy nổ. Không có sự bắt buộc, chủ
doanh nghiệp có thể vì những lý do khác nhau trì hoãn việc mua
bảo hiểm …
• Hoàn thiện hành lang pháp lý cho công tác thực hiện nghiệp vụ
bảo hiểm cháy nổ, từ đó tạo ra sự minh bạch hơn nữa trong thực
hiện bảo hiểm cháy nổ… Trước khi có nghị định 130/NĐ-CP,
nghiệp vụ này đã được qui định bắt buộc tại Luật PCCC và Luật
bảo hiểm, song các quy định và chế tài trong áp dụng còn rất sơ
sài. Hiệu quả áp dụng không cao, do vậy sau văn bản quy phạm
pháp luật này, hệ thống các văn bản về cháy nổ, bảo hiểm cháy nổ
đã đầy đủ hơn, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho người tham
gia. Có đầy đủ cơ sở cho khiếu kiện hơn…
- 10 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Tạo điều kiện cho DN được tiếp cần với tất cả những tác dụng của
bảo hiểm cháy, như đã trình bày…
Thứ ba, đối với doanh nghiệp bảo hiểm
• Tốc độ tăng doanh thu phí lớn hơn tốc độ tăng chi phí kinh doanh:
Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng bởi một số loại bảo hiểm nhằm mục
đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.
Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:
a) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách
nhiệm của người vận chuyển hàng không đối với khách.
b) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp
luật.
c) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm.
d) Bảo hiểm cháy nổ.
Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tưng thời kỳ, Chính Phủ
trình Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.”
( Điều 8 – Luật Bảo hiểm)
• Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 18/11/2006 quy định chi tiết thi
hành chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc theo Luật PCCC và Luật
kinh doanh Bảo hiểm.
- 12 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Thông tư lien tịch số 41/2007/TTLT-BTC-BCA ngày 24/04/2007
hướng dẫn chi tiết về chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đối với tài
sản của cơ sở phải mua bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, trách nhiệm của
doanh nghiệp bảo hiểm trong việc trích lập kinh phí cho hoạt động
PCCC và cơ chế quản lý, cấp phát, thanh toán quyết toán nguồn kinh
phí này.
• Quyết định số 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 ban hành Quy tắc
và Biểu phí bảo hiểm hiểm cháy nổ bắt buộc.
1.2.2 Đối tượng bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm, cơ quan, tổ chức, và cá nhân có cơ sở có nguy
hiểm về cháy, nổ có nghĩa vụ thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
theo qui định.
cháy để xảy ra cháy, nổ.
h) Hàng hóa nhận ủy thác hay ký gửi trừ khi những hàng hóa đó được
xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm và Người
được bảo hiểm trả them phí bảo hiểm theo quy định.
i) Nguyên liệu vũ khí hạt nhân gây cháy nổ.
j) Tiền, kim loại quý, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tài liệu, bản
thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản
mẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế, trừ khi những
hạng mục này được xác nhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm.
- 14 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
k) Chất nổ, trừ khi được xác nhận là được bảo hiểm trong Giấy chứng
nhận bảo hiểm.
l) Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, được bảo hiểm theo
đơn bảo hiểm hàng hải hoặc thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo đơn bảo
hiểm hàng hải, trừ phần thiệt hại vượt quá.
m) Những thiệt hại do cháy, nổ cho bên thứ bắt buộc.
n) Những thiệt hại đối với dữ liệu, phần mềm và các chương trình máy
tính.
o) Những thiệt hại do những biến cố chính trị, an ninh và trật tự an toàn
xã hội gây ra.
1.2.4 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tối thiểu là giá trị tính thành tiền
theo giá thị trường của tài sản phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tại
thời điểm tham gia bảo hiểm. Cần lưu ý là bên mua bảo hiểm liệt kê số tiền
bảo hiểm riêng rẽ của từng hạng mục tài sản bảo hiểm và tính tổng cộng số
tiền bảo hiểm hiểm (gọi là Tổng Số tiền bảo hiểm). Theo luật định, trong
mọi trường hợp, trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm sẽ không
vượt quá Số tiền bảo hiểm của từng hạng mục và tổng cộng sẽ không vượt
quá Tổng số tiền bảo hiểm.
