BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN THỊ THƯƠNG HUYỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, CHẾ ĐỘ CHO
ĂN LÊN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG
TU HÀI (Lutraria rhynchaena Jonas, 1844) GIAI ĐOẠN
SỐNG NỔI ĐẾN CON GIỐNG 5 mm
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2014
Khánh Hòa - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do chính bản thân tôi thực hiện. Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực. Các thông tin
trong và ngoài nước được chú thích đầy đủ và trích dẫn rõ ràng khi sử dụng.
Người viết
Phan Thị Thương Huyền
tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Tiến sĩ Ngô Anh Tuấn
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và
hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Viện Nuôi trồng thuỷ sản và
Khoa Sau đại học - Trường Đại Học Nha Trang - những người đã dạy dỗ và truyền đạt
kiến thức và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp những người đã
luôn bên cạnh tôi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực đề tài và hoàn thành luận văn này.
Và tôi xin dành sự biết ơn đến gia đình- bố mẹ, chồng, các anh chị em và con,
những người luôn cổ vũ động viên cho tôi vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống và
đặc biệt là trong quá trình học tập, thực hiện đề tài này.
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
sống của ấu trùng tu hài giai đoạn sống nổi 21
2.2.2. Bố trí thí nghiệm ương nuôi ấu trùng tu hài spat đến con giống 5 mm 22
2.2.2.1. Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của thức ăn lên lên tăng trưởng và tỷ lệ sống
của ấu trùng tu hài giai đoạn sống đáy (spat) đến con giống 5mm 22
2.2.2.2. Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ
sống của ấu trùng tu hài giai đoạn sống đáy (spat) đến con giống 5mm 23
2.3. Phương pháp thu thập và phân tích, xử lý số liệu 24
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 24
2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu 25
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1. Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 26
3.2. Kết quả thí nghiệm ương nuôi ấu trùng tu hài giai đoạn sống nổi 27
3.2.1. Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu
trùng tu hài giai đoạn sống nổi 27
3.2.1.1.Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng của ấu trùng tu hài 27
3.2.1.2.Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng tu hài giai đoạn sống
nổi 30
3.2.2. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống
của ấu trùng tu hài giai đoạn sống nổi 32
3.2.2.1.Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên tăng trưởng của ấu trùng tu hài giai
đoạn sống nổi 32
3.2.2.2. Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng tu hài giai
đoạn sống nổi 35
3.3. Kết quả thí nghiệm ương nuôi ấu trùng tu hài giai đoạn spat đến con giống 5mm
36
3.3.1. Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu
trùng tu hài giai đoạn spat đến con giống 5mm 36
3.3.1.1. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng của ấu trùng tu hài giai đoạn
spat đến con giống 5mm 36
3.3.1.2. Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của tu hài giai đoạn ấu trùng spat
vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐVTM Động vật thân mềm
µm micromet
mm milimet
cm centimet
m mét
µL microlit
mL mililit
mg miligam
g gam
% Phần trăm
‰ Phần nghìn
TB Trung bình
TSD Tuyến sinh dục
S‰ Độ mặn
o
C Nhiệt độ
> Lớn hơn
< Nhỏ hơn.
