Thực thi quyền tác giả ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 23

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế phát triển của thời đại, các sản phẩm trí tuệ ngày càng
chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế . Nước ta trong xu thế hội nhập cũng
không thể không quan tâm tới vấn đề này, nhất là khi đã là thành viên của
WTO thì việc thực thi cam kết về lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và quyền
tác giả nói riêng là bắt buộc. Về mặt luật pháp chúng ta về cơ bản đã đáp ứng
yêu cầu của WTO nhưng việc bảo hộ trên thục tế vẫn còn nhiều bất cập. Sự vi
phạm diễn ra phổ biến, xếp chúng ta vào nước có tình trạng vi phạm quyền
tác giả cao nhất thế giới. Khắp các nơi đều bán và sử dụng các sản phẩm vi
phạm quyền tác giả đến nỗi không ai nghĩ đó là một hành vi phạm pháp và
cần phải ngăn chặn. Thực trạng này thật đáng báo động bởi theo hiến pháp
nhà nước ta khuyến khích mọi người nghiên cứu sáng tạo nhưng trên thực tế
quyền lợi của họ lại không được đảm bảo. Và càng ngày các tranh chấp trong
lĩnh vực này càng nhiều nhưng chúng ta lại chưa có kinh nghiệm để giải
quyết. Chính vì lý do này em đã chọn đề tài: Thực thi quyền tác giả ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay. Bài làm của em gồm có 5 phần, gồm:
Mục I: Lịch sử về quyền tác giả
Mục II: Pháp luật về quyền tác giả trước khi gia nhập WTO
Mục III: Pháp luật về quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay.
Mục IV: Tình hình thực thi quyền tác giả ở Việt Nam
MụcV: Yêu cầu về bảo hộ quyền tác giả trong thời gian tới.

1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC I: LỊCH SỬ VỀ QUYỀN TÁC GIẢ

I.KHÁI NIỆM QUYỀN TÁC GIẢ .
1.Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ.
Theo Đ163 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác”. Như vậy ngoài các vật thông

tinh mang chương trình được mã hoá”. Họ là người sử dụng tác phẩm một
cách đặc biệt và đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải tác phẩm đến
công chúng. Hay có thể nói rằng đây là những người trung gian là cầu nối
giữa tác giả và công chúng. Chính vì vậy việc bảo hộ quyền liên quan không
được làm ảnh hưởng tới việc quyền tác giả đối với tác phẩm
Đối tượng của quyền tác giả gồm cả các tác phẩm và tác phẩm phái sinh
của nó theo Đ4.7 Luật sở hữu trí tuệ : “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong
lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới bất cứ phương tiện hay
hình thức nào”. Đ4.7:” tác phẩm phái sinh là các tác phẩm dịch từ ngôn ngữ
này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn,
chú giải, tuyển chọn “. Đ14 Luật sở hữu trí tuệ quy định cụ thể hơn về các
loại hình này .
Chủ thể của quyền tác giả là tác giả hoặc chủ sở hữu . Tác giả có thể là
người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm. Đ36 Lshtt :” chủ
sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giữ một hoặc, một số hoặc toàn bộ
các quyền tài sản quy đinh tại Đ20 của luật này”. Chủ sở hữu có thể là tác giả
hoặc không. Việc phân biệt này có ý nghĩa rất quan trọng bởi chỉ có chủ sở
hữu mới có quyền công bố, cho phép sử dụng … tức mới có quyền tài sản với
tác phẩm .
Quyền tác giả có đặc điểm là, thứ nhất chỉ bảo hộ về mặt hình thức
chứ không bảo hộ về mặt nội dung. Có nghĩa là cùng một ý tưởng nhưng
được thể hiện dưới những cách thức khác nhau thì đều được bảo hộ. Như
cùng viết về nông thôn Việt Nam trước cách mạng có: Lão Hạc của Nam Cao
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hay tắt đèn của Ngô Tất Tố. Cả hai tác giả đó đều được bảo hộ đối với tác
phẩm của mình . . Đ6.1 Lshtt quy định:” quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác
phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định,
không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã
công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”.

