BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TÌNH HUỐNG 1
Vào lúc 9h30' ngày 10/5/2002, Nguyễn Ngọc A sinh ngày 12/3/1986 đến nhà chị
Lê Hồng L chơi. Tại đây, Nguyễn Ngọc A rủ chị Lê Hồng L và Lê Hồng H (Em
gái chị Lê Hồng L) cùng đi hát Karaoke. Do ba người chỉ có một xe đạp nên chị Lê
Hồng L dắt xe của mình, còn Nguyễn Ngọc A và Lê Hồng H cùng đi bộ. Trên
đường đi đến quán Karaoke thì ba người gặp anh Trần Trung H (bạn của chị Lê
Hồng L) đang đi xe đạp trên đường cùng chiều. Nguyễn Ngọc A liền rủ anh Trần
Trung H cùng đi hát cho vui, anh Trần Trung H đồng ý. Sau đó cả 4 người cùng đi
xe đạp đến quán Karaoke của chị Lê Minh H đồng ý. Sau đó cả 4 người cùng đi xe
đạp đến quán Karaoke của chị Lê Minh M để hát. Khi đến nơi thì chị Lê Hồng L
và anh Trần Trung H cùng để xe đạp trước cửa quán nhưng không khoá rồi đi lên
phòng hát ở tầng 2. Thấy vậy, chị Lê Minh H liền lấy dây Trung Quốc để khoá cả
hai xe chung một khoá. Khi 4 người đang hát vui vẻ thì Nguyễn Ngọc A nói với
mọi người là đi gọi điện thoại nhưng thực chất là xuống nhà dưới yêu cầu chị Lê
Minh M mở khoá lấy xe đạp của anh Trần Trung H (trị giá 1.200.000đ). Sau khi
lấy được xe, Nguyễn Ngọc A đã đem bán được 300.000đ và tiêu xài hết ngay trong
ngày hôm đó.
Câu hỏi 1: Hãy xác định tội danh đối với hành vi trên của Nguyễn Ngọc A?
Tình tiết bổ sung:
Sau khi sự việc xảy ra, anh Trần Trung H đã báo với cơ quan công an. Ngày
12/5/2002 cơ quan công an quận H đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi
tố bị can đối với Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản. Ngày 10/7/2002, Viện
kiểm sát đã có bản cáo trạng truy tố Nguyễn Ngọc A về tội trộm cắp tài sản theo
khoản 1 điều 138 BLHS.
Sau khi nhận được hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang, thẩm phán được
phân công nghiên cứu hồ sơ cho rằng hành vi của Nguyễn Ngọc A không cấu
thành tội trộm cắp tài sản như kết luận điều tra của cơ quan điều tra quận H và cáo
trạng của Viện kiểm sát quận H mà cho rằng hành vi của Nguyễn Ngọc A cấu
thành tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản mới đúng.
Tình tiết bổ sung
Tại phiên toà sơ thẩm, luật sư Cao Hồng T thuộc đoàn luật sư thành phố Hà Nội đã
tham gia bào chữa cho Nguyễn Ngọc A. Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyễn Ngọc A
kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị luật sư Cao Hồng T tiếp tục bào chữa cho
mình tại phiên tòa phúc thẩm.
Câu hỏi 7: Toà án cấp phúc thẩm có chấp nhận đề nghị trên của bị cáo không? Tại
sao?
Tình tiết bổ sung:
Sau phiên toà sơ thẩm gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Trung
H số tiền 1.200.000đ.
Câu hỏi 8: Tòa án cấp phúc thẩm có thể áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ
để xem xét việc quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A được không?
Nêu căn cứ pháp lý?