Bảng 3. 2: Tăng trưởng về kích thước chiều dài của ấu trùng tu hài giai đoạn sống nổi
ở các nghiệm thức thức ăn 28
Bảng 3. 3: Tỷ lệ sống của ấu trùng tu hài ở các nghiệm thức thức ăn khác nhau 30
Bảng 3. 4: Tăng trưởng về kích thước chiều dài của ấu trùng tu hài giai đoạn sống nổi
ở các chế độ cho ăn khác nhau 33
Bảng 3. 5: Tỷ lệ sống của ấu trùng tu hài ở các chế độ cho ăn khác nhau 35
Bảng 3. 6: Tăng trưởng chiều dài của ấu trùng tu hài spat đến con giống 5mm 37
Bảng 3. 7: Tỷ lệ sống của tu hài từ ấu trùng spat đến con giỗng kích cỡ 5mm 39
Bảng 3. 8: Tăng trưỏng chiều dài của tu hài ở các chế độ cho ăn khác nhau 42
Bảng 3. 9: Tỷ lệ sống của tu hài ở các chế độ cho ăn khác nhau 44
viii
DANH MỤC HÌNH
xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, hạn chế tình trạng thất nghiệp, góp phần thúc đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn. Thủy sản phát triển còn là
một trong những phương tiện mở ra xu hướng hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội
nhập kinh tế nước ta với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, các hoạt động đánh bắt và
nuôi trồng thủy sản diễn ra ồ ạt, thiếu quy hoạch đã làm cạn kiệt nhiều nguồn lợi thủy
sinh vật ven biển, gây ô nhiễm môi trường nuôi, vật nuôi dễ bị bệnh, thất thóat, rủi ro
cao, sản phẩm có chất lượng kém, và dẫn đến hiện nay nhiều diện tích nuôi thủy sản
phải bỏ hoang, nhiều hộ dân phải bỏ nghề vì thua lỗ. Vì vậy, một trong những giải
pháp được Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt tại Quyết
định số 1628/QĐ-BNN-TCTS ngày 20/7/2011 là quy hoạch nuôi các đối tượng Động
vật thân mềm (ĐVTM) ở các vùng ven biển, tạo ra sản phẩm có tính hàng hóa tập
trung, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm do hoạt động nuôi tôm và các đối tượng thủy sản
thiếu quy hoạch gây ra, phục hồi và bảo vệ nguồn lợi một số giống loài thủy sản đã và
đang có nguy cơ tuyệt chủng và giải quyết tình trạng thất nghiệp của người dân ven
biển [2].
Tu hài là loài ĐVTM hai mảnh vỏ theo phương thức ăn lọc, thức ăn là các mùn
bã hữu cơ và các sinh vật phù du. Thịt tu hài thơm ngon, có hàm lượng dinh dưỡng cao
và có giá trị kinh tế. Do đó, những năm gần đây nghề nuôi tu hài ở nước ta phát triển
rộng khắp và được xác định là đối tượng xuất khẩu chủ lực trong giai đoạn 2010-2020.
Nghề nuôi tu hài phát triển đã làm tăng nhu cầu cung cấp con giống. Hiện nay,
sản xuất giống tu hài ở Việt Nam đã đạt được một số thành quả đáng kể. Tuy nhiên,
việc sản xuất giống vẫn gặp không ít khó khăn với tỷ lệ sống thấp trong giai đoạn ấu
trùng và giai đoạn xuống đáy, tỷ lệ hao hụt cao trong quá trình vận chuyển, chất lượng
con giống không ổn định. Những khó khăn đó một phần là do quy trình sản xuất giống
chưa hoàn thiện, thức ăn chưa đảm bảo. Do đó, những nghiên cứu về thức ăn cho ấu
trùng tu hài cần được cải tiến nhằm hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống, tạo
ra con giống đạt chất lượng cao.
2 3
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số đặc điểm sinh học của tu hài
Tu hài (Lutraria rhynchaena Jonas, 1844) là loài động vật thân mềm (ĐVTM) hai
mảnh vỏ có giá trị dinh dưỡng cao. Kết quả nghiên cứu về sinh hóa của tu hài cho thấy
thành phần các chất chính có trong phần thịt thân mềm xác định theo phần trăm khối
lượng tươi như sau: protein 11,63%; đường 0,42%; khoáng 1,22%; nước 82,3% [11].
1.1.1. Vị trí phân loại
Theo Hylleberg và Kilburn, 2003 vị trí phân loại của tu hài Lutraria
rhynchaena như sau:
Ngành: Mollusca
Lớp: Bivalvia
Lớp phụ : Heterodonta
Bộ: Veneroida
Tổng họ: Mactracea
Họ: Mactridae
Giống: Lutraria
Loài: Lutraria rhynchaena Jonas, 1844 [11].
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Tu hài (Lutraria rhynchaena Jonas, 1844) có kích thước khi trưởng thành từ 7-
12 cm, khối lượng từ 50 – 200 g/con, hình bầu dục, chiều dài vỏ thường gần gấp đôi
chiều cao. Vỏ bằng đá vôi có màu vàng nâu, tuy nhiên màu sắc của tu hài có phần biến
Tập tính sống: Tu hài là loài ĐVTM rộng muối, chúng có thể sống bình thường
ở độ mặn từ 20-34‰, nhiệt độ 18-33
o
C, và sống ở độ sâu 5-10m, đôi khi còn bắt gặp ở
độ sâu 20m, chất đáy là cát, sỏi có pha ít sét, bùn và mảnh vỏ ĐVTM. Tu hài sống vùi
trong đáy, lỗ của chúng thường sâu 20- 50 cm [4].
