1
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Hợp tác về Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
(CARD)
027/05VIE Ảnh hưởng của mật độ nuôi thả đến sinh trưởng, tỷ lệ
sống và năng suất của 2 cỡ ngao giống Meretrix lyrata
nuôi ở các vùng bãi triều và các lưu ý trong việc sản
xuất giống ngao spat Như Văn Cẩn
(*)(1)
, Chu Chí Thiết
(1)
and Martin S Kumar
(2)
(1) Phân Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ (ARSINC)
(2) Viện Nghiên cứu và Phát triển Nam Úc (SARDI), Australia
các công thức T1, T2 và T3 khác nhau không có ý nghĩa, điều này giải thích cho việc thu
được lợi nhuận cao nhất và qua mức đầu tư ở công thức 3. Do đó, để tối đa hóa lợi nhuận
trong nuôi ngao thì mật độ thả được khuyến cáo là 0,2 kg.m
2
.
Việc xây dựng các trại sản xuất giống thong qua sự phát triển công nghệ sản xuất
giống là mục tiêu quan trọng của dự án VIE 027/05. Nuôi ngao thương phẩm trong ao
cũng là một mục tiêu của dự án. Sản xuất nhân tạo ngao giống spat sẽ góp phần vào việc
giảm áp lực khai thác con giống từ tự nhiên. Điều này đóng một vai trò quan trọng của
dự án nhằm hướng tới thực hành nuôi trồng thuỷ sản tốt. 3
Ảnh hưởng của mật độ nuôi thả đến sinh trưởng, tỷ lệ
sống và năng suất của 2 cỡ ngao giống Meretrix lyrata
nuôi ở các vùng bãi triều.
Giới thiệu
Trong 2 thập kỷ vừa qua, sản lượng động vật thân mềm đã tăng một cách đáng kể
(Gibbs, 2004) và đạt tổng sản lượng là 13.25 triệu tấn, chiếm khoảng 23.3% tổng sản
lượng thủy sản thế giới năm 2004 (Tacon và Halwart, 2006). Trong số các loại động vật
thân mềm, thì loài 2 mảnh vỏ không chỉ là sản phẩm hải sản được ưu thích, mà còn mang
lại hiệu quả kinh tế đối với loại hình nuôi sinh thái này. Bên cạnh đó, các loài 2 mảnh vỏ
là một loài ăn lọc nước, vì thế có thể được sử dụng chúng như là một hệ thống lọc sinh
học để cải thiện chất lượng nước (Mazzola and Sara, 2001; Shpigel and Blaylock, 1991;
Shpigel et al., 1997; Shpigel et al., 1993), do đó chúng đóng góp vào phát triển nuôi trồng
thủy sản bền vững.
Ngao thuộc loài 2 mảnh vỏ, nhưng chúng khác những loại khác bởi vì chúng sống ở
đáy. Các nghiên cứu nuôi thương phẩm các loài ngao khác nhau đã được tiến hành
(Cigarrıa và Fernandez, 2000; Shpigel và Spencer, 1996; Zhang và Yan, 2006) và đã sử
Thí nghiệm được bố ở các vùng bãi triều thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Thí nghiệm bao gồm 8 công thức với 3 lần lặp lại và được bố trí ở 24 ô, diện tích mỗi
ô 50 m
2
. Ngao giống nhỏ với kích cỡ 1.0±0.2 cm được rải ở 4 mật độ khác: 0.05, 0.10,
0.20 và 0.30 kg.m
-2
và theo thứ tự là các công thức T1, T2, T3 và T4. Ngao giống với
kích cỡ lớn hơn 1.7±0.1 cm được nuôi ở 4 mật độ khác nhau 0.34, 0.68, 1.36 và 2.03
kg.m
2
, theo thứ tự là các công thức T5, T6, T7 và T8. Thí nghiệm được thực hiện trong
thời gian165 ngày.
Các yếu tố như nhiệt độ (nhiệt kế), DO, pH và độ đục (đĩa sechi), độ muối (khúc xạ
kế) của nước trong các ô thí nghiệm được đo hàng ngày ở 3 điểm thí nghiệm khác nhau
trong cùng một khu vực thí nghiệm.
Sự tăng trưởng của ngao, được thể hiện bằng trung bình cao của vỏ (cm) và trọng
lượng tươi trung bình (g), được đo 2 tuần một lần bằng cách lấy ngẫu nhiên 30 con ngao.
Tỷ lệ tăng trưởng (SGR) được tính toán dựa theo công thức của Jara-Jara et al., (1997).
