nghiên cứu tác động cuả quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại công ty bhdk khu vực tây bắc - Pdf 10


LỜI MỞ ĐẦU
Cháy, nổ hàng năm gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng, làm hàng trăm người
chết và bị thương. Cháy có thể xảy ra bất cứ khi nào, ở đâu và với bất cứ ai. Con
người dù luôn có ý thức phòng cháy nhưng vẫn không thể xoá bỏ hoàn toàn nguy cơ
cháy, nổ. Hậu quả do cháy thường rất lớn, đôi khi mang tính chất thảm hoạ.
Để đối phó với cháy, nổ con người đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác
nhau như hạn chế sử dụng vật liệu dễ cháy , thực hiện PCCC Tuy nhiên để đối phó
với hậu quả do cháy gây ra, bảo hiểm được coi là hữu hiệu hơn cả. Bảo hiểm cháy ra
đời từ rất sớm (thế kỷ 17) và cho đến nay nó luôn là nghiệp vụ không thể thiếu tại tất
cả các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trên thế giới.
Nghị định 130/2006/NĐ-CP của chính phủ ngày 8 tháng 11 năm 2006 Quy
định chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc ra đời đã góp phần hoàn thiện hơn nữa các
văn bản pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm. Nghị định 130/2006/NĐ-CP đã - đang và
sẽ có rất nhiều ảnh hưởng đến hoạt đồng của thị trường bảo hiểm cháy, nổ Việt Nam
như cầu về sản phẩm này sẽ gia tăng, nhu cầu về thoả mãn dịch vụ có chất lượng
cao tăng, ý thức của khách hàng về bảo hiểm thay đổi, doanh thu của các Công ty
bảo hiểm phi nhân thọ tăng
Em lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tác động cuả Quy định chế độ bảo hiểm
cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Công ty
BHDK Khu vực Tây Bắc” với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về nghiệp vụ bảo
hiểm cháy, về tác động của Nghị định 130/2006/NĐ-CP đến thị trường bảo hiểm
Việt Nam, và đặc biệt là đến Công ty BHDK Tây Bắc- đơn vị em thực tâp trong 4
tháng qua. Trong quá trình nghiên cứu, em cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm đẩy
mạnh quá trình chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh thu và uy tín của BHDK Tây Bắc.
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ một chuyên đề thực tập tốt nghiệp,
trong phạm vi hoạt động của BHDK Tây Bắc.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm phương pháp thống kê,
tổng hợp phân tích, và so sánh.
1


Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ
thì: "Bảo hiểm là sự tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao những
rủi ro gây ra cho NBH khi họ cam kết bồi thường những tổn thất này, cung cấp
các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên
quan đến rủi ro”
Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì: "Bảo hiểm là sự thoả thuận qua
đó một bên (Người bảo hiểm ) hứa sẽ thanh toán cho bên kia (NĐBH hay
NTGBH) một khoản tiền nếu có sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người
bảo hiểm. Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này được chuyển giao từ
NTGBH đến người bảo hiểm. Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, NBH
đòi NĐBH một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm”
3

Khái niệm được sử dụng tại một số trường đại học và thị trường bảo hiểm
Châu Á: "Bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít
người cho nhiều người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổ
chức ra một quỹ tài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham gia
bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm, để bồi thường hoặc bù đắp những tổn thất do
những rủi ro đó gây ra”
Khi xem xét bảo hiểm từ khía cạnh những bên liên quan khác nhau đến
hợp đồng bảo hiểm, bảo hiểm được định nghĩa như sau:
Từ phía người được bảo hiểm, bảo hiểm là tổ chức hợp lý một nhóm
người có chung một loại rủi ro có thể xảy ra. Các khoản đóng góp về tài chính
của họ cho phép bồi thường những thiệt hại mà một số người trong nhóm phải
gánh chịu khi có tổn thất. Nhờ có bảo hiểm mà tổn thất sẽ nhẹ đi nếu chia sẻ cho
nhiều người và là gánh nặng nếu một vài người phải gánh chịu tất cả.
Trên giác độ của người cung cấp dịch vụ bảo hiểm, ở đây là các doanh
nghiệp bảo hiểm, bảo hiểm là hoạt động kinh doanh mà trong đó, người bảo
hiểm sẽ chấp nhận những rủi ro đối với tài sản hoặc con người của người được
bảo hiểm trên cơ sở người được bảo hiểm thanh toán một khoản phí nhất định.