được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền sẽ tiền hành giám định tổn thất để
xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Chi phí giám định tổn thất do
doanh nghiệp bảo hiểm chịu
- 16 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong trường hợp bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm
không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì có thế trưng cầu
giám định độc lập. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được việc
trưng cầu giám định viên độc lập thì một trong các bên được yêu cầu tòa
án nơi xảy ra tổn thất hoặc nơi bên mua bảo hiểm cư trú chỉ định giám
định viên độc lập. Kết luận của giám định viên độc lập có trị bắt buộc đôi
với các bên.
Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền lựa chọn một trong các phương
thức bồi thường dưới đây:
•Sửa chữa tài sản bị thiệt hại
•Thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác
• Trả tiền bồi thường
1.3 Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ
Cũng giống như bất cứ một nghiệp vụ bảo hiểm nào, nghiệp vụ bảo hiểm
Hoả hoạn gồm các bước cơ bản sau:
- Khai thác
- Giám định
- Bồi thường
- Hạn chế tổn thất
Các bước này có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau. Kết quả của bước
này ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của các bước tiếp sau nó và làm thành
một chu trình hoạt động của một nghiệp vụ.
1. Công tác khai thác bảo hiểm
Đây là bước đầu tiên và không thể thiêú trong nghiệp vụ bảo hiểm.
Công tác khai thác đóng một vai trò quyết định trong sự phát triển một công
đã mua với số tiền bảo hiểm là 12250000 $, mức phí là 20825 $.
Để tìm ra các doanh nghiệp "ăn nên làm ra" không phải là khó, cán bộ
khai thác nên chú ý theo dõi quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại
chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình...) đồng thời phải có sự phối hợp với
các ngân hàng, cơ quan khác để nắm bắt được đối tượng.
1.2 Đánh giá rủi ro
Công tác đánh giá rủi ro được tiến hành sau khi khách hàng gửi giấy
yêu cầu bảo hiểm với mục đích giá chính xác các rủi ro có thể xảy ra với các
đối tượng bảo hiểm. Qua đó xác định tỷ lệ phí bảo hiểm thích hợp tương ứng
với các rủi ro mà công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm.
Để có cơ sở đáng giá đúng rủi ro, thông thường công ty bảo hiểm sẽ
gửi cho khách hàng bản phiếu điều tra các rủi ro (bảng câu hỏi). Qua phần
trả lời khách hàng trong phiếu điều tra, các công ty bảo hiểm sẽ xác định
được bậc chịu lửa của công trình, loại PCCC (các thiết bị PCCC được trang
bị, đội cứu hoả, bảo vệ...), hạng sản xuất (với đơn vị sản xuất), loại kinh
doanh dịch vụ (với đơn vị kinh doanh dịch vụ v), mức độ nguy hiểm với các
tài sản để trong kho, cửa hàng, từ đó xác định mức phí thích hợp.
Tuy nhiên trên thực tế, để đảm bảo sự chính xác, trung thực khi đánh
giá rủi ro, ngoài việc gửi phiếu điều tra rủi ro, các cán bộ khai thác bảo hiểm
sẽ đến làm việc trực tiếp với khách hàng, nghiên cứu và khảo sát thực tế kỹ
hơn, hướng dẫn khách hàng trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra, cùng
cộng tác với cảnh sát PCCC đánh giá thực tế về công tác PCCC, phương tiện
chuyên môn (khách hàng cần những phương tiện PCCC nào, bố trí ở đâu,
với số lượng là bao nhiêu...). Cuối cùng trên cơ sở đánh giá rủi ro, cán bộ
khai thác sẽ thoả thuân với khách hàng về tỷ lệ phí sẽ áp dụng.
- 19 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Như vậy công tác đánh giá rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó
yêu cầu cán bộ bảo hiểm không những phải giỏi chuyên môn mà còn phải
có sự năng động, tận tình và cẩn thận.Trong bảo hiểm Hoả hoạn, khâu đánh
cấp, trước khi cấp giấy chứng nhận cho khách hàng, các công ty cần gửi hồ
sơ cho Tổng công ty xem xét và quyết định.
1.4 Bổ sung tài sản được bảo hiểm và theo dõi tình hình thu phí
Trên thực tế, có nhiều khách hàng yêu cầu sửa đổi, bổ sung tài sản
được bảo hiểm sau khi đã được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm. Các công ty
cần xem xét kỹ yêu cầu thay đổi như: giá trị bảo hiểm, các yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ phí để từ đó tính toán, điều chỉnh lại tỷ lệ phí, phí bảo hiểm cho
thích hợp. Bản bổ sung sửa đổi cũng được lập thành bốn bản trao cho các bộ
phận nói trên.
