Bài thảo luận quản trị chiến lược bài tập tình huống: “Phân tích ngành sữa Việt Nam” - Pdf 40

MỞ ĐẦU
Tóm tắt bài tập tình huống: “Phân tích ngành sữa Việt Nam”
Trong những năm qua, ngành sữa Việt Nam phát triển khá nhanh. Nếu
như trước những năm 1990 cả nước mới chỉ có 1 đến 2 nhà sản xuất và phân
phối sữa thì hiện nay con số này đã tăng lên 72 công ty. Bên cạnh đó là sự thâm
nhập của các thương hiệu sữa nổi tiếng nước ngoài như Abbott, Dumex, Dutch
Lady, meiji,… Sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp sản xuất và chế biến trong
nước với các thương hiệu sữa nhập ngoại làm cho ngành sữa Việt Nam đứng
trước những thách thức lớn và cũng là cơ hội để phát triển và chiếm lĩnh thị
trường.
Về bản chất, sữa là một loại đồ uống có lợi cho sức khỏe, mang lại nguồn
dinh dưỡng quý giá trong chế độ chăm sóc sức khỏe của người tiêu dùng mà
chưa có sản phẩm nào có thể thay thê được.
Theo đánh giá của các chuyên gia, thị trường sữa Việt Nam hiện nay vẫn đang
trong giai đoạn tăng trưởng mạnh, có quy mô 3 tỷ USD với nhiều tên tuổi lớn
như Vinamilk, Fresland campina Vietnam, Ba Vì Milk, Mộc châu Milk,…
trong đó Vinamilk đang giữ thị phần lớn nhất.
Thị trường sữa Việt Nam có các nhóm sản phẩm chính như sau:
+ Sữa bột công thức là sản phẩm sữa bột trẻ em được pha chế theo công thức
đặc biệt thay thế cho sữa mẹ. Các loại sữa bột công thức được chia theo lứa tuổi
như 0- 6 tháng, 6- 12 tháng, 1-3 tuổi, trên 3 tuổi. Đây là mảng sản phẩm có tốc
độ phát triển nhanh nhất trong ngành với mức tăng trưởng kép đạt 20,8% cho
giai đoạn 2004-2009. Năm 2012, thị trường Việt Nam tiêu thụ khoảng 65000
tấn sữa bột tương đương 2300 tỷ đồng trong đó 70% là nhập ngoại do tâm lý
sính ngoại của người tiêu dùng.
+ Sữa uống là nhóm sản phẩm đang có sức tiêu thụ mạnh trên thị trường Việt
Nam. Các sản phẩm sữa uống bao gồm sữa nước, sữa bột khác và sữa đậu nành.
Trong đó sữa nước bao gồm sữa tươi nguyên chất và sữa tiệt trùng. Đối với
phân khúc này hiện có hơn 10 doanh nghiệp tham gia, thì Vinamilk và
Friesland Campina Vietnam chiếm tới 66% thị phần toàn ngành.
+ Sữa bột khác là loại sữa bột dành riêng cho từng đối tượng, thường là người

1

Phân đoạn thị trường sữa Việt Nam và đánh giá tiềm năng của các
phân đoạn này?

2

Phân tích và đánh giá sự tác động của các nhóm lực lượng cạnh tranh
trong ngành sữa Việt Nam? Từ đó đánh giá cường độ cạnh tranh và
tính hấp dẫn của ngành sữa hiện nay?

2

2


Đề cương dàn ý:
Chương I: Thực trạng ngành công nghiệp sữa Việt Nam trong giai đoạn
2010-2013
1, Sự đa dạng về chủng loại , mẫu mã
2, Nguồn nguyên liệu trong nước chưa được đáp ứng
3, Công nghiệp chế biến sữa tương đối hiện đại
4 Giá sữa
5, Chất lương sữa chưa đảm bảo
6, Thị trường sữa hậu WTO, cuộc chiến sữa thêm khốc liệt
Chương II- Phân đoạn thị trường sữa Việt Nam và đánh giá tiềm năng
của các phân đoạn này
1.1.
Sữa bột công thức
1.2.