Tu hài sống vùi mình trong đáy cát sâu theo chiều thẳng đứng. Ban ngày để
tránh kẻ thù tu hài thụt ống thoát hút nước vào bên trong vỏ hoặc chỉ thò 1/3 ra ngoài,
ban đêm chúng vươn dài ống thoát hút nước để hút lọc thức ăn trong môi trường. Chỉ
cần có tác động nhẹ lên ống thoát hút nước tu hài hoặc gặp kẻ thù chúng co ống thoát
hút nước lại rất nhanh và chui sâu vào lỗ. Đây là bản năng tự vệ giúp tu hài tránh
được kẻ thù [11].
Khác với các loài ĐVTM khác như hàu, vẹm xanh sau khi kết thúc giai đoạn
sống trôi nổi chúng sống cố định trên vật bám. Tu hài có thể di chuyển đến nơi khác
5
khi gặp điều kiện sống không thích hợp. Phương thức di chuyển cũng không giống các
loài ĐVTM khác như ốc hương, bào ngư bò trên nền đáy nhờ chân. Đối với tu hài khi
gặp điều kiện bất lợi chúng nhoi mình lên nền đáy, vươn dài ống thoát hút nước để hút
đầy nước sau đó đột ngột co ống lại phụt mạnh nước ra để tạo phản lực đẩy cơ thể về
phía trước. Mỗi lần như vậy tu hài có thể di chuyển được từ 1-3 cm [6].
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng
Hầu hết các loài ĐVTM hai vỏ có giá trị kinh tế cao sử dụng các loài sinh vật
phù du làm thức ăn. Tuy nhiên kết quả phân tích thức ăn trong dạ dày đã không xác
định được chính xác thành phần thức ăn. Nguyên liệu thu được gồm nhiều thành phần
khác nhau như các chất hữu cơ, chất khoáng, chất keo, mẫu hữu cơ lắng động và một
số thành phần sinh vật sống. Thức ăn của ĐVTM thay đổi theo mùa và vị trí địa lý
ngay cả trong một loài [4].
nhanh về chiều dài, từ cỡ giống 5mm sau 20 - 25 ngày kích thước tăng lên 12-15mm.
Sau khi đạt chiều dài vỏ 3 – 4 cm tốc độ phát triển chiều dài vỏ chậm lại. Lúc này khối
lượng, chiều rộng và chiều cao, bắt đầu tăng nhanh [5, 11].
1.1.7. Đặc điểm sinh sản
Tuyến sinh dục:
Tuyến sinh dục của tu hài nằm ở gờ nội tạng xung quanh gốc chân (về phía đỉnh
vỏ), và lẫn trong các cơ quan nội tạng [3]. Dựa vào những thay đổi trong quá trình phát
triển của tuyến sinh dục. Từ đó, nhiều tác giả đã đưa ra cách phân chia khác nhau, theo
Trần Trung Thành (2008), tuyến sinh dục của tu hài thành 5 giai đoạn, từ giai đoạn I
đến giai đoạn V. Giai đoạn I tuyến sinh dục chưa phát triển. Giai đoạn II tuyến sinh
dục bắt đầu phát triển. Giai đoạn III tuyến sinh dục phát triển mạnh, số lượng tế bào
sinh trứng và sinh tinh tăng lên. Giai đoạn IV trứng và tinh trùng thành thục. Giai
đoạn V, sau khi đẻ, tuyến sinh dục rỗng, xẹp xuống. Hình thái ngoài của tuyến sinh
dục đực và cái giống nhau, chỉ khác nhau về màu sắc. Khi thành thục, tuyến sinh dục
của con đực màu trắng đục, con cái có màu nâu nhạt [7].