Ngoài ra các cán bộ khai thác cũng cần định kỳ xuống thăm các đối
tượng bảo hiểm, kiểm tra các công tác PCCC, nêu ra các đề xuất để tăng
cường công tác này. Đồng thời phải phối hợp với các bộ phận tài vụ để theo
dõi việc đóng phí của khách hàng, nhắc nhở họ tái tục bảo hiểm khi thời hạn
bảo hiểm sắp hết.
1.5 Hoa hồng
Trong công tác khai thác không thể không nói đến vấn đề hoa hồng.
Đây là một khoản chi được tính theo tỷ lệ phần trăm so với số phí bảo hiểm.
Khoản hoa hồng này, công ty trả cho người trực tiếp đứng ra tham gia bảo
hiểm hoặc trả cho người môi giới nhằm động viên khuyến khích họ nhiệt
tình công tác, thu hút thêm nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm. Đây cũng
là một hình thức tạo dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng.Từ năm 1995,
- 21 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
để tạo tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động, khoản chi hoa hồng được
tính vào chi quản lý nghiệp vụ.
Có thể nói công tác khai thác có một vai trò quan trọng trong hoạt
động kinh doanh bảo hiểm. Thực hiện tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho các
công ty bảo hiểm mở rộng và chiếm lĩnh thị trường.
2. Công tác giám định tổn thất
Khâu giám định tổn thất có vị trí quan trọng đối với công tác bồi
- Rào kín những nơi mà người ngoài có thể đột nhập vào.
- Bơm rút nước cứu hoả còn đọng lại ra khỏi những nơi chứa tài sản
để tránh tài sản hư hỏng thêm.
- Di chuyển các mảnh đổ vỡ, tro than để cứu tài sản,
Qua quá trình điều tra, các giám định viên phải tìm ra được nguyên
nhân gây cháy nổ. Chú ý rằng đó phải là những nguyên nhân trực tiấp dẫn
đến hoả hoạn. Cuối cùng các giám định viên bảo hiểm sẽ xác định mức độ
thiệt hại và lập biên bản giám định. Biên bản giám định sẽ được trình lên
công ty một bản và Tổng công ty một bản.
3. Công tác bồi thường
Một trong những yêu cầu và cũng là một trong những phẩm chất quan
trọng đối với người làm công tác bảo hiểm là phải quan tâm và cảm thông
sâu sắc tới các nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng. Phẩm chất đó phải
được thể hiện đặc biệt rõ nét trong khâu trong khâu giải quyết bồi thường.
Giải quyết bồi thường tốt có nghĩa là giải quyết nhanh và đúng - đây là
nhiệm vụ số một của người làm công tác bồi thường và là một trong những
- 23 -
Nguyễn Mạnh Cường – BH47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
biện pháp tuyên truyền có hiệu quả nhất, làm tăng uy tín của công ty và có
ảnh hưởng tích cực tới khâu khai thác bảo hiểm.
Đảm bảo được mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác bồi thường,
cán bộ công ty cần thực hiện tốt những bước sau:
3.1 Kiểm tra hồ sơ khiếu nại và xác định trách nhiệm bảo hiểm
Nhận được hồ sơ đòi bồi thường, người bảo hiểm phải kiểm tra, xem
xét hồ sơ có đầy đủ và hợp lệ không. Trường hợp hồ sơ thuộc trách nhiệm
bảo hiểm nhưng chưa đầy đủ thì phải yêu cầu khách hàng bổ sung kịp thời
và ngày trả lời khách hàng. Sau đó, cán bộ bồi thường xem xét đối chiếu với
quy tắc bảo hiểm và văn bằng hướng dẫn của Tổng công ty để xác định trách
nhiệm bảo hiểm. Cụ thể: khiếu nại có nằm trong phạm vi thoả thuận bảo
hiểm không; có điểm loại trừ nào tác động và ảnh hưởng đến khiếu nại đó
tiết mức độ thiệt hại.
Cụ thể:
* Đối với bảo hiểm cháy nổ:
Số tiền bảo hiểm
Số tiền bồi thường = Giá trị thiệt hại ×
____________________
Giá trị bảo hiểm
3.4 Lập hồ sơ bồi thường, giải quyết bồi thường và khiếu nại
Trên cơ sở tính toán được số tiền bồi thường như trên, cán bộ bồi
thường sẽ lập hồ sơ bồi thường và trình lên lãnh đạo Tổng công ty xét duyệt
bồi thường. Sau khi có quyết định của lãnh đạo, cán bộ bồi thường sẽ thông
- 25 -