Nghiên cứu tác động cuả Quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368

LỜI MỞ ĐẦU
Cháy, nổ hàng năm gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng, làm hàng trăm người
chết và bị thương. Cháy có thể xảy ra bất cứ khi nào, ở đâu và với bất cứ ai. Con
người dù luôn có ý thức phòng cháy nhưng vẫn không thể xoá bỏ hoàn toàn nguy cơ
cháy, nổ. Hậu quả do cháy thường rất lớn, đôi khi mang tính chất thảm hoạ.
Để đối phó với cháy, nổ con người đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác
nhau như hạn chế sử dụng vật liệu dễ cháy , thực hiện PCCC...Tuy nhiên để đối phó
với hậu quả do cháy gây ra, bảo hiểm được coi là hữu hiệu hơn cả. Bảo hiểm cháy ra
đời từ rất sớm (thế kỷ 17) và cho đến nay nó luôn là nghiệp vụ không thể thiếu tại tất
cả các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trên thế giới.
Nghị định 130/2006/NĐ-CP của chính phủ ngày 8 tháng 11 năm 2006 Quy
định chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc ra đời đã góp phần hoàn thiện hơn nữa các văn
bản pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm. Nghị định 130/2006/NĐ-CP đã - đang và sẽ có
rất nhiều ảnh hưởng đến hoạt đồng của thị trường bảo hiểm cháy, nổ Việt Nam như
cầu về sản phẩm này sẽ gia tăng, nhu cầu về thoả mãn dịch vụ có chất lượng cao tăng,
ý thức của khách hàng về bảo hiểm thay đổi, doanh thu của các Công ty bảo hiểm phi
nhân thọ tăng...
Em lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tác động cuả Quy định chế độ bảo hiểm
cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Công ty
BHDK Khu vực Tây Bắc” với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về nghiệp vụ bảo
hiểm cháy, về tác động của Nghị định 130/2006/NĐ-CP đến thị trường bảo hiểm Việt
Nam, và đặc biệt là đến Công ty BHDK Tây Bắc- đơn vị em thực tâp trong 4 tháng
qua. Trong quá trình nghiên cứu, em cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh
quá trình chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh thu và uy tín của BHDK Tây Bắc.
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ một chuyên đề thực tập tốt nghiệp,
trong phạm vi hoạt động của BHDK Tây Bắc.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm phương pháp thống kê,
tổng hợp phân tích, và so sánh.
1

(kinh doanh rủi ro)và tính xã hội (cân bằng thu chi). Dưới đây, xin trình bày một
số định nghĩa về bảo hiểm đang được thừa nhận trên thế giới, tại các quốc gia các
nghiệp đoàn, và các công ty bảo hiểm.
Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ
thì: "Bảo hiểm là sự tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao những
rủi ro gây ra cho NBH khi họ cam kết bồi thường những tổn thất này, cung cấp các
quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan
đến rủi ro”
Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì: "Bảo hiểm là sự thoả thuận qua
đó một bên (Người bảo hiểm ) hứa sẽ thanh toán cho bên kia (NĐBH hay
NTGBH) một khoản tiền nếu có sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người bảo
hiểm. Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này được chuyển giao từ NTGBH
đến người bảo hiểm. Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, NBH đòi NĐBH
một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm”
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Khái niệm được sử dụng tại một số trường đại học và thị trường bảo hiểm
Châu Á: "Bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít
người cho nhiều người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổ chức
ra một quỹ tài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm
dưới dạng phí bảo hiểm, để bồi thường hoặc bù đắp những tổn thất do những rủi
ro đó gây ra”
Khi xem xét bảo hiểm từ khía cạnh những bên liên quan khác nhau đến
hợp đồng bảo hiểm, bảo hiểm được định nghĩa như sau:
Từ phía người được bảo hiểm, bảo hiểm là tổ chức hợp lý một nhóm người
có chung một loại rủi ro có thể xảy ra. Các khoản đóng góp về tài chính của họ
cho phép bồi thường những thiệt hại mà một số người trong nhóm phải gánh chịu
khi có tổn thất. Nhờ có bảo hiểm mà tổn thất sẽ nhẹ đi nếu chia sẻ cho nhiều người
và là gánh nặng nếu một vài người phải gánh chịu tất cả.