trong lãnh địa của họ. Đặc biệt là nước Pháp do có chế độ chuyên chế sớm
nên đã thực hiện được điều này. Ít thành công hơn là ở Đức. Tại Đức một số
hầu tước còn cố tình không quan tâm đến việc các nhà xuất bản vi phạm các
đặc quyền từ hoang đế nhằm giúp đỡ các nhà xuất bản này về mặt kinh tế để
mang vào lãnh thổ văn học đang được ưu chuộng một cách rẻ tiền.
Khi thời kỳ phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng
hơn và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những tác phẩm
của họ. Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành cho những người sáng tạo như là một
cá nhân và chưa mang lại cho tác giả một thu nhập nào. Giữa thế kỷ 16, các
đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cẩm in lại các tác phẩm trong một vùng nhất
định và trong một thời gian nhất định. Khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiền
nhuận bút cho tác giả thì họ tin rằng cùng với việc này họ có được một độc
quyền kinh doanh, ngay cả khi họ không có đặc quyền cho tác phẩm này. Vì
thế việc in lại bị cấm khi các quyền từ tác giả được mua lại.
Mãi đến thế kỷ 18, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống
như sở hữu cho lao động trí óc( và của cả hiện tượng sở hữu phi vật chất).
Trong một bộ luật của nước Anh năm 1710, lần đầu tiên một độc quyền sao
chép của tác giả được công nhận. Tác giả sau đó lại nhượng lại quyền này cho
nhà xuất bản. Sau một thời gian được thoả thuận trước tất cả các quyền này
lại thuộc về tác giả . Tác phẩm phải được ghi vào trong danh mục của hiệp
hội các nhà xuất bản và phải và phải có thêm ghi chú Copỷight để được bảo
vệ. Phương pháp này được đưa vào ứng dụng tại Mỹ vào 17195. Tại Pháp sở
hữu văn học và nghệ thuật được đưa ra trong 2 bộ luật vào 1791 và 1793. Vào
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1837 Hội đồng liên bang của liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi
tác phẩm ra đời là 10 năm , thời hạn này được kéo dài thành 30 năm sau khi
tác giả qua đời vào 1845.
2.Sự phát triển pháp luật quyền tác giả ở Việt Nam.
Đất nứơc ta do phải đối mặt với sự xâm lựơc của kẻ thù nên còn nghèo

dấu một thời kỳ mới về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác
giả nói riêng.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục II : Pháp luật Việt Nam về bản quyển trước
gia nhập WTO
1.Các văn bản điều chỉnh:
Trong giai đoạn này, lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả còn khá mới mẻ ở
Việt Nam và hầu như chưa được chú trọng. Chỉ có rất ít văn bản pháp luật ban
hành trong giai đoạn này và việc thực thi nó không hiệu quả. Bước ngoặt
đánh dấu việc bảo hộ quyền tác giả được quy định trong Bộ luật dân sự 1995.
Cụ thể các văn bản điều chỉnh trong giai đoạn này chỉ có:
Bộ luật dân sự 1995
Nghị định 76/CP ngày 29/11/1996 về quyền tác giả.
Nghị định 31/2001/NĐ-CP ngày 20/06/2006 về xử phạt hành chính
trong lĩnh vực văn hoá thông tin.
Thông tư 27/2001/TT-BVHTT hướng dẫn thi hành một số điều của nghị
định 76/CP ngày 29/11/1996/TTLT-TAND TC BVHTT/VKSNDTC về xử lý
tranh chấp vi phạm bản quyền tác giả.
Với việc ban hành một số ít các văn bản dưới luạt như trên có thể thấy
quyền tác giả trong giai đoạn này được coi như quyền dân sự và được điểu
chỉnh chung trong Bộ luật dân sự, chỉ có một số tính chất riêng được hướng
dẫn thi hành ở các nghị định.
2. Nội dung cơ bản về quyền tác giả trong bộ luật
dân sự 1995.
Pháp luật trong giai đoạn này cũng có quy định về chủ thể quyền tác giả
gồm: tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Tác giả có thể sáng tạo ra một phần
hoặc toàn bộ tác phẩm. có thể độc lập sáng tạo ra tác phẩm hoặc dựa trên tác
phẩm của người khác qua các hình thức: dịch, cải biên, chuyển thể, tuyển
chọn…(tuy không đưa ra khái niệm tác phẩm phái sinh như hiện nay). Ngoài