SGR(%.ngày
-1
) = 100*(LnW
f
-LnW
i
)/t
Trong đó: W
i
and W
f
Số liệu của các công thức được kiểm tra về sự khác nhau bằng Turky test trong phân
tích một nhân tố ANOVA để so sánh các trung bình ở mức ý nghĩa p < 0.05. Các số liệu
được thể hiện bằng TB ± SD (độ lệch chuẩn) và phân tích thống kê được tính toán bằng
cách sử dụng phần mềm GraphPad Prism 4.0 và Microsoft Office EXCEL cho Window
Kết quả và thảo luận
Điều kiện môi trường của thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí ở các vùng bãi triều gần cửa sông nơi mà ngao được nuôi
nhiều trong những năm gần đây. Các yếu tố môi trường như DO, nhiệt độ, pH và độ măn
(Bảng 1) nằm trong điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của ngao. Sự biến đổi nồng độ
muối cao là đặc trưng cho các vùng sinh thái cửa sông. Nhiệt độ trung bình là từ
23.59±2.40
o
C, nhiệt độ này thấp hơn so với nhiệt độ nước bình thường ở miền Nam, Việt
nam, nơi mà M. lyrata phân bố tự nhiên. Điều này có nghĩa là ngao không bị ảnh hưởng
bởi các yếu tố đó, vẫn tăng trưởng tốt và tỷ lê sống bình thường. Tuy nhiên, nhiệt độ thấp
có thể ảnh hưởng tới sinh trưởng, và sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của M. lyrata có thể
không cao như là M. lyrata nuôi ở miền Nam. Soudanta et al. (2004) đã mô tả, ngao
Manila được thí nghiệm ở 4 địa điểm nuôi với các đặc điểm sinh thái khác nhau, nhận
thấy các điều kiện môi trường đã ảnh hưởng tới các yếu tố sinh lý và miễn dịch học.
Sự tăng trưởng
Sự tăng trưởng của cả 2 cỡ giống ngao M. lyrata ở các mật độ nuôi khác nhau được
th
ể hiện bằng tỷ lệ tăng trưởng SGR, trong lượng vỏ cuối cùng và trọng lượng tươi cuối
cùng cũng như sự khác nhau về kích cỡ được tổng hợp trong Bảng 2 và 3.
Đối với nhóm cỡ giống nhỏ, không có sự khác nhau về tỷ lệ tằng trưởng SGR và
trong lượng cuối cùng giữa các công thức T1, T2 và T3 (Bảng 2), điều này chỉ ra rằng
mật độ nuôi dưới 0.2 kg.m
-2
không ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của ngao. Kích cỡ cuối
cùng của ngao M. lyrata khác nhau nhiều ở công thức có mật độ thấp (T1) và mật độ cao
Tổng trọng lượng giống thả ảnh hưởng tới tỷ lệ sống ở cả hai cỡ ngao giống. Tỷ lệ
sống đạt cao ở công thức có trọng lượng thả giống nuôi thấp (T1) và gần như giống nhau
ở các công thức T2 và T3. Tỷ lệ sống ở công thức T1 khác nhau có ý nghĩa (p < 0.05) so
với công thức 4 (Đồ thị 1). Ở nhóm với cỡ giống lớn, tỷ lệ sống của ngao ở công thức T5
là cao nhất, tiếp theo là công thức T6. Tỷ lệ sống ở công thức T7 và T8 là rất thấp và
khác nhau không có ý nghĩa (Đồ thị 2). Mặt khác, kết quả trong đồ thị 1 và 2 chỉ ra rằng
tỷ lệ sống của ngao không chi bị ảnh hưởng khối lượng thả giống mà còn bị ảnh hưởng
bởi mật độ thả giống. Điều kiện môi trường và nguồi thức ăn sẵn có được xem như là
những lý do chính cho sự ảnh hưởng của khối lượng th
ả giống lên tỷ lệ sống.
Kích cỡ giống thả được nhận thấy là có ảnh hưởng tới sự sống sót của ngao Manila,
trong đó, cỡ giống nhỏ thì tỷ lệ chết cao, không chỉ bởi vì do nền đáy hoặc địch hại
(Cigarrıa and Fernandez, 2000), mà bởi vì kích cỡ giống của các loài này khi nuôi ở bãi
triều là nhỏ 1.0 cm (Zhang and Yan, 2006). Trong thí nghiệm của chúng tôi, ở cùng một
mật độ thả giống (0.30 and 0.34 kg.m
-2
), tỷ lệ sống của công thức T4 (1.0 cm) là rất thấp
(55%) so với công thức T5 (1.7 cm) có tỷ lệ sống 90%. Trong cùng một kích cỡ giống 1.7
cm, công thức T7 và T8 có tỷ lệ sống thấp hơn so với công thức T5 và T6, điều này có
nghĩa là các mật độ thả giống là quá cao để ngao phát triển.