TÌNH HUỐNG 2
Do thua lô đề không có tiền tiêu nên Trần Thu (sinh ngày 1/2/1985) rủ Lê Hạ (sinh
ngày 25/9/1988) và Vũ Xuân (sinh ngày 1/2/1987) đi bắt cóc cháu Đông (con anh
Bốn và chị Mùa trú tại phường A, thị xã B, tỉnh C) để lấy tiền chuộc. Khoảng
16h30 ngày 22/09/2004, Xuân giả vờ là người nhà cháu Đông đi đón cháu Đông về
nhà Thu. Trên đường đưa cháu Đông về nhà Thu, cháu Đông thấy người lạ nên
khóc và không chịu để Xuân, Hạ chở đi. Thấy vậy, anh Nguyễn Hải và một số
người đi đường nghi ngờ đã đến hỏi Xuân và Hạ cho rõ ngọn ngành. Thấy nguy cơ
bị lộ, Xuân bế cháu Đông chạy đi, Hạ ở lại dùng dao đâm bị thương anh Nguyễn
Hải và đe dọa mọi người ai xông vào sẽ bị đâm chết. Sau đó, Hạ phóng xe theo
Xuân và tiếp tục đèo Xuân, Đông về nhà của Thu.
Ngày 23/09/2004, cơ quan điều tra công an thị xã B đã ra quyết định khởi tố vụ án,
khởi tố bị can đối với Xuân, Hạ, Thu. Ngày 25/09/2004, cơ quan điều tra ra lệnh
tạm giam Xuân, Hạ, Thu trong thời hạn 4 tháng và ra quyết định áp dụng biện pháp
cấm đi khỏi nơi cư trú với Thu.
Theo kết luận giám định pháp y, tỷ lệ thương tật của anh Nguyễn Hải là 30%.
Câu hỏi 2: Xác định tội danh và điều khoản BLHS cần áp dụng đối với Xuân, Hạ,
hay không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, gia đình Xuân, Hạ, Thu đã bồi thường cho
anh Nguyễn Hải 20 triệu đồng nhưng anh Hải không nhận mà yêu cầu Tòa án giải
quyết việc bồi thường theo pháp luật.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Xuân, Thu chưa có tiền án tiền sự. Trong
thời gian tạm giam, Xuân đã tích cực giúp đỡ Ban giám thị trại giam bắt giữ một
phạm nhân trốn trại. Bố của Thu đã hai lần được nhận bằng khen của Thủ tướng
Chính phủ về thành tích bảo vệ rừng.
Câu hỏi 7: Anh chị hãy xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cần áp dụng đối với Xuân và Thu.
TÌNH HUỐNG 3
Năm 1998, Nguôn Suy từ Campuchia sang Việt Nam mua bán nông thuỷ sản và
quen biết với bà Tô Ngọc Kim, giám đốc Công ty TNHH xuất khẩu thuỷ sản Hiệp
Nguyên. Tuy đã có vợ con nhưng Suy vẫn làm cho bà Kim tin rằng còn độc thân.
Hai người chung sống với nhau như vợ chồng và có một con riêng. Khi phát hiện
ra Suy có gia đình tại Campuchia, bà Kim đòi chấm dứt quan hệ. Cho rằng người
vợ hờ tạo cớ hòng chiếm hết khối tài sản của mình gồm nhiều nhà xưởng ở thành
phố Hồ Chí Minh nên Suy tìm thuê người giết bà Kim. Suy tìm được Trần Bá
Nhân, trú tại phường 3, quận 4, Thành phố HCM. Tháng 6/2004, Suy về
Campuchia mua 1 khẩu súng ngắn K59 với 1 ống giảm thanh và 12 viên đạn. Suy
trở lại Việt Nam và đưa cho Nhân 40 triệu đồng và số vũ khí giảm thanh và 12
viên đạn.
Từng là chỗ quen biết với gia đình bà Kim, sợ bị phát hiện nên sau 1 tháng suy
nghĩ, Nhân đã “nhượng lại” toàn bộ “hợp đồng” và bàn giao khẩu súng cho anh
ruột là Trần Bá Mẫn. Mẫn kéo theo Trần Đăng Đình, 15 tuổi, cháu vợ Mẫn tham
gia và đòi tăng lên 70 triệu đồng. Suy chấp nhận nhưng yêu cầu thực hiện xong
mới đưa nốt 30 triệu đồng phát sinh. Sau nhiều ngày tập bắn súng và theo dõi quy
luật đi lại của bà Kim, khoảng 9h ngày ngày 15/08/2004, theo sự phân công của
Mẫn, Đình chờ Mẫn đến trước cổng Công ty Hiệp Nguyên phục sẵn. Khi bà Kim
Gia đình Nguôn Suy thuê ông Hiêng Xum, một Luật sư danh tiếng ở
Campuchia sang Việt Nam để bào chữa cho mình. Bà Trần Thị Chung Chiên, vợ
của bị can Mẫn, đã thuê ông X, luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội bào chữa
cho Mẫn, Đình và Nhân.