9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đưa ra các biện pháp cụ thể để có thể tiến hành bảo vệ quyền lợi của mình khi
bi vi phạm.
Khi đã có hành vi vi phạm, cũng không có một quy định riêng biệt nào
về biện pháp xử phạt và cơ quan tiến hành dẫn đến sự chồng chéo về thẩm
quyền giữa các cơ quan.. Việc xử phạt đó sẽ không biết do cơ quan nào tiến
hành và áp dụng biện pháp hành chính, hình sự hay dân sự. Do đó sẽ rất khó
khăn cho các chủ sở hữu , tác giả khi muốn yêu cầu bảo vệ quyền lợi của
mình. Cơ quan nhà nước cũng không đủ căn cứ, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm.
Một vụ vi phạm có thể có nhiều cơ quan cùng giải quyết, chẳng hạn như:
quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế, thanh tra khoa học công nghệ hoặc là
UBND các cấp cả toà án.
Một vấn đề nữa cần phải đặt ra là pháp luật trong giai đoạn này còn có
những quy định chưa phù hợp với luật pháp quốc tế . Do Bộ luật dân sự 1995
ra đời cho đến thời điểm này đã có rất nhiều thay đổi, việc ký kết các điều
ước quốc tế về vấn đề quyền tác giả là một điều đương nhiên và là xu thế tất
yếu. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Khi đã là thành viên thì sẽ
phải tuân thủ các quy định mà điều ước đã đặt ra, để đạt được điều đó thì việc
sửa đổi luật pháp cho phù hợp là không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó việc sửa
đổi luật là còn để đáp ứng nhu cầu bảo hộ các đối tượng quyền tác giả ngày
càng bị xâm phạm dưới những hình thức tinh vi hơn trước sự phát triển của
khoa học kỹ thuật .
Quyền tác giả mang những đặc thù riêng biệt vừa mang tính chât hành
chính lẫn dân sự mà chỉ được điều chỉnh trong Bộ luật dân sự và các văn bản
dưới luật. Mặt khác các quy đinh về lĩnh vực này tương đối phức tạp tập
chung vào tài sản vô hình , đối tượng bảo hộ ngày càng gia tăng cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật nên việc quy định trong một bộ luật có tính
chất tĩnh như Bộ luật dân sự là không phù hợp. Từ đó đặt ra yêu cầu là phải
có một luật riêng vê sở hữu trí tuệ.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Nội dung cơ bản của TRIPS, công ước BERNE
a. Hiệp định về những vấn đề liên quan đến thương mại của Quyền
sở hữu trí tuệ ( TRIPS).
Hiệp định được áp dụng với các nước thành viên của WTO nên đương
nhiên Việt Nam cũng phải tuân theo những quy định này. Hiệp định TRIPS
không quy định mức bảo hộ cụ thể mà đưa ra các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu.
Các nước vi phạm sẽ bị đưa ra hội đồng giải quyết tranh chấp và sẽ bị áp
dụng biện pháp trừng phạt. Năm 1996, thoả thuận về hợp tác giám sát thực thi
quyền sở hữu trí tuệ giữa WIPO và WTO có hiệu lực, bao gồm việc hợp tác
trong việc trợ giúp các thành viên xây dựng luật về sở hữu trí tuệ…sao cho
các thành viên có thể thoản mãn các yêu cầu của TRIPS vào 1/1/2000.
TRIPS được hoạt động trên cac nguyên tắc như:
Nguyêntắc Đãi ngộ quốc gia: Mỗi thành viên chấp nhận cho công dân
của các thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử
mà thành viên đó dành cho công dân của mình trong việc bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có những ngoạilệ, theo đó các
thành viên có thể dựa vào để miễn trừ nghĩa vụ tuân thủ hiệp định TRIPS.
Trường hợ ngoại lệ quy định cụ thể trong công ước BERNE.
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc: Đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất
kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền, hoặc sự miễn trừ nào được một thành
viên dành cho công dân của bất kỳ một thành viên nào khác cũng phải được
lập tức và vô điều kiện dành cho công dân tất cả các nước thành viên khác.
Hiệp định TRIPS cho phép thành viên có một khoảng thời gian chuyển
đổi thích hợp để đảm bảo việc thực thi đầy đủ các nghĩa vụ. Các nước phát
triển được phép trì hoãn thực hiện hiệp định trong vòng 1 năm kể từ ngày hiệp
định có hiệu lực. Thời hạn này đối vớicác nước đang phát triển là 5 năm và
các nước kém phát triển là 11 năm.
Như vậy hiệp định TRIPS đã mở ra một chương mới về bảo hộ và thực
thi quyền sở hữu trí tuệ trên bình diện quốc tế cũng như tăng cường vai trò