Để đối phó với các rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu
quả của rủi ro gây ra - đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các
biện pháp tài trợ rủi ro.
Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi
ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro:
Tránh né rủi ro tức là tìm ra phương thức hành động khác không có dấu
hiệu của bất cứ yếu tố nào có thể dấn tới rủi ro
Ngăn ngừa tổn thất được sử dụng để đưa ra các hành động làm giảm tổn
thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra khi không thể né tránh được dù đã
tìm mọi cách.
Nhóm biện pháp tài trợ rủi ro. Biện pháp tài trợ rủi ro gồm các biện pháp
chấp nhận rủi ro và bảo hiểm. (Đây là các biện pháp phải được thực hiện trước
khi rủi ro xảy ra, nhằm mục đích giảm thiểu hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra,
nếu có).
5

+ Chấp nhận rủi ro, tức là người gặp rủi ro tự chấp nhận khoản tổn thất.
Còn gọi là tự bảo hiểm. Có hai hình thức chấp nhận rủi ro, gồm chấp nhận một
cách chủ động và chấp nhận thụ động. Hiệu quả của hai hình thức này không cao
do rơi vào tình huống thụ động, sử dụng không hiệu quả đồng vốn, hoặc sai lệch
trong tính toán lập quỹ dự phòng
+Bảo hiểm: bảo hiểm ngày nay đã trở thành một lựa chọn không thể thiếu
trong hầu hết các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như các cá
nhân.Do nó khắc phục được hầu hết các nhược điểm của các biện pháp khác.
Bảo hiểm chính là sự lựa chọn tối ưu của các chương trình quản lý rủi ro. Rủi ro
được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm sang nhà bảo hiểm. Người tham
gia bảo hiểm nhận được sự tư vấn cho các chương trình kiểm soát rủi ro và đề
phòng hạn chế tổn thất, nhận được khoản tiền bồi thường nhanh chóng, đủ, kịp
thời khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
Ngày nay, với những lợi ích thiết thực của bảo hiểm đối với mọi thành

sẽ chở một lượng hàng mà trong đó bao gồm nhiều phần hàng hoá của các chủ
hàng khác nhau. Lạc đà nào bị cướp, tổn thất được chia đều cho các chủ hàng,
mỗi người tổn thất một phần nhỏ trong tổng số hàng.). Cách thứ hai là bảo hiểm,
theo cách này các nhà buôn và các chủ tàu thuyền chấp nhận trả một khoản tiền
nhất định cho một cá nhân hay tổ chức, người mà đảm bảo rằng nếu hàng hoá
hoặc tàu thuyền của họ bị tổn thất do một số nguyên nhân nhất định nào đó họ sẽ
được trả một khoản tiền để bù đắp thiệt hại xảy ra.
Bảo hiểm hàng hải là lĩnh vực ra đời sớm nhất. Năm 1347, hợp đồng bảo
hiểm hàng hải đầu tiên được phát hành tại Genoa-Ý. Năm 1424, công ty bảo
hiểm đầu tiên, Marietime Insurance Company ra đời. Năm 1583, xuất hiện hợp
đồng bảo hiểm, mà cho đến nay được coi là cổ xưa nhất. Năm 1667, sau vụ cháy
khủng khiếp tại London, làm hơn 13000 ngôi nhà bị cháy, hàng nghìn người thiệt
mạng vào năm 1666, công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên trên thế giới có tên
“Fire Office” hoạt động tại Anh. Sau bảo hiểm hoả hoạn là các quỹ bảo hiểm
nhân thọ cũng xuất hiện từ nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu được chăm lo cho
tương lai.
Từ cuối thế ký 19, cuộc đại cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn thế
giới diễn ra sôi động, mang lại nhiều thành tựu, làm xuất hiện nhiều ngành nghề
7