7
Sản lượng và chất lượng
Sản lượng của ngao xuất phát từ cả sự tăng trưởng và tỷ lệ sống. Sản lượng ngao tỷ lệ
thuận với mật độ thả giống, mặc dù sự tăng trưởng và tỷ lệ sống bị ảnh hưởng không tốt.
Trong nhóm ngao giống cỡ nhỏ, sản lượng tăng theo sự tăng sinh khối và khác nhau
không có ý nghĩa (p > 0.05) giữa các công thức T1 và T2 hoặc T3 và T4 (Bảng 4). Ngược
lại, tỷ lệ phần trăm tăng sinh khối có xu hướng giảm khi tăng mật độ thả giống. Không có
sự khác nhau giữa các công thức T1 và T4. Thực tế thì việc tăng sinh khối có ảnh hưởng
tiêu cực tới sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ngao.
-1
có sản lượng ít hơn lợi nhuận thực tế so với công thức T3.
Điều này có thể được giải thích là do tỷ lệ chí phí cho viêc mua giống cao trong khi sinh
8
khối đạt được thấp hơn bởi vì sự tăng trưởng và tỷ lệ sống thấp. Do đó, mật độ nuôi 2
tấn.ha
-1
được khuyến cáo cho nuôi ngao M. lyrata ở cỡ giống 1.0 cm.
Đối với các công thức T5, T6, T7 và T8, chi phí cho giống tăng từ 73.8% đến 92.9%.
Bởi vì giá mua giống cao hơn giá bán ngao sản phẩm, trong khi sinh khối thu được giảm
khi tăng mật độ nuôi, lợi nhuận thực tế bị giảm và thấp hơn so với các công thức ương
ngao với cỡ giống 1 cm. Chúng tôi khuyến cáo rằng ngao giống cỡ 1.7 cm không nên
ương ở mật độ hơn 6.8 tấn.ha
-1
Kết luận
Kết quả của thí nghiệm này chỉ ra rằng M. lyrata tăng trưởng rất tốt ở các vùng bãi
triều ở bờ biển miền Bắc của Việt nam trong mùa đông với nhiệt độ 23.59±2.40
o
C. Mật
độ nuôi ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao. Đối với ngao giống với
chiều dài vỏ 1.7 cm, trong số 4 mật độ nuôi khác nhau 0.34, 0.68, 1.36 and 2,04 kg.m
-2
,
thí mật độ cao hơn thì tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn cũng như tỷ lệ sống thấp hơn, kết quả là
làm giảm lợi nhuận thực, thậm trí cho dù sinh khối cuối cùng tăng lên. Đối với ngao
giống cỡ nhỏ với chiều dài vỏ là 1.0 cm, trong các mật độ nuôi 0.05, 0.1, 0.2 and 0.3
kg.m
-2
bãi triều chủ yếu dựa vào con giống tự nhiên; bởi vì không có trại sản xuất giống ngao
nào ở Việt Nam trong thời điểm này. Công nghệ sản xuất giống ngao (sản xuất giống
thương mại) ch
ưa được phát triển Việt Nam. Việc thiếu con giống là một trở ngại chính
trong việc phát triển nghề nuôi ngao ở Việt Nam. Chi phí chính của nghề nuôi ngao là
con giống. Một trong những mục tiêu chính của dự án này là phát triển công nghệ sản
xuất giống ngao và xây dựng tài liệu về quy trình sản xuất giống ngao thương mại.
Nghiên cứu thành công đã được tiến hành tại trại sản xuất giống hải sản của ARSINC
ở Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, xác định được điều kiện thích hợp, đặc biệt là nhiệt độ và chất
lượng nước (ngưỡng độ mặn), nhu cầu thức ăn, mật độ phù hợp của ấu trùng trong ương
nuôi giai đoạn bơi tự do và chuyển giai đoạn sống đáy. Các thiết bị, cơ sở vật chất cho
việc thanh công trong sản xuất và ương con giống cũng đã được xác định.