toàn độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảo hộ tối thiểu: luật quốc gia thành viên quy định bảo hộ không thấp
hơn mức tối thiểu do công ước quy định.
3. Tổ chức quốc tế quản lý về quyền tác giả.
a. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
WIPO là một tổ chức quốc tế có mục đích giúp đỡ nhằm bảo đảm rằng
quyền của người phát minh và chủ sở hữu tài sản trí tuệ được bảo hộ trên toàn
thế giới và rằng các nhà phát minh và tác giả công nhận và hưởng thành quả
từ tài năng của họ.
Nguồn gốc hình thành của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới bắt đầu từ năm
1886, năm ra đời của công ước Paris về bảo hộ sở hữu trí tuệ, hiệp định quốc
tế quan trọng đầu tiên nhằm giúp công dân của một nước có được sự bảo hộ
ở nước ngoài đối với các sáng tạo trí tuệ của họ dưới hình thức các quyền sở
hữu trí tuệ.
Năm 1883, hai văn phòng nhỏ hợp thành một tổ chức quốc tế gọi là văn
phòng quốc tế thống nhất về bảo hộ sở hữu trí tuệ ( BIRPL). Có trụ sở tại
BERNE , Thuỵ Sỹ , với 7 thành viên tổ chức này là tiền thân của tổ chức sở
hữu trí tuệ thế giới ngày nay. Một tổ chức năng động với hơn 170 nước thành
viên và hơn 650 thành viên trên toàn thế giới.
Công ước Paris có hiệu lực từ 1884 với 14 nước thành viên thành lập
một văn phòng quốc tế nhằm quản lý việc thực hiện nhiệm vụ.
Năm 1886, bản quyền bắt đầu được quốc tế biết đến với công ước
BERNE về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật giông như công ước
Paris, công ước BERNE thành lập 1 văn phòng quốc tế để thực hiện nhiệm
vụ.
Khi tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ tăng lên, cơ cấu và hình thức đến
Genevơ để gần hơn với liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế tại thành phố
này. Một thập kỷ sau, tiếp theo việc công ước thành lập tổ chứ sở hữu trí tuệ

IFPI là một tổ chức đại diện cho nền công nghiệp ghi âm quốc tế, bao
gồm 1500 hội viên là các nhà sản xuất và phân phối bản ghi ở 76 quốc gia.
Tổ chức này cũng có các tập đoàn quốc gia tại 46 nước. Văn phòng quốc IFPI
15

Trích đoạn 1.Vụ kiện về vi phạm bản quyền phần mềm 2.Xu hướng bảo hộ trong thời gian tới.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status