kinh doanh mới. Cùng với đó là sự gia tăng nhanh chóng các rủi ro có nguyên
nhân xuất phát từ nhóm rủi ro do biến động của khoa học công nghệ. Đây là điều
kiện thuận lợi đẩy mạnh sự phát triển bảo hiểm với những sản phẩm như bảo
hiểm ôtô, máy bay, xây dựng lắp đặt
Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm là một sự đáp ứng đòi hỏi khách
quan của cuộc sống đối với những biến động về tài chính do các sự cố bất ngờ
gây ra. Tham gia bảo hiểm tạo điều kiện khôi phục nhanh chóng thiệt hại, góp
phần sớm ổn định cuộc sống và sản xuất. Ngành bảo hiểm tại tất cả các quốc gia
trên thế giới đóng vai trò không thể thay thế trong các trung gian tài chính, góp
một phần lớn vào sự vững mạnh của thị trường tài chính và sự ổn định của nền

 Thị trường bảo hiểm:, Là một trung gian tài chính bên cạnh ngân
hàng, thị trường chứng khoán.
Tác dụng của bảo hiểm: Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng khác nhau:
 Dàn trải tổn thất (phân tán rủi ro
 Bảo vệ: Tham gia bảo hiểm là bảo vệ cho tính mạng tình trạng sức
khoẻ và tài sản trước nguy cơ xảy ra tổn thất.
 Đề phòng hạn chế tổn thất
 Ổn định đời sống sản xuất kinh của người được bảo hiểm.
 Tạo sự an tâm về mặt tinh thần cho người tham gia bảo hiểm.
 Kích thích tiết kiệm
 Đầu tư phát triển kinh tế
 Đẩy mạnh tín dụng
 Tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Với những lợi ích kể trên, bảo hiểm đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát
triển.
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.
Hoạt động bảo hiểm thương mại phải tuân thủ theo các nguyên tắc chung
sau đây:
Nguyên tắc 1: Phải tuân theo luật hợp đồng.
Hợp đồng là căn cứ pháp lý để giải quyết những vấn đề pháp lý về
sau.Các hợp đồng bảo hiểm nhất thiết phải là các văn bản pháp lý thể hiện những
quy định cơ bản của luật pháp.
9

Nguyên tắc 2: Lựa chọn rủi ro.
Nhà bảo hiểm được lựa chọn các rủi ro được bảo hiểm, chỉ rủi ro không
ai lường trước được mới được chấp nhận. Thậm chí với những rủi ro bất ngờ
nhà bảo hiểm cũng có thể từ chối bảo hiểm hay chỉ chấp nhận một hay một số rủi
ro trong đó để tiến hành bảo hiểm.
Nguyên tắc 2: Nguyên tắc phân tán rủi ro.

tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp bồi thường khi tài sản bị tổn thất.
Nguyên tắc 9: Nguyên nhân trực tiếp, được hiểu là nguyên nhân đủ mạnh
và có tác dụng làm chuyển động cả một chuỗi sự kiện dẫn đến một kết quả mà
không cần có sự can thiệp cuả bất kỳ một lực nào khác phát sinh và phát huy tác
dụng từ một nguồn độc lập nào khác. Nguyên nhân trực tiếp không nhất thiết là
nguyên nhân đầu tiên hay cuối cùng, nhưng nó phải là nguyên nhân chủ yếu.
1.1.5. Phân loại bảo hiểm.:
1.1.5.1 Theo đối tượng bảo hiểm:
+Bảo hiểm xã hội.
+Bảo hiểm y tế.
+Bảo hiểm thất nghiệp.
+ Bảo hiểm thương mại.
1.1.5.2 Theo tính chất rủi ro hoặc theo luật kinh doanh bảo hiểm:
+Bảo hiểm nhân thọ
+Bảo hiểm phi nhân thọ.
(Bảo hiểm cháy nổ nằm trong mảng bảo hiểm phi nhân thọ, là loại nghiệp
vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm con người
phi nhân thọ)
.1.1.5.3 Theo kỹ thuật quản lý quỹ tài chính:
+Bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật phân chia.
+Bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật tồn tích.
Cách phân chia thứ hai, sử dụng phổ biến hơn cả.
1.2. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM CHÁY NỔ.
1.2.1 Cháy và sự cần thiết của bảo hiểm cháy.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm cháy, tuy nhiên theo luật
PCCC hiện nay cháy được hiểu là trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được
11

có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường.( Điều 3-Luật
PCCC)