Dựa vào các nhân tố đã thử nghiệm thì độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng
ảnh hưởng tới tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ngao. Kết quả chỉ ra rằng ấu trùng
ngao có thể chịu đựng được độ mặn trong khoảng từ 10ppt đến 30ppt. Ở độ mặn 35ppt,
tất cả ấu trùng bị chết trong ngày thứ 6 sau khi nở. Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của
ấu trùng ương ở thí nghiệm độ mặn 20ppt và 25ppt cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
và chúng đạt đến giai đoạn biến thái (chuyển sang sống đáy) nhanh hơn (ngày thứ 8 sau
khi nở) so với chúng ở các thí nghiệm độ mặn khác. Ở các độ mặn khác như 10ppt, 15ppt
và 30ppt, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống sai khác không có ý nghĩa thống kê. Nghiên
cứu của chúng tôi chỉ ra rằng độ mặn 20ppt và 25ppt là phù hợp cho sự phát triển của ấu
trùng ngao.
Việc xây mới trại ngao giống đã được tiến hành, tập trung vào 6 tháng cuối của dự án.
Trong khuôn khổ mục tiêu dự án, ngoài trại sản xuất giống thuộc ARSINC có thêm ít
nhất 2 trại giống khác đã được hình thành và sản xuất hơn 6,5 triệu ngao spat như đã
được nêu trong kết quả của dự án trong năm 2007. Dự án VIE 027/05 đã phát triển theo
các định hướ
ng chính về công nghệ dưới đây.
• Cấu trúc và thiết kế trại sản xuất giống
Nằm trong một phần hoạt động của dự án, ARSINC đã liên kết với một vài trại sản
xuất giống tư nhân ở Thanh Hoá, Hồ Chí Minh và Ninh Bình để trình diễn sản xuất ngao
giống. Việc liên kết không những chỉ sản xuất mà còn được ARSINC/SARDI chuyển
giao công nghệ sản xuất ngao giống tới các địa phương này. Các trại giống này và trại
giống của ARSINC sẽ cung cấp ngao giống cho các mô hình trình diễn. Việc việc gia
tăng về công suất thì nhu cầu về ngao giống sẽ được đáp ứng một phần.
Thêm nữa, theo yêu cầu của một số địa phương đối với công nghệ sản xuất giống
ngao do nhu cầu cao từ cộng đồng nuôi, trung tâm Khuyến Nông Khuyến Ngư Quốc Gia
đã cam kết hỗ trợ sản xuấ
t giống ngao tại Thanh Hoá và Huế.
Kết luận
Sự phát triển công nghệ sản xuất giống ngao nhân tạo và xây dựng các trại sản xuất
giống đại trà là các mục tiêu quan trọng đối với kết quả mà dự án VIE 027/05 đạt được.
Việc sản xuất ngao giống trong ao là một mục tiêu quan trọng khác cần phải đạt. Sản xuất
nhân tạo ngao giống spat sẽ góp phần giảm áp lực lên việc khai thác nguồn giống từ tự
nhiên. Đây là một trong những đóng góp quan trọng của dự án đối với việc thực hành
nuôi trồng thuỷ sản tốt hơn. 11
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này là một phần của dự án hợp tác VIE 027/05 “Phát triển nghề nuôi
ngao nhằm cải thiện và đa dạng hoá sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo ven biển miền
Trung Việt Nam” giữa Phân Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Bắc Trung Bộ
(ARSINC) và Viện Nghiên cứu và Phát triển Nam Úc (SARDI), Australia. Dự án được
AusAIDs tài trợ thông qua chương trình hợp tác phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Tài liệu tham khảo
Cigarrıa, J., Fernandez, J.M., 2000. Management of Manila clam beds I. Influence of seed
Wang, N., Hayward, R.S., Noltie, D.B., 1998. Effect of feeding frequency on food
consumption, growth, size variation, and feeding pattern of age-0 hybrid sunfish.
Aquaculture 165, 261-267.
Yan, X., Zhang, G., Yang, F., 2006. Effects of diet, stocking density, and environmental
factors on growth, survival, and metamorphosis of Manila clam Ruditapes
philippinarum larvae. Aquaculture 253, 350-358.
Zhang, G., Yan, X., 2006. A new three-phase culture method for Manila clam, Ruditapes
philippinarum, farming in northern China. Aquaculture 258, 452-461.
Zhuang, S., 2006. The influence of salinity, diurnal rhythm and daylength on feeding
behavior in Meretrix meretrix Linnaeus. Aquaculture 252, 584-590.