Cơ hội và thách thức của ngành sữa Việt Nam đến năm 2020
Cơ hội:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh.
- Thị trường rộng lớn.
- Môi trường đầu tư ở Việt Nam ngày càng thông thoáng, hấp dẫn
- Nguồn nhân lực
3

3


Thách thức:
- Hội nhập kinh tế.
- nguồn nguyên liệu.
3. Giải pháp phát triển ngành sữa
3.1 Giải pháp về cơ cấu đầu tư
3.2 Giải pháp về phát triển nguồn nguyên liệu
3.3 Giải pháp về phát triển thị trường

Chương I-Thực trạng ngành sữa Việt Nam
1-Sự đa dạng về chủng loại mẫu mã
Sản phẩm ngành sữa ngày càng đa dạng phong phú, đáp ứng đủ mọi nhu
cầu của từng đối tượng cũng như từng độ tuổi khác nhau. Nếu như trước đây
4

4


các sản phẩm từ sữa xuất hiện ít chủng loại như sữa đặc có đường (từ năm
1975-1988), có thêm sản phẩm sữa bột các loại từ năm 1989 rồi đến tận năm


lớn công nghệ và thiết bị chế biến sữa của các công ty lớn ở Việt Nam đều nhập
từ các nước có nền công nghiệp chế biến sữa tiên tiến nhất như Thụy Điển, Đan
Mạch, Hà Lan, Mỹ, Đức, Italia, Thụy Sỹ, Pháp…. Có thể nói ngành sữa ở Việt
Nam đã tiếp cận đến trình độ của thế giới cả về công nghệ, trang thiết bị , đã áp
dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000
4.-Giá sữa
Một bản báo cáo về tình hình cạnh tranh trên thị trường sữa công thức dành cho
trẻ em từ 0 - 12 tháng tuổi tại Việt Nam qua các năm 2009 - 2011 đã được Tổ
chức Thống nhất và Tín thức bảo vệ người tiêu dùng (CUTS International) công
bố hôm 17/10 tại Hà Nội.
Kết quả báo cáo này cho thấy, so với một số quốc gia trong khu vực khi xét theo
giá trị tuyệt đối, thì giá sữa tại Việt Nam hiện đang đứng ở mức trung bình. Cụ
thể, giá trung bình của các sản phẩm sữa công thức cho trẻ em từ 0 - 6 tháng tuổi
tại Việt Nam là 16 USD/kg và 15 USD/kg cho loại từ 6 - 12 tháng tuổi, tính vào
thời điểm quý 4/2011. Mức giá này thấp hơn giá sữa trung bình tại Hồng Kông,
Singapore, Trung Quốc nhưng cao hơn Indonesia (11 USD/kg và 10 USD/kg),
Malaysia (14 USD/kg và 12 USD/kg), Philippines (13 USD/kg và 13 USD/kg)
và Thái Lan (12 USD/kg).Bên cạnh đó, báo cáo còn cho rằng giá trung bình của
các dòng sản phẩm sữa bột cao cấp tại Việt Nam đứng vào hàng thấp trong khu
vực, chỉ cao hơn so với giá trung bình của các dòng sản phẩm tương ứng tại
Thái Lan. Tại Việt Nam, giá trung bình của các sản phẩm từ 0 - 6 tháng tuổi là
20,6 USD/kg và 20,4 USD/kg cho dòng từ 6 - 12 tháng tuổi. Tại Thái Lan tương
ứng là 18 USD/kg và USD/kg. Trong khi đó Malaysia là 27,3 USD/kg và 25,3
USD/kg, Indonesia 24,3 USD/kg và 23 USD/kg và Philippines 23 USD/kg và 21
USD/kg.Theo bà Phạm Quế Anh, Giám đốc Văn phòng CUTS Hà Nội, một yếu
tố khác tác động đến giá sữa tại Việt Nam là mức thuế. Giá sữa tại Việt Nam,
đặc biệt là sữa nhập khẩu (cả nguyên liệu và thành phẩm) đang chịu mức thuế
nhập khẩu 10% và thuế giá trị gia tăng 10% đều là mức cao so với các quốc gia
nói trên. “Đây cũng là một trong các nhân tố khiến giá sữa công thức cho trẻ em