Câu 4: Ông Hieng Xum, ông X có thể được cấp giấy chứng nhận người bào
chữa để tham gia tố tụng trong vụ án này không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Cha mẹ Trần Đăng Đình đã thuê ông Y, một luật sư khác bào chữa cho con
trai mình và ông Y đã được cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Thời điểm ông Y
được tham gia tố tụng, hồ sơ vụ án vừa được Cơ quan điều tra chuyển sang Viện
kiểm sát cùng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố các bị can theo tội danh và điều
khoản BLHS mà cơ quan điều tra đã khởi tố ban đầu.
Câu 5: Theo anh chị, ông Y nên tiến hành hoạt động nào dưới đây:
A, đề nghị Viện Kiểm sát đình chỉ vụ án đối với Trần Đăng Đình vì vào thời điểm
phạm tội, Định mới 15 tuổi;
B, đề nghị Viện Kiểm sát xem xét, quyết định việc chỉ truy tố Đình về tội Giết
người mà không truy tố về tội Che dấu tội phạm;
C, đề nghị Viện Kiểm sát xem xét, quyết định việc chỉ truy tố Đình về tội che dấu
tội phạm mà không truy tố về tội giết người;
D, khuyên Trần Đăng Đình khai do bị Trần Bá Mẫn đánh đập, doạ sẽ giết chết nên
buộc phải giúp sức Trần Bá Mẫn và buộc phải im lặng trong việc giết bà Kim;
E, Phương án riêng của anh chị.
Tình tiết bổ sung
Phiên toà sơ thẩm được mở ngày 24/04/2005. Vào ngày mở phiên toà, ông Y
bất ngờ bị nhồi máu cơ tim nên không thể tham gia phiên toà. Hội đồng xét xử đã
quyết định hoãn phiên toà vì vắng mặt người bào chữa dù bị cáo Đình và cha mẹ bị
cáo đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục phiên toà như bình thường.
Câu 6: Anh chị có nhận xét gì về quyết định của Hội đồng xét xử trong tình
huống này.
Tình tiết bổ sung
chữa khi Đoàn mới bị tạm giữ là không cần thiết.
Câu hỏi 2: Anh, chị, Minh có nhận xét gì về các hoạt động tố tụng mà cơ
quan điều tra công an quận B tiến hành? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tại cơ quan điều tra, nguyễn Hữu Đại khai rằng trước khi đi đến đường Hoa Sữa,
Đại và Phương đã bàn bạc rất cụ thể về vai trò của từng người trong quá trình xin
tiền của người đi đường. Theo đó, Đại sẽ gây sự để thu hút sự chú ý của người có
tài sản; Phương và Đoàn tranh thủ thời cơ để lấy tài sản; nếu bị chống cự, Phương
sẽ dừng lại chặn để Đại, Đoàn chạy. Đây là lần đầu tiên đại tham gia chiếm đoạt
trái phép tài sản của người khác.
Nguyễn Bình Phương khai: Đại và Phương đã nhiều lần sử dụng thủ đoạn tương tự
để chiếm đoạt tài sản của người đi đường còn Đoàn mới tham gia lần đầu. Khi anh
Tuấn đi theo xin lại tài sản, Phương chỉ dang tay chặn anh Tuấn lại mà không dùng
dao để đe doạ anh Tuấn. lúc đó, Phương có hét to lên với đại và Đoàn: “Chạy đi,
nhanh lên:.
Lê thanh đoàn: “Đại gọi điện thoại hẹn tôi đến đầu đường Hoa Sữa. Khi tôi đến đó,
Đại mới rủ tôi xin tiền của người đi đường nhưng cũng không phân công nhiệm vụ
gì cụ thể. Tôi không biết Phương de doạ anh Tuấn như thế nào. Tôi bỏ chạy vì thấy
anh Tuấn kêu cứu một số người dân xung quanh bắt đầu chạy ra.”