Phương thức sinh sản :
Tu hài có phương thức sinh sản noãn sinh. Trứng và tinh trùng được phóng ra
ngoài môi trường nước, chúng gặp nhau tạo thành hợp tử, trải qua quá trình phân cắt
phôi, từ trứng thụ tinh phát triển thành ấu trùng.[11]
Mùa vụ sinh sản:
Mùa vụ sinh sản của ĐVTM hai vỏ tùy thuộc vào loài và điều kiện sống. Một
số loài có tuyến sinh dục thành thục quanh năm thì có thể đẻ được quanh năm, nhưng
cũng có loài chỉ thành thục trong những mùa nhất định 3. Trong tự nhiên tu hài thành
thục hầu hết các tháng trong năm, nhưng tỷ lệ thành thục cao nhất tập trung từ tháng
7
12 năm trước đến tháng 4 năm sau 13, 8, 4]. Mùa vụ sinh sản chịu ảnh hưởng rất lớn
bởi các điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ mặn. Các yếu tố môi trường không chỉ
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm tu hài đã
được xây dựng và ứng dụng, thúc đẩy sản xuất giống và nuôi tu hài thương phẩm phát
triển mạnh mẽ ở các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Khánh Hòa. Tuy nhiên, hiện nay
dịch bệnh đã làm tu hài nuôi chết hàng loạt, hầu hết hộ dân và các trang trại nuôi phá
dỡ lồng bè, thay đổi đối tượng nuôi, hoặc bỏ hoang bè bãi nuôi [7, 12].
1.2.2.1. Sản xuất giống nhân tạo tu hài
Các công trình nghiên cứu về sản xuất giống tu hài gồm có các tác giả: Lê Xân,
Hoàng Nhật Sơn, Hoàng Hải (2001); Hà Đức Thắng, Hà Đình Thùy (2004); Trần
Trung Thành (2008), Ngô Anh Tuấn (2012). Trong đó, các công trình nghiên cứu của
Hà Đức Thắng, Hà Đình Thùy (2004) và Trần Trung Thành (2008) và Ngô Anh Tuấn
(2012) là tương đối đầy đủ. Nghiên cứu trên đã tiến hành từ khâu lựa chọn đàn bố mẹ,
nuôi vỗ thành thục, kích thích đẻ trứng và phóng tinh, thu trứng đã thụ tinh và ương
nuôi đến giai đoạn sống đáy, quản lý bể ương, phương pháp thu và ương ấu trùng
xuống đáy. Qua các công trình nghiên cứu trên quy trỉnh sản xuất giống tu hài có thể
tóm tắt như sau:
- Tuyển chọn tu hài bố mẹ: tu hài bố mẹ phải đạt kích thước chiều dài vỏ lớn
hơn 63 mm; khối lượng 80 – 100 g/con. Chọn cá thể khỏe mạnh, vỏ không bị dập nát.
Khi nhấc lên khỏi mặt nước phần thịt giữa 2 mảnh vỏ khép lại kín, khi thả xuống nước
chân đào nhanh chóng được thò ra để đào lỗ ẩn mình vào trong nền đáy.[7, 11]
- Nuôi vỗ thành thục: tu hài bố mẹ khi bắt được ở ngoài tự nhiên đưa về thì cho
đẻ ngay. Nếu không có hiện tượng phóng tinh và trứng thì phải nuôi vỗ để tu hài thành
thục và phát dục với mật độ nuôi 15 con/m
2
, cho ăn 1 ngày 2 lần (buổi sáng và buổi
chiều) thức ăn chính là tảo đơn bào, mật độ tảo 250.000 – 300.000 tế bào/mL. [7, 11]
- Nghiên cứu kích thích phóng tinh và đẻ trứng tu hài: Các phương pháp được sử
công nghệ sản xuất tu hài cho tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng. Kết quả đến nay T.S Lê
Xân đã có năm trại sản xuất giống tu hài ở qui mô lớn, sản xuất và cung cấp giống cho
các cơ sở nuôi. Sản lượng giống sản xuất khoảng 5 triệu con: trong đó Trại thực
nghiệm Cát Bà của Viện NCNTTS I sản xuất được 1 triệu con, tỉ lệ sống tính từ hậu kỳ
đến giống cỡ 7-10mm đạt trung bình 5%. Từ năm 2007 đến nay Viện nghiên cứu
NTTS III đã chuyển giao công nghệ sản xuất giống tu hài cho các tỉnh Khánh Hòa,
Bình Định và Phú Yên [7].