Zhuang, S.H., Wang, Z.Q., 2004. Influence of size, habitat and food concentration on the
feeding ecology of the bivalve, Meretrix meretrix Linnaeus. Aquaculture 241,
689-699. 13
Phụ lục
- Các bảng biểu
Trọng lượng cuối cùng (g) 5.92±1.08
a
5.76±0.81
ab
5.46±0.76
ab
5.30±0.85
b
% of thịt.tổng trọng lượng 15.87±1.00
a
15.48±2.72
a
15.53±1.02
a
15.15±5.47
a
CV% (trọng lượng) 28.72±2.55
a
23.07±0.24
b
23.73±1.55
b
27.78±2.11
ab
Giá trị (TB±SD) được kèm theo với các chữ khác nhau là khác nhau có ý nghĩa (p <
0.05). T1, T2, T3, T4 là các công thức nuôi ngao ở mật độ 0.05, 0.1, 0.2 và 0.3 kg.m
-2
2.27±0.10
c
Trọng lượng cuối cùng (g) 9.24±1.20
a
9.33±0.95
a
8.90±1.12
a
8.21±1.01
b
% of thịt.tổng trọng lượng 14.53±1.89
a
15.78±2.35
a
16.53±0.62
a
15.48±1.31
a
CV% (trọng lượng) 22.3±0.45
a
19.05±5.16
a
18.69±3.36
a
22.73±4.16
a
% sinh khối đạt được 697.1±109.4
a
555.8±53.6
ab
506.9±104.0
ab
375.8±29.3
b
Giá trị (TB±SD) được kèm theo với các chữ khác nhau là khác nhau có ý nghĩa (p <
0.05). T1, T2, T3, T4 là các công thức nuôi ngao ở mật độ 0.05, 0.1, 0.2 và 0.3 kg.m
-2
. 15
Bảng 5. Sản lượng ngao khi nuôi ở cỡ giống 1.7cm
Công thức T1 T2 T3
T4
Sản lượng cuối cùng (tấn.ha
-1
) 9.49±0.68
a
14.46±0.69
.
16
Bảng 6. Thành phần axít béo của ngao nuôi ở các kích cỡ ngao giống khác nhau và mật
độ nuôi khác nhau
Axít béo T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8
14:00 0.58 - - 1.07 - 0.59 2.52 6.35
16:00 44.26 42.67 78.27 21.63 47.07 84.63 33.54 33.94
16:1(n-7) 9.85 - 3.53 7.88 - 0.75 10.94 11.71
17:00 0.19 - - 0.89 - - 1.94 1.22
17:1(n-7) - - - - - - 3.39 7.71
18:00 4.63 15.63 22 23.98 16.82 7.84 10.08 10.72
18:1(n-9) 63.02 39.79 26.83 29.68 49.38 33.41 27.18 31.94
18:1(n-7) - - - 5.31 6.33 - - -
18:2(n-6)t 0.41 8.19 - 1.06 - - 2.35 13.74
18:3(n-3) - - - 0.54 - - 1.1 5.16
20:1(n-9) - 7.83 - 0.52 8.18 - - -
20:4(n-6) 1.11 - 7.72 2.98 5.06 2.72 3.54 8.9
20:4(n-3) - - - 0.31 - - - -
20:5(n-3) 4.45 3.11 - 5.95 6.2 0.97 7.96 3.29
24:00:00 - - - 1.17 - - - -
22:5(n-6) - - - - - - 1.56 -
22:5(n-3) - 3 4.96 1.85 - - 2.46 -
22:6(n-3) 45.78 29 33.62 29.65 27.58 62.77 30.4 30.0
Sum (n-3) 50.23 35.11 38.58 37.76 33.78 63.74 40.82 30.29
Sum (n-6) 0.11 0 7.72 2.98 5.06 2.72 5.1 8.9
Sum HUFA 50.34 35.11 46.3 40.74 38.84 66.46 45.92 42.19
Total FAME 174.3 149.2 176.9 134.4 166.6 193.7 139 166.1
Giá trị = mg.g
-1
Tổng thu (* triệu VND.ha
-1
với giá trung là 12 triệu VND.tấn
-1
cho tất cả ngao thu hoạch)
Tổng thu (B) 49.72 81.82 151.44 178.08 113.90 173.52 282.96 417.60
Lợi nhuận thực (A - B) 11.72 25.68 58.91 50.02 30.93 28.15 13.00 22.55
Tỷ lệ hoàn vốn (%) 30.85 45.75 63.67 39.06 37.27 19.36 4.82 5.71
(1) Giá giống là 0.035 triệu VND.kg
-1
với cỡ 1.0 cm và 0.018 triệu VND.kg
-1
cỡ 1.7 cm
18
- Đồ thị
T1 T2 T3 T4
50
60
70
80
90
100
110
a
ab
ab
b
Clam at stocking size of 1.0 cm
Survival (%)