Năm 2001, vụ cháy tại Vising Pack thiệt hại trên 1,4 triệu $.
Ngày 29-10-2002: Cháy lớn tại trung tâm thương mại ITC Thành phố Hồ
Chí Minh làm chết 60 người, trên 100 người bị thương, thiẹt hại 1,1 tỷ đồng cho
toà nhà và 100 tỷ đồng cho các tài sản khác.
01-04-2003: Cháy ở Interfood, thiệt haị 70 tỷ đồng.
03-03-04: Chaý ở nhà máy giày Pouyuen, thiệt hại 9000 m² nhà xưởng,
thiệt hại trên 4,4 triệu $
Năm 2005, tại Thành phố Hồ Chí Minh, xảy ra 270 vụ, giảm 92 vụ
( 35%) so với năm 2004. Tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 21 tỷ 248
triệu đồng, làm chết 13 người, bị thương 50 người
Ngày 29/12/2006 Tại Thành phố Qui Nhơn, xảy ra vụ cháy chợ Qui
Nhơn, thiệt hại 120 tỷ đ.
Năm 2006, cả nước xảy ra 1648 vụ cháy cơ sở sản xuất kinh doanh và
nhà dân, làm chết 53 người, bị thương 154 người.
Riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hai trung tâm kinh tế quan
trọng nhất nước, xảy ra tình trạng cháy nổ nhiều nhất nước. Theo thống kê của
phòng PCCC, riêng thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 đã xảy ra 293 vụ cháy,
làm chết 11 người, thiệt hại tài sản 58,7 tỷ đồng. Số vụ cháy xảy ra trên toàn
thành phố gia tăng 24 vụ, thêm 3 người chết, 11 ngưòi bị thương và thiệt hại
hàng tỷ đồng so với 2003. Năm 2007, những tháng đầu năm ,từ tháng 1 đến
tháng 3, tại Hà Nội xảy ra 49 vụ cháy. Tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ riêng
tháng 3/2007 cũng xảy ra 49 vụ cháy,làm chết 3 người và thiệt hại 9,8 tỷ đồng.
Có thể thấy rằng cháy có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, với bất
cứ ai, dù đã có ý thức PCCC nhưng vẫn không thể xoá bỏ hoàn toàn nguy cơ
cháy nổ và tổn thất do cháy gây ra thường rất lớn, có khi mang tính chất thảm
hoạ.
Hoả hoạn là vấn đề nhức nhối của xã hội, và là một trong những rủi ro
diễn ra khá phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, Hậu quả thường rất rất lớn
(cả tài sản và con người, và việc gián đoạn kinh doanh); đồng thời ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường sống. Tại Indonesia, mỗi năm các vụ cháy rừng tạo

phòng cháy chữa cháy hữu hiệu. Khi cháy xảy ra, người bị hại thường dựa vào
sự giúp đỡ của phường hội. Phải đến năm 1666, sau vụ cháy lớn ở Luân Đôn kéo
14