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về sản xuất giống tu hài được hoàn
thành và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, đến nay chất lượng con giống tu hài không
ổn định, tỷ lệ sống thấp trong giai đoạn ấu trùng và giai đoạn xuống đáy, tỷ lệ hao hụt
cao trong quá trình vận chuyển và nuôi thương phẩm, dẫn đến tình trạng không đủ số
lượng con giống cung cấp cho người nuôi. Những khó khăn đó cho thấy một phần là do
quy trình sản xuất giống chưa hoàn thiện, thức ăn chưa đảm bảo.[7, 8, 13]
Các công trình nghiên cứu về sử dụng các loài vi tảo làm thức ăn cho ấu trùng
nhưng chỉ thí nghiệm ở việc sử dụng thức ăn là một hay nhiều loài tảo, thức ăn là tảo
tươi, tổng hợp hay tảo khô, lượng thức ăn sử dụng theo các đối tượng ĐVTM hai
mảnh vỏ nói chung, chưa bố trí thí nghiệm cụ thể về lượng thức ăn sử dụng là bao
nhiêu thích hợp cho phát triển ấu trùng. Giai đoạn ấu trùng chữ D các tác giả trong
10
nước đều sử dụng thức ăn là các loài tảo đơn bào trong đó có loài tảo Nannochloropsis
sp., trong khi trên thế giới các loài ĐVTM hai mảnh vỏ giai đoạn ấu trùng chữ D và
suốt giai đoạn ấu trùng nổi tảo Isochrysis sp rất quan trọng, nó vừa có giá trị dinh
dưỡng cao và phù hợp với kích cỡ ấu trùng. Vì vậy, tảo Isochrysis sp thường được sử
dụng đơn loài hay kết hợp với các loài tảo khác làm thức ăn cho ấu trùng. [7, 8, 17]
1.2.2.2. Nuôi thương phẩm tu hài
Năm 2001, nghề nuôi thương phẩm tu hài được bắt đầu và phát triển thịnh
vượng vào những năm 2007-2010. Tuy nhiên, từ năm 2011- 2013 dịch bệnh đã làm tu
đến người dân các xã trong tỉnh Khánh Hòa và một số địa phương thuộc các tỉnh Bình
Định, Phú Yên, đến nay nghề nuôi tu hài ở Khánh Hòa bắt đầu phát triển.[7]
Nghề nuôi Tu hài tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh như Hải
Phòng, Quảng Ninh, Phú Yên, Khánh Hòa, Bà Rịa- Vũng Tàu và nghề nuôi tu hài đã
và đang tiếp tục được nhân rộng ra các tỉnh ven biển khác. Tuy nhiên, việc đáp ứng
nhu cầu về con giống chưa thực sự ổn định cộng với tình hình dịch bệnh nuôi trên tu
hài và các đối tượng ĐVTM khác như hầu, vẹm đang là mối lo cho nghề nuôi tu hài
thương phẩm [7].
1.2.2.3. Nghiên cứu về bệnh tu hài
Trong sản xuất giống nhân tạo tu hài cũng như các đối tượng hai mảnh vỏ khác,
các tác nhân gây bệnh gồm virut, vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật, giun, động vật
giáp xác ký sinh. Đặc biệt nấm đỏ và nguyên sinh động vật có thể gây cho ấu trùng
chết hàng loạt. Bệnh thường xuất hiện vào các tháng 11; 12; và tháng 1, đặc biệt nấm
đỏ, đây là những tháng mùa đông nhiệt độ nước xuống thấp (22 – 25
o
C). Nguyên sinh
động vật cũng rất nguy hiểm đối với ấu trùng tu hài, chúng chui vào ruột những cá thể
yếu và ăn hết nội tạng. Các loại bệnh trên thường gây chết nhiều nhất ở giai đoạn chữ
D, lúc ấu trùng còn nhỏ sức chịu đựng yếu [7].
Năm 2011, hiện tượng tu hài chết hàng loạt xuất hiện hầu hết các vùng nuôi trong
cả nước, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi tu hài thương phẩm. Hiện tượng tu
hài chết xuất hiện ở mọi kích cỡ từ tu hài giống đến tu hài thương phẩm.
