Bài tập cuối kỳ tố tụng dân sự - Pdf 33

Bài tập cuối kỳ tố tụng dân sự - Nguyễn Đức Hải
Đề số 11: Thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở tòa
án cấp sơ thẩm, phúc thẩm.
Bài làm
I.Khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự.
Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh
vực mình phụ trách. Các đương sự trong vụ việc dân sự gồm có: nguyên đơn , bị đơn
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, người yêu cầu, người bị
yêu cầu và người có liên quan trong việc dân sự.
Trong phạm vi bài làm chỉ nghiên cứu về đương sự trong vụ án dân sự là cá
nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
Theo Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì:
“Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ
chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu
Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách
cũng là nguyên đơn.”
Trong tố tụng dân sự, hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát
sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tụng.
Bị đơn trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị
nguyên đơn hoặc bị người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật. Việc tham gia
vào vụ án dân sự của bị đơn mang tính chất bắt buộc chứ không phải chủ động như
nguyên đơn. Do bị nguyên đơn hoặc người đại diện của họ khởi kiện nên bị đơn buộc
phải tham gia tố tụng để trả lời về việc bị kiện. Tuy nhiên, hoạt động tố tụng dân sự
của bị đơn cũng có thể làm thay đổi quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trọng vụ án dân sự là người tham gia tố
tụng vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền, lợi



Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử
ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người
vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát
cùng cấp.
Trong trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa
đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa

2


Bài tập cuối kỳ tố tụng dân sự - Nguyễn Đức Hải
án phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng
biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2006/NQ - HĐTP của
TANDTC tại điểm 1.1 khoản 1 mục III thì nếu nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa lần
thứ nhất dù không có lý do chính đáng thì Tòa án vẫn hoãn phiên tòa.
Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo Điều 202 nếu:
- Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị của Tòa án xét xử vắng mặt
(không phân biệt chỉ có một nguyên đơn, một số nguyên đơn hoặc tất cả các nguyên
đơn trong vụ án đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
- Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có người đại diện hợp pháp tham gia phiên
tòa.
Theo hướng dẫn tại điểm 1.2 Khoản 1 Nghị quyết số 02/2006/NQ - HĐTP của
TANDTC thì đối với trường hợp nguyên đơn đã nhận được quyết định đưa vụ án ra
xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự, đã được tòa án
tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa theo quy định tại các điều 150 đến điều 156
của Bộ luật tố tụng dân sự và đương sự đã chuẩn bị tham dự phiên tòa xét xử vụ án,
nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan xảy ra đối với họ ngay vào
thời điểm trước ngày tòa án mở phiên tòa hoặc ngay trong thời điểm họ đang trên

định tại điểm 1.2 Nghị quyết 02/2006/NQ – HĐTP).
Tòa án vẫn tiến hành xét xử trong các trường hợp sau: (Điều 202 BLTTDS)
-

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

-

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa.

-

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Theo khoản 1 Điều 201 BLTTDS: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu vắng mặt lần thứ nhất
có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa”. Tuy vậy, cũng như trong hai trường hợp
trên, Tòa án chỉ có thể tiến hành xét xử vụ án khi có đương sự vắng mặt tại phiên tòa
trong các trường hợp quy định tại Điều 202 BLTTDS, do đó khi người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất dù không có lý do chính đáng
thì Tòa án vẫn hoãn phiên tòa (Nghị quyết 02/2006/NQ – HĐTP). Thủ tục hoãn phiên
tòa theo Điều 208 BLTTDS.

4


Bài tập cuối kỳ tố tụng dân sự - Nguyễn Đức Hải
Đối với những trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận được
quyết định đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 195 BLTTDS, đã được Tòa


Bài tập cuối kỳ tố tụng dân sự - Nguyễn Đức Hải
có lý do chính đáng hay không có lý do chính đáng, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm
cũng hoãn phiên tòa.
Trường hợp người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt tại phiên tòa, thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo và Hội đồng xét xử phúc
thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có kháng cáo của người kháng
cáo vắng mặt (nếu trong vụ án không có người kháng cáo khác). Trường hợp có nhiều
người kháng cáo mà có người kháng cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
266 của BLTTDS, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án
theo thủ tục chung đối với kháng cáo của những người kháng cáo có mặt tại phiên tòa.
Đối với phần vụ án có kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt, thì Hội đồng xét xử
phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm mà không phải ra quyết định riêng bằng văn
bản, nhưng phải ghi rõ quyết định này trong bản án, nếu phần vụ án có kháng cáo của
người kháng cáo vắng mặt liên quan đến phần khác của bản án bị kháng cáo, kháng
nghị.
Nếu đương sự không phải là người kháng cáo: Theo khoản 3 Điều 266
BLTTDS thì nếu đương sự mà không phải là người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa
thì việc hoãn phiên tòa hay vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy
định tại các điều 199, 200, 201, 202 của Bộ luật này và hướng dẫn tại các mục 1 và 2
Phần III của Nghị quyết số 02/2006/NQ – HĐTP.
Thời hạn hõa phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện
theo quy định tại Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.
III.Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
So với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước kia, các căn cứ hoãn
phiên tòa trong Bộ luật tố tụng dân sự đã chặt chẽ, đầy đủ hơn, hạn chế việc hoãn
phiên tòa tùy tiện nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Tuy nhiên, một số căn cứ
hoãn phiên tòa vẫn chưa rõ ràng, chưa bao quát được các trường hợp xảy ra trong thực
tiễn xét xử dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau.


có nhiều đương sự nhưng khi Tòa án triệu tập họ tham gia phiên tòa thì một trong số
họ lại vắng mặt. Tại nghị quyết 02/2006, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng
dẫn, mỗi đương sự sẽ được quyền vắng mặt một lần khi có lý do chính đáng. Cách

7


Bài tập cuối kỳ tố tụng dân sự - Nguyễn Đức Hải
giải quyết này nhìn chung là hợp lý vì đảm bảo được sự bình đẳng giữa các đương sự,
nhưng đối với những vụ án có nhiều đương sự cách giải quyết này sẽ làm thời hạn giải
quyết bị kéo dài. Có Thẩm phán cho rằng đối với những vụ án phức tạp có quá nhiều
đương sự, cần có quy định để tránh phải hoãn phiên tòa nhiều lần. Chẳng hạn, trong
vụ án chia thừa kế có tới hàng chục đương sự tham gia tố tụng, nếu mỗi đương sự
được một lần vắng mặt có lý do chính đáng thì việc hoãn phiên tòa cũng phải tới hàng
chục lần, do đó cần có quy định thêm trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà
có đương sự vắng mặt tại phiên tòa, nhưng các đương sự này không làm ảnh hưởng
đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt
họ.
Em thấy quan điểm trên là hợp lý vì vừa đảm bảo được quyền lợi của các
đương sự, vừa giải quyết nhanh chóng vụ án. Do đó cần bổ sung thêm Khoản 4 Điều
202 theo hướng: “Trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng
mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ,
hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và
nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vấn được tiến hành vắng mặt họ”.
Đầu tháng 11 năm 2010, Quốc hội đã họp và chuẩn bị đưa ra bàn luận về việc
ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo đó, tại
phiên tòa sơ thẩm, đương sự phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án,
trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể có mặt
tại phiên tòa. Trong trường hợp Tòa án triệu tập lần thứ hai mà đương sự vẫn vắng
mặt thì phải cử đại diện tham gia phiên tòa. Việc sửa đổi này đã phần nào hạn chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status