dài trong nhiều ngày, người ta mới ý thức được tầm quan trọng của việc thiết lập
hệ thống PCCC và bồi thường cho người bị thiệt hại.Năm 1667 ở Anh xuất hiện
một số văn phòng cung cấp dịch vụ phòng cháy chữa cháy và bảo hiểm cháy.
Năm 1864 công ty bảo hiểm cháy đầu tiên (công ty Friendly Society) ra đời, hoạt
động trên nguyên tắc tương hỗ, sau đó hàng loạt các công ty bảo hiểm cháy khác
được thành lập và dần lan rộng sang các nước káhc trên lục địa châu Âu. Ngày
nay, nghiệp vụ bảo hiểm cháy được tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới và
ngày càng phát triển.
Khi bảo hiểm cháy đi vào hoạt động tại các quốc gia, người ta nhận thấy
những tác động tích cực của nó đến đời sống kinh tế, xã hội của người dân như
sau:
 Tích cực góp phần đề phòng, hạn chế hiện tượng cháy nổ xảy ra trong
xã hội, từ đó góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
 Giúp người dân nâng cao tinh thần ý thức PCCC.
 Trực tiếp góp phần giúp các cơ quan, doanh nghiệp nhà máy ổn định
sản xuất kinh doanh, làm cho quá trình kinh doanh diễn ra liên tục.
 Nghiệp vụ này ra đời đã giúp các công ty bảo hiểm nhân thọ trên thế
giới tăng doanh thu, lợi nhuận, đồng thời tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội.
Ở Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm cháy được triển khai từ cuối năm 1989.
Qua một số năm thực hiện nghiệp vụ này ngày càng phát triển. Năm 2000 doanh
thu phí bảo hiểm cháy đạt 16200000 USD (khoảng 259 200 triệu đồng), đến năm
2006 đạt 517 tỷ đồng, chiếm 6.36 % tổng doanh thu phí tất cả các nghiệp vụ.,
đứng sau nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chiếm 34,73%, nghiệp vụ sức khoẻ và
tai nạn con người chiếm 14.6234%, và nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và thiệt hại
chiếm 19.1494%. Tốc độ tăng trưởng của nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ năm 2006
là 10.6%, đứng thứ 4 sau nghiệp vụ bảo hiểm Bảo hiểm tài sản và thiệt hại

ràng thực trạng tài sản tham gia bảo hiểm hoả hoạn của mình, nhà bảo hiểm chia
đối tượng bảo hiểm như sau:
 Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng (trừ đất đai .
 Máy móc thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh.
 Vật tư hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu dự trữ trong kho.
16

 Nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm đang trong dây
truỳên sản xuất.
 Các loại tài sản khác như: Kho, bãi ,chợ, nhà hàng, khách sạn, cây
xăng…
1.2.2.3 Phạm vi bảo hiểm cháy.
Là giới hạn các rủi ro được bảo hiểm, giới hạn trách nhiệm của các nhà
bảo hiểm. Nhìn chung, các công ty bảo hiểm trên thế giới đều giới hạn trách
nhiệm bồi thường của mình ở các loại thiệt hậi và chi phí sau:
 Thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm gây ra.
 Chi phí cần thiết và hợp lý để hạn chế bớt tổn thất về tài sản trong và
sau khi cháy.
 Chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi cháy.
Tuy nhiên để phạm vi bảo hiểm thể hiện rõ trong các qui tắc bảo hiểm,
nhà bảo hiểm luôn luôn đưa ra hai loại rủi ro đựơc bảo hiểm bao gồm:
Thứ nhất: Rủi ro hoả hoạn (rủi ro chính hay rủi ro cơ bản, hoặc rủi ro
nhóm A):
Rủi ro này thực chất gồm ba phần, cháy, sét và nổ.
- Cháy được bảo hiểm phải được hội tụ đủ 3 yếu tố:
+Thực chất có sự phát lửa.
+Lửa đó không phải là lửa chuyên dùng (Nhất thiết phải có một cái gì đó
trong đám lửa mà đáng lẽ thứ đó không được có trong đó).
+Về bản chất, đám lửa đó phaỉ là bất ngờ hay ngẫu nhiên đối với người
được bảo hiểm chứ không phải là cố ý, có chủ định của họ hoặc có sự đồng loã

hiểm khi đi kèm theo rủi ro chính, tuỳ thuộc vào quyết định của người tham gia
bảo hiểm. Các rủi ro phụ bao gồm: máy bay và các phương tiện hàng không
khác hoặc thiết bị trên các phương tiện đó rơi vào, nổi loạn, bạo động dân sự,
đình công, bể xưởng, động đất, lửa ngầm dưới đất, giông bão, hệ thống chữa
cháy rò rỉ nước…
Trong các nghiệp vụ bảo hiểm, đều có những rủi ro loại trừ. Trên thực tế
có những rủi ro không thể bảo hiểm được. Vì thế, trong bảo hiểm cháy, các loại
trừ được áp dụng như sau:
18