Trước hình dịch bệnh ở tu hài Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với
các nhà khoa học đầu ngành đã tổ chức các cuộc hội thảo về tu hài và triển khai một số
nghiên cứu về bệnh tu hài. Đề tài “Nghiên cứu dịch bệnh gây chết hàng loạt ở tu hài
(Lutraria philippinarum Reeve, 1854) nuôi tại Việt nam’’ của Viện Nghiên cứu Nuôi
trồng thủy sản I đã đưa ra kết quả rằng hiện tượng tu hài chết có liên quan đến mầm
bệnh và diễn biến có xu hướng lây lan (phát triển thành dịch), tác nhân chính gây chết
hàng loạt tu hài nuôi là virus gây sưng vòi cộng thêm độ pH, độ mặn gây chết. Nguyên
nhân do kỹ thuật nuôi, quy hoạch, kiểm soát con giống. Hiện nay, mật độ nuôi quá dày
ĐVTM thay đổi tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng. Giai đoạn ấu trùng đòi hỏi nguồn tảo
phải đủ chất lượng về mặt thành phần hóa sinh và sạch khuẩn. Giai đoạn hậu ấu trùng
chất lượng tảo có thể thấp hơn nhưng thành phần hoá sinh vẫn phải đáp ứng được nhu
cầu dinh dưỡng của đối tượng nuôi. Giai đoạn bố mẹ đòi hỏi cung cấp tảo phải đủ cả
về số lượng cũng như chất lượng. Do đó, để sản xuất giống và nuôi các đối tượng
ĐVTM luôn đòi hỏi phải sản xuất một lượng tảo lớn để đủ làm thức ăn cho nuôi vỗ bố
mẹ, ương ấu trùng, con giống và nuôi thương phẩm [15].
13
Bảng 1. 1. Mức độ sử dụng của các loài tảo trong
sản xuất giống động vật thân mềm [1]
Tần suất sử dụng (%) theo các tác giả
Tên loài
Walne [19] Cotteau và Sorgeloos [15]
Lớp Bacillariophy ceae
Chaetoceros calcitran
*
40 37
Chaetoceros gracilis - 53
Skeletonema costatum 20 14
Phaeodactylum tricornutum 50 5
Thalassiosira pseudonana* 40 33
Lớp Prymnesiophyceae
Isochrysis galbana * 80 19
Isochrysis affinis galbana
(T-iso*)
loài C. calcitrans cho ấu trùng hầu (Crassostrea gigas) tốc độ sinh trưởng nhanh hơn
so với sử dụng hỗn hợp I. galbana + C. calcitrans [9].
Vi tảo là nguồn cung cấp vitamin quan trọng cho các đối tượng nuôi thuỷ sản,
ngoài thành phần acid béo không no các vi tảo biển còn rất giàu vitamin. Mười loại
vitamin đã được tìm thấy ở vi tảo, trong đó có hàm lượng vitamin C (0,11 – 1,62%
khối lượng khô), B
12
tiếp theo là các vitamin A,D,E. Hàm lượng acid ascorbic (vitamin
C) trong vi tảo có sự khác nhau rất lớn giữa các loài (16 mg/g khối lượng khô ở tảo
C.muelleri; 1,1 mg/g ở tảo T. pseudonana). Còn lại các vitamin khác (thiamin – B1,
riboflavin – B2, pyridoxine – B6, cyanocobalamin – B12, biotin, pyridoxine) chỉ khác
nhau từ 2 – 4 lần giữa các loài tảo. Điều này chứng tỏ rằng, việc lựa chọn một cách cẩn
thận các loại vi tảo kết hợp với nhau sẽ cung cấp đầy đủ vitamin cho chuỗi thức ăn của
động vật nuôi thủy sản [22].
Bảng 1. 2: Kích thước và chất lượng dinh dưỡng của một số loài các vi tảo [22]
Gía trị dinh dưỡng
Các loài tảo
Kích cỡ
(µm)
ARA EPA DHA
Các đặc trưng
khác
Tetraselmis chuii 15 x 9 + +++ - Giàu arginine
I.galbana 3x5 Kđxđ +++ Kđxđ
C. calcitrans 3 – 6 + +++ +
Giàu VTM C,
B
12
C. muelleri 5 - 8 +++ + -
Skeletonema
của ba loài tảo với tỷ lệ: 33 tế bào / µL Isochrysis + 83 tế bào / µL Chaetoceros + 3,3
tế bào / µL Tetraselmis [17, 18].
Bảng 1. 3: Số lượng tế bào tảo ăn mỗi ngày cho mỗi ấu trùng của ba loài hai
mảnh vỏ so với kích thước chiều dài vỏ của chúng. Giá trị được thể hiện là các tế
bào tảo có kích thước tương đương kích thước tảo I. galbana [17]
Các loài ấu trùng hai mảnh vỏ Kích thước chiều
dài vỏ (µm)
Crassostrea.
gigas
Ostrea edulis Tapes
philippinarum
100
110
120
130
140
2.800
6.700
10.600
14.500
18.400 4.400
6.000
8.000
10.200