Cơ quan điều tra không lấy lời khai của những người dân nơi xảy ra sự việc, không
thu giữ được con dao mà Phương vứt lại ở đường Hoa Sữa.
Câu hỏi 3: Theo anh, chị, cơ quan điều tra cần thiết tiến hành những hoạt động
điều tra gì để làm sáng tỏ sự thật của vụ án?
Câu hỏi 4: Giả sử lời khai của đại là đúng thì Đại, Phương, Đoàn bị truy tố
về tội gì? Theo điều khoản nào của BLHS
Tình tiết bổ sung
Trên cơ sở kết quả điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân quận B ra bản cáo trạng truy
tố Đại, Phương và Đoàn về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 BLHS.
Trong giai đoạn điều tra, gia đình các bị can đã bồi thường cho anh Tuấn
4.500.000 đ không đủ để mua lại một sợi dây chuyền 5 chỉ.
Trong khi xô sát, Yến đã có những lời thô tục chửi bới Tuấn rất thậm tệ. Vì vậy,
Tuấn đã giang thẳng cánh tay tát vào mặt vợ. Phản ứng trước hành động của
chồng, Yến đã giơ đứa con mới 2 tháng tuổi đang bế trên tay để ngăn cái tát của
Tuấn. Kết quả sau khi bị Tuấn đánh trúng, cháu bé đã ngưng thở, tai và miệng rỉ
máu. Mặc dù được Tuấn và một người hàng xóm đưa ngay đến bệnh viện X nhưng
cháu bé không qua khỏi. Xác định nguyên nhân gây nên cái chết cho cháu bé, Tổ
chức giám định pháp y thành phố H kết luận: nạn nhân bị vỡ hộp sọ do ngoại lực
tác động.
Ngày 20/08/2004, cơ quan điều tra công an thành phố H đã ra quyết định khởi tố
vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Anh Tuấn về tội “Giết người” theo khoản 1
Điều 93 BLHS. Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra chuyển đến,
ngày 10/04/2005 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã ra Cáo trạng truy tố
Nguyễn Anh Tuấn về tội” Cố ý gấy thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS.
Hồ sơ cùng bản cáo trạng được chuyển đến Toà án nhân dân thành phố H.
Câu hỏi 2:Anh chị có nhận xét gì về tội danh mà cơ quan điều tra đã khởi tố và
Viện kiểm sát truy tố đối với Nguyễn Anh Tuấn? Hãy xác định tội danh đối với
Nguyễn Anh Tuấn?
Câu hỏi 3: Với tội danh mà anh chị đã xác định thì thẩm quyền xét xử thuộc Toà
án nào? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán lại cho rằng, hành vi của Tuấn cấu thành
tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo quy
định tại Điều 105 BLHS và ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu
điều tra bổ sung. Sau khi tiến hành những hoạt động điều tra bổ sung, Viện kiểm
sát đã không bổ sung được những vấn đề mà Thẩm phán đã yêu cầu và lại gửi hồ
sơ đến Toà án.
Câu hỏi 4: Hãy nhận xét về việc ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của
Thẩm phán. Theo anh chị, Toà án phải xử lý như thế nào sau khi Viện Kiểm sát
không bổ sung được theo yêu cầu của Toà án?
Tình tiết bổ sung
Tình tiết bổ sung:
Trong quá trình điều tra, Lê Văn Thọ khai nhận rằng, do có quan hệ bất chính với
Bạch Thị Thanh Thuý (vợ của anh Quang), nên Thọ và Thuý đã bàn với nhau về
việc sắp đặt và thực hiện kế hoạch giết anh Quang để có thể tiếp tục quan hệ bất
chính với nhau. Bạch Thị Thanh Thuý cũng xác nhận những điều mà Thọ đã khai
nhận.
Câu hỏi 3: Theo anh (chị), cơ quan điều tra cần phải làm gì khi phát hiện tình tiết
nêu trên?