7

7


cao niên, là thành phần mà sức khỏe cần được chăm sóc nhiều nhất.
6-Thị trường sữa hậu WTO
Việc gia nhập WTO sẽ đưa ngành chế biến sữa vào cuộc cạnh tranh mới quyết
liệt hơn. Nguyên nhân chủ yếu do nhiều nước trong cộng đồng tổ chức WTO
đang sản xuất sữa với giá thành cực rẻ. Đây là những nước được thiên nhiên ưu
đãi phù hợp với qui mô chăn nuôi bò sữa công nghiệp, chi phí rất thấp. Sữa và
các sản phẩm từ sữa đã gần gũi hơn với người dân, nếu trước những năm 90 chỉ
có 12 nhà sản xuất, phân phối sữa, chủ yếu là sữa đặc và sữa bột ( nhập ngoại),
hiện nay thị trường sữa Việt Nam đã có gần 20 hãng nội địa và rất nhiều doanh
nghiệp phân phối sữa chia nhau một thị trường tiềm năng với 80 triệu dân.
Lượng tiêu thụ sữa Việt Nam liên tục tăng mạnh với mức từ 15-20% năm, theo
đó trong những năm tới thị trường sữa trong nước sẽ tăng từ 5% đến 10%. Dự
báo sẽ tiếp tục tăng gấp đôi vào năm 2020.
Có thể nói, thị trường sữa Việt Nam là thị trường “mơ ước” của các nhà kinh
doanh sữa. Sữa và sản phẩm từ sữa những năm qua của các Công ty sữa
Việt Nam có thị trường tiêu thụ rất thuận lợi không chỉ trong nước mà còn
xuất khẩu ra nước ngoài, từng bước khẳng định thương hiệu sữa của Việt
Nam tại các thị trường tiềm năng như Irac, Trung Quốc, Cu ba, Myanma…

8

8


Chương II- Phân đoạn thị trường sữa Việt Nam và đánh

NutiFood chiếm 4%.Tuy nhiên ngoài 2 cái tên kể trên những thương hiệu nội
gần như vắng bóng.
- Khảo sát của Euromonitor cho thấy, hầu hết những người dân có thu nhập
trung bình trở lên có xu hướng cho con dùng sữa ngoại. Điều này cũng dễ hiểu
vì dù là ngay ở trên sân khách, các thương hiệu ngoại luôn có một ưu thế cạnh
tranh đặc biệt, đó là độ nhận biết thương hiệu cao. Thêm vào đó là chiến lược
marketing bài bản, đánh đúng vào tâm lý người tiêu dùng. Hàng loạt dòng sản
phẩm ngoại với lời quảng cáo bổ sung DHA, Taurrin với những lời quảng cáo
"có cánh" đủ sức làm xiêu lòng mọi bà mẹ.
Giá sữa bột trong 5 năm qua đã tăng tới 30 lần và không biết khi nào dừng lại.
Trên thực tế, chưa có một nghiên cứu nào so sánh chất lượng sữa nội - sữa
ngoại và sự khác biệt giữa việc bổ sung thêm các khoáng chất, chỉ biết càng bổ
10