đau, dịch bệnh, mất việc làm, trộm cắp, hoả hoạn....
Bất kể nguyên nhân gì, khi xảy ra rủi ro thường gây ra cho con người
những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài
sản, làm ngưng trệ hoạt động sản xuất và kinh doanh của các tổ chức, doanh
nghiệp cá nhân, và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế- xã hội nói chung.
Để đối phó với các rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu
quả của rủi ro gây ra - đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện
pháp tài trợ rủi ro.
Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi
ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro:
Tránh né rủi ro tức là tìm ra phương thức hành động khác không có dấu
hiệu của bất cứ yếu tố nào có thể dấn tới rủi ro
Ngăn ngừa tổn thất được sử dụng để đưa ra các hành động làm giảm tổn
thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra khi không thể né tránh được dù đã
tìm mọi cách.
Nhóm biện pháp tài trợ rủi ro. Biện pháp tài trợ rủi ro gồm các biện pháp
chấp nhận rủi ro và bảo hiểm. (Đây là các biện pháp phải được thực hiện trước khi
rủi ro xảy ra, nhằm mục đích giảm thiểu hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, nếu có).
+ Chấp nhận rủi ro, tức là người gặp rủi ro tự chấp nhận khoản tổn thất.
Còn gọi là tự bảo hiểm. Có hai hình thức chấp nhận rủi ro, gồm chấp nhận một
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368

cách chủ động và chấp nhận thụ động. Hiệu quả của hai hình thức này không cao
do rơi vào tình huống thụ động, sử dụng không hiệu quả đồng vốn, hoặc sai lệch
trong tính toán lập quỹ dự phòng...
+Bảo hiểm: bảo hiểm ngày nay đã trở thành một lựa chọn không thể thiếu
trong hầu hết các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như các cá
nhân.Do nó khắc phục được hầu hết các nhược điểm của các biện pháp khác. Bảo
hiểm chính là sự lựa chọn tối ưu của các chương trình quản lý rủi ro. Rủi ro được

một cách bí ẩn. Để đáp ứng nhu cầu này, nhu cầu chia nhỏ tổn thất, người ta đã có
hai phương án. Cách thứ nhất là thành lập một liên doanh có vốn cổ phần, theo đó,
một nhóm đầu tư cùng đầu tư vào một đội thuyền chở hàng chung, cùng chia sẻ
rủi ro khi tổn thất và phân chia lợi nhuận mà liên doanh thu được (Phuơng án này
rất gần với hình thức các chủ hàng trên con đường tơ lụa nổi tiếng đã chia nhỏ
hàng hoá của mình thành hàng trăm phần nhỏ, mỗi lạc đà sẽ chở một lượng hàng
mà trong đó bao gồm nhiều phần hàng hoá của các chủ hàng khác nhau. Lạc đà
nào bị cướp, tổn thất được chia đều cho các chủ hàng, mỗi người tổn thất một
phần nhỏ trong tổng số hàng.). Cách thứ hai là bảo hiểm, theo cách này các nhà
buôn và các chủ tàu thuyền chấp nhận trả một khoản tiền nhất định cho một cá
nhân hay tổ chức, người mà đảm bảo rằng nếu hàng hoá hoặc tàu thuyền của họ bị
tổn thất do một số nguyên nhân nhất định nào đó họ sẽ được trả một khoản tiền để
bù đắp thiệt hại xảy ra.
Bảo hiểm hàng hải là lĩnh vực ra đời sớm nhất. Năm 1347, hợp đồng bảo
hiểm hàng hải đầu tiên được phát hành tại Genoa-Ý. Năm 1424, công ty bảo hiểm
đầu tiên, Marietime Insurance Company ra đời. Năm 1583, xuất hiện hợp đồng
bảo hiểm, mà cho đến nay được coi là cổ xưa nhất. Năm 1667, sau vụ cháy khủng
khiếp tại London, làm hơn 13000 ngôi nhà bị cháy, hàng nghìn người thiệt mạng
vào năm 1666, công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên trên thế giới có tên “Fire
Office” hoạt động tại Anh. Sau bảo hiểm hoả hoạn là các quỹ bảo hiểm nhân thọ
cũng xuất hiện từ nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu được chăm lo cho tương lai.
Từ cuối thế ký 19, cuộc đại cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới
diễn ra sôi động, mang lại nhiều thành tựu, làm xuất hiện nhiều ngành nghề kinh
doanh mới. Cùng với đó là sự gia tăng nhanh chóng các rủi ro có nguyên nhân
xuất phát từ nhóm rủi ro do biến động của khoa học công nghệ. Đây là điều kiện
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368

thuận lợi đẩy mạnh sự phát triển bảo hiểm với những sản phẩm như bảo hiểm ôtô,
máy bay, xây dựng lắp đặt...