Câu hỏi 4: Nếu sau khi phát hiện các tình tiết trên cơ quan điều tra không thực
hiện các hoạt động cần thiết thì Viện Kiểm sát cần phải làm gì để pháp luật được
thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất?
Tình tiết bổ sung:
Khi tiến hành kiểm sát các hoạt động điều tra, kiểm sát viên phát hiện thấy có
những dấu hiệu về việc Bạch Thị Thanh Thuý chuẩn bị trốn đi nước ngoài nên cần
phải tiến hành bắt đối với Bạch Thị Thanh Thuý. Tuy nhiên khi trao đổi vấn đề này
với Điều tra viên đang thụ lý hồ sơ vụ án thì Điều tra viên này cho rằng, hiện nay
Bạch Thị Thanh Thuý đang phải nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên không thể
bắt Thuý được.
Câu hỏi 5: Theo anh (chị), trường hợp này có tiến hành bắt Bạch Thị Thanh Thuý
được không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung:
Cơ quan điều tra hoàn tất Bản kết luận điều tra và gửi hồ sơ đến Việ kiểm sát. Khi
nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát viên được phân công thụ lý hồ sơ vụ án phát hiện,
ngoài hành vi làm chết anh Quang, Thuý với Thọ đã có quá trình quan hệ bất chính
với nhau khá lâu, đã rất nhiều lần họ hẹn hà cùng đến một địa điểm khác nhau để
cùng qua đêm ở đó. Vì vậy, Kiểm sát viên đã ra quyết định khởi tố bị can đối với
Lê Văn Thọ và Bạch Thị Thanh Thuý về tội: “Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ
một chồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Hình sự.
Câu hỏi 6: Theo anh (chị) hoạt động nêu trên của Kiểm sát viên như vậy là đúng
hay sai? Giải thích tại sao?
Văn A và Phạm Văn B. Cùng ngày, công an huyện Đ cũng ra lệnh tạm giam đối
với A,B,C từ ngày 6/7/2004 đến ngày 5/11/2004. Việc bắt và tạm giam các bị can
được thông báo cho gia đình các bị can vào chiều ngày 7/7/2004.
Ngày 12/7/2004, lợi dụng sơ hở, Đỗ Văn C đã bỏ trốn khỏi trại tạm giam. Cơ quan
điều tra không ra lệnh truy nã bị can mà vẫn tiếp tục tiến hành điều tra, hoàn thiện
hồ sơ vụ án.
Câu hỏi 2: Anh (chị) có nhận xét gì về hoạt động tố tụng mà cơ quan điều tra đã
tiến hành?
Tình tiết bổ sung
Ngày 20/9/2004, cơ quan điều tra công an huyện Đ đã đưa ra bản kết luận điều tra
đề nghị VKSND huyện Đ truy tố Nguyễn Văn A, Phạm Văn B và Đỗ Văn C về tội
cướp tài sản theo Điều 133 BLHS, truy tố Đỗ Văn C về tội trốn khỏi nơi giam theo
Điều 311 BLHS đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát.
Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, luật sư Nguyễn Thế A bào chữa cho hai bị can
A và B phát hiện trong biên bản lấy lời khai của C ngày 5/7/2004 không có chữ ký
người đại diện hợp pháp của C; biên bản hỏi cung A,B ngày 6/7//2004 cho thấy
điều tra viên đã không giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can.
Câu hỏi 3: Theo anh (chị) việc làm nêu trên của cơ quan điều tra có vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Ngày 5/10/2004, VKSND huyện Đ ra bản cáo trạng truy tố bị can A,B,C .
Ngày 10/11/2004, TAND huyện Đ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngày
12/11/2004, Đỗ Văn C ra trình diện tại toà án và xin được mời luật sư bào chữa.
Câu hỏi 4: Tòa án có chấp nhận yêu cầu của C không? Tại sao?
Tình tiết bổ sung
Ngày 22/11/2004, TAND huyện Đ mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai đối với
các bị cáo A,B,C.
Chị Phạm Thanh H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Chị H có gửi đơn
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo vì họ còn quá trẻ.
Câu hỏi 5: Hội đồng xét xử lựa chọn phương án nào trong các phương án dưới