-Tổn thất do hành động cố ý hoặc đồng loã của người được bảo hiểm gây
ra.
-Những tổn thất về:
+ Hàng hoá nhận uỷ hay ký gửi trừ khi những hàng hoá đó được xác
nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm, và người được bảo hiểm
trả thêm phí theo tỷ lệ phí qui định.
+ Tiền bạc, hàng, kim loại, đã quý, chứng khoán, tem phiếu, thư bảo lãnh,
bản vẽ thiết kế, số sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản
mẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi những hạng mục này
được xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm…
+ Chất nổ nhưng không bao gồm nhiên liệu xăng dầu.
+ Người, động vật và thực vật sống.
+ Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất được bảo hiểm theo
đơn bảo hiểm Hàng hải, hoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm Hàng hải,
trừ phần thiệt hại vượt quá số tiền được bồi thường theo đơn bảo hiểm Hàng hải
hoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm Hàng hải.
+ Tài sản bị cướp hay bị mất cắp. Trong trường hợp tài sản bị cướp, mất
cắp trong khi xảy ra hoả hoạn mà người được bảo hiểm không chứng mình được
là mất cắp thì vẫn được bồi thường.
+Những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào, trừ

tài sản cố định, việc xác định STBH căn cứ vào GTBH của tài sản. Đối cới các
tài sản lưu động, giá trị thường xuyên biến động. Vì vậy, STBH có thể xác định
theo giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa.
Nếu bảo hiểm theo gía trị trung bình, người được bảo hiểm ước tình và
thông báo cho công ty bảo hiểm biết gía trị số hàng hoá trung bình có trong
kho, trong cửa hàng. Trong thời gian bảo hiểm giá trị trung bình này được coi là
STBH.
Khi tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường
thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị trung bình đã khai báo.
Nếu bảo hiểm theo giá trị tối đa thì người được bảo hiểm ước tình và
thông báo cho công ty bảo hiểm biết giá trị số lượng hàng hóa tối đa có thể đạt
vào một thời điểm nào đó trong thời gian bảo hiểm. Phí bảo hiểm được tính trên
20

cơ sở gía trị tối đa và thường được thu trước 75%. Khi tổn thất xảy ra thuộc
phạm vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không
vượt quá gía trị tối đa đã khai báo. Đầu mỗi tháng, mỗi quý (tuỳ theo sự thoả
thuận của 2 bên), người được bảo hiểm thông báo cho công ty bảo hiểm số hàng
tối đa thực có trong tháng, trong quý trước đó. Cuối thời hạn bảo hiểm, trên cơ
sở các gía trị được thông báo, công ty bảo hiểm tính giá trị số hàng tối đa bình
quân của cả thời hạn bảo hiểm và tính lại phí bảo hiểm. Nếu phí tính được trên
cơ sở số giá trị tối đa bình quân nhiều hơn số phí bảo hiểm đã nộp thì người được
bảo hiểm trả thêm cho công ty bảo hiểm số phí còn thiếu.
Trong thời gian bảo hiểm, tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm được người
bảo hiểm bồi thường và số tiền bồi thường (STBT) vượt quá giá trị tối đa bình
quân thì phí bảo hiểm được tính dựa vào số tiền bồi thường đã trả. Trong trường
hợp này số tiền được bồi thường được coi là STBH.
Việc áp dụng bảo hiểm theo giá trị tối đa rất phức tạp, đòi hỏi người bảo
hiểm phải biết giá trị hàng hoá được bảo hiểm, theo dõi chặt chẽ số hàng hoá đó
trong suốt thời gian hiểm. Những tài sản có giá trị lớn công ty bảo hiểm khó có