tế, kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác hoạt động
bảo hiểm còn mang về cho kinh té quốc dân một khoản ngoại tệ đáng kể.
 Bảo hiểm là nhà tư vấn quản trị rủi ro hàng đầu trong xã hội. Doanh
nghiệp bảo hiểm vì lợi ích của bản thân, xã hội, người tham gia bảo hiểm...coi
trọng xây dựng các công trình đề phòng hạn chế tổn thất.
 Thị trường bảo hiểm:, Là một trung gian tài chính bên cạnh ngân
hàng, thị trường chứng khoán.
Tác dụng của bảo hiểm: Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng khác nhau:
 Dàn trải tổn thất (phân tán rủi ro
 Bảo vệ: Tham gia bảo hiểm là bảo vệ cho tính mạng tình trạng sức
khoẻ và tài sản trước nguy cơ xảy ra tổn thất.
 Đề phòng hạn chế tổn thất
 Ổn định đời sống sản xuất kinh của người được bảo hiểm.
 Tạo sự an tâm về mặt tinh thần cho người tham gia bảo hiểm.
 Kích thích tiết kiệm
 Đầu tư phát triển kinh tế
 Đẩy mạnh tín dụng
 Tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Với những lợi ích kể trên, bảo hiểm đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát triển.
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.
Hoạt động bảo hiểm thương mại phải tuân thủ theo các nguyên tắc chung
sau đây:
Nguyên tắc 1: Phải tuân theo luật hợp đồng.
Hợp đồng là căn cứ pháp lý để giải quyết những vấn đề pháp lý về sau.Các
hợp đồng bảo hiểm nhất thiết phải là các văn bản pháp lý thể hiện những quy định
cơ bản của luật pháp.
Nguyên tắc 2: Lựa chọn rủi ro.
Nhà bảo hiểm được lựa chọn các rủi ro được bảo hiểm, chỉ rủi ro không ai
lường trước được mới được chấp nhận. Thậm chí với những rủi ro bất ngờ nhà

được phép thế quyền (thay quyền) người được bảo hiểm đòi tổn thất thuộc phần
trách nhiệm của người gây thiệt hại.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Nguyên tắc 8: Đóng góp bồi thường. Trong trường hợp, một tổn thất được
bảo hiểm bằng nhiều đơn bảo hiểm, bảo hiểm trùng, các doanh nghiệp cùng tham
gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp bồi thường khi tài sản bị tổn thất.
Nguyên tắc 9: Nguyên nhân trực tiếp, được hiểu là nguyên nhân đủ mạnh
và có tác dụng làm chuyển động cả một chuỗi sự kiện dẫn đến một kết quả mà
không cần có sự can thiệp cuả bất kỳ một lực nào khác phát sinh và phát huy tác
dụng từ một nguồn độc lập nào khác. Nguyên nhân trực tiếp không nhất thiết là
nguyên nhân đầu tiên hay cuối cùng, nhưng nó phải là nguyên nhân chủ yếu.
1.1.5. Phân loại bảo hiểm.:
1.1.5.1 Theo đối tượng bảo hiểm:
+Bảo hiểm xã hội.
+Bảo hiểm y tế.
+Bảo hiểm thất nghiệp.
+ Bảo hiểm thương mại.
1.1.5.2 Theo tính chất rủi ro hoặc theo luật kinh doanh bảo hiểm:
+Bảo hiểm nhân thọ
+Bảo hiểm phi nhân thọ.
(Bảo hiểm cháy nổ nằm trong mảng bảo hiểm phi nhân thọ, là loại nghiệp
vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi
nhân thọ)
.1.1.5.3 Theo kỹ thuật quản lý quỹ tài chính:
+Bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật phân chia.
+Bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật tồn tích.
Cách phân chia thứ hai, sử dụng phổ biến hơn cả.
1.2. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM CHÁY NỔ.

thành phần kinh tế tư nhân, và nhà dân.
Ngày 14-7-1994: Vụ cháy chợ đồng Xuân Hà Nội, thiệt hại 14 tỷ đồng ,
2364 hộ kinh doanh bị thiệt hại.
Ngày 26-06-1996: Cháy kho xăng dầu 131 Thuỷ Nguyên, thiệt hại 31 tỷ
đồng.
Ngày 18-11-1996: Cháy công ty giầy Đồng Nai, thiệt hại 12 tỷ đồng.
Năm 2001, vụ cháy tại Vising Pack thiệt hại trên 1,4 triệu $.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status