nhiên, khả năng chịu lửa không tốt bằng vật liệu nặng, loại này được sử dụng để
xây dựng công trình loại N.
+Vật liệu nhẹ: Loại này dễ bắt lửa và không có sức chịu lửa, thường được
để xây dựng công trình loại L.
-Ảnh hưởng của các tầng nhà: Khi xảy ra hoả hoạn, lửa hoặc hơi nóng sẽ
được truyền lên qua các tầng nhà, qua các cầu thang lên xuống, qua lỗ hổng hoặc
qua cửa sổ làm cho các tầng nhà có thể bị sập kéo các thiệt hại bên trong. Do đó,
sức chịu đựng của các tầng nhà cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm.
- Phòng cháy, chữa cháy: Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
việc tính phí. Công tác PCCC là một yếu tổ để điều chỉnh phí bảo hiểm. Nếu
côgn tác PCCC được trang bị tốt để hạn chế thấp nhất rủi ro xảy ra thì phí bảo
hiểm sẽ được tính thấp hơn. Vị trí gần hay xa nguồn nước, đội cứu hoả…cũng
ảnh hưởng đến phí bảo hiểm.
-Cách phân chia đơn vị rủi ro: Theo khoảng cách phân chia hoặc tường
chống cháy. Các đơn vị rủi ro càng gần nhau, phí bảo hiểm càng cao và ngược
lại.
22

-Bao bì đóng gói, chủng loại hàng hoá, cách thức xếp đặt: Tuỳ từng loại
hàng hoá, bao gói hay cách thức xếp đặt hàng hoá mà phí bảo hiểm phải căn cứ
vào đó mà xác định.
Tỷ lệ phí bảo hiểm cháy thường được chia làm 2 bộ phận: Tỷ lệ phí thuần
và tỷ lệ phụ phí.
R=R1+R2
Trong đó:
 R1: Tỷ lệ phí thuần.
 R2 : Tỷ lệ phụ phí.
Khi xác định tỷ lệ phí thuần thường phải căn cứ vào só liệu thống kê
trong một số năm trước đó như: Tổng số đơn vị rủi ro tham gia bảo hiểm cháy;
số đơn vị rủi ro bị cháy; tổng số tiền bảo hiểm cháy; số tiền bồi thường bảo hiểm

 Thiết bị phương tiện chữa cháy như:
 Công trình có hệ thống phun nước;
 Có hệ thống dập cháy bằng CO2;
 Có hệ thống tự động dập cháy bằng CO2;
 Có ôtô chữa cháy và nhân viên chữa cháy;
 Gần đội cứu hoả công cộng
Khi xem xét việc tăng giảm phí, nhân viên bảo hiểm phải đi thực địa,
xem xét một cách nghiêm túc, đặc biệt khi xem xét các yếu tố này cần hết sức
khách quan, sau đó hai bên thoả thuận với nhau trước khi ký hợp đồng.
Tỷ lệ phụ phí: R2 được nhà bảo hiểm kế hoạch hoá từ trước, và duy nhất
chỉ phụ thuộc vào thời hạn bảo hiểm và công tác quản lý rủi ro sau khi ký kết
hợp đồng. Thông thường phí bảo hiểm thường rất lớn nên người tham gia bảo
hiểm có thể nộp phí một lần hoặc nhiều lần là do 2 bên thoả thuận.
Trong nghiệp vụ này, còn áp dụng các mức miễn thường. Tuỳ theo từng
loại tài sản được bảo hiểm mà mức miễn thường được quy định khác nhau.
Thông thường, trong bảo hiểm cháy áp dụng mức miễn thường có khấu trừ tối
thiểu là 2% STBH nhưng không dưới 100 USD trên mỗi vụ tổn thất và tối đa
không quá 2.000 USD trên mỗi vụ tổn thất. Đây là mức miễn thường bắt buộc
không được giảm phí. Nếu người tham gia bảo hiểm muốn lựa chọn mức miễn
24

thường cao hơn để được giảm phí thì sẽ có thoả thuận riêng về mức miễn thường
và tỷ lệ giảm phí.
1.2.2.6 Thời hạn bảo hiểm.
Thông thường thời hạn bảo hiểm là một năm và tính từ khi người tham
gia bảo hiểm nộp phí cho đến thời điểm 16h ngày cuối cùng của thời hạn bảo
hiểm. Sau khi kết thúc thời hạn bảo hiểm, người được bảo hiểm có thể đóng phí
tiếp và yêu cầu tái tục hợp đồng bảo hiểm.
1.2.2.7 Giám định trong bảo hiểm cháy.
- Khi tài sản của người được bảo hiểm bị hoả hoạn, người tham gia phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status