10


sung nhiều chất, khách hàng càng phải móc ví nhiều hơn cho nhà sản xuất.
Đối với các công ty bán sữa bột cho trẻ em, marketing chiếm một phần rất quan
trọng. Chẳng hạn Nestle hay MeadJohnson có chi phí quảng cáo chiếm khoảng
30% tổng chi phí. Các hãng sản xuất không tiếc tiền quảng cáo cho sản phẩm
bởi sữa bột là loại mặt hàng mà một khi đã lựa chọn, khách hàng thường không
thay đổi.
Một khi đã chọn một loại sản phẩm sữa, việc chuyển đổi từ một loại sữa này
sang một loại sữa khác không hề dễ dàng vì có thể gây nên một số phản ứng ở
trẻ như trẻ không chịu bú, táo bón, chậm tăng cân… Khảo sát thị trường của
AC Nielsen cũng cho thấy: “ sữa bột cho trẻ em nằm trong nhóm các mặt hàng
có độ trung thành với thương hiệu rất cao và ít chịu ảnh hưởng từ tác động lạm
phát.”
Nhìn vào số lượng các doanh nghiệp đang tham gia, có thể thấy thị phần sữa

gầy, sữa dành cho người tiểu đường,...).
→ Đối với phân đoạn này rất tiềm năng cho các DN tham gia vào đây. Nền
kinh tế phát triển, thu nhập người dân tăng lên nên nhu cầu dinh dưỡng của họ
ngày càng cao. Đối với phụ nữ mang thai họ luôn muốn cho đứa con của mình
phát triển và khoẻ mạnh ngay từ trong bụng mẹ. Đối với người lớn tuổi nhu cầu
dinh dưỡng của họ rất được quan tâm. Việc uống sữa mỗi ngày để bổ sung các
dưỡng chất giúp người già khỏe mạnh hơn và vui chơi bên người thân. Tuy đời
sống của người dân ngày càng được cải thiện nhưng vấn đề ô nhiễm môi
trường, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa thực sự được quan tâm nên ngày càng
có nhiều người mặc các bệnh nguy hiểm: ung thư, tiểu đường, ...Do vậy đối
tượng này cũng cần có chế độ chăm sóc đặc biệt, có các sản phẩm sữa dành
riêng cho họ.
- Mặt hàng sữa đậu nành


Ở phân khúc sữa đậu nành, Vinasoy đang được đánh giá là doanh nghiệp dẫn
đầu ngành với mức tăng trưởng vượt bậc, bình quân 40%/năm trong vòng 10
năm trở lại đây. Theo đó, xét trên tổng thể năng lực sản xuất, xem ra Vinamilk
mới có đủ thế mạnh để đối đầu với Vinasoy.
Hiện nay có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong những năm qua do nhận thức
của người tiêu dùng về lợi ích của sữa đậu nành ngày càng tăng, và nhờ các
chiến dịch quảng cáo của nhà sản xuất. Hiện nay công ty sữa đậu nành Vinasoy
chiếm 78% thị phần về sữa đậu nành hộp giấy với 2 sản phẩm chính : sữa đậu
nành Fami và sữa đậu nành mè đen. Thị phần còn lại là của Vinamilk với nhãn
hiệu Goldsoy. Sản phẩm sữa đậu nành của Vinasoy được xem là đối thủ đáng
gờm nhất của Vinamilk trong phân đoạn này.
12

12


Campina tham gia thị trường muộn hơn nhưng cũng chiếm 21% thị phần
với 3 nhãn hiệu Cô gái Hà Lan, Hoàn Hảo và Trường Sinh. Hiện nay đã
xuất hiện thêm Vixumilk với nhãn hiệu Daily nhưng phát triển còn khá
èo uột. Do đó, thị trường sữa đặc hiện nay không sôi động như các dòng
sản phẩm sữa khác.
→ Trong đó phân khúc sữa đặc có đường hiện nay đã bão hòa do người tiêu
dùng thành phố bắt đầu nhận thức được sữa đặc có đường không tốt cho sức
khỏe và hiện nay sữa đặc có đường phổ biến hơn ở nông thôn.
- Phân đoạn sữa chua: rất tiềm năng và hấp dẫn, gồm 2 loại đó là sữa chua
ăn và sữa chua uống. Người tiêu dùng đã nhận thức được lợi ích của việc ăn
sữa chau rất tốt cho hệ tiêu hóa và nhất là đói với chị em phụ nữ giúp cho làn da
sáng, trẻ và khỏe hơn. Với việc nghiên cứu khách hàng và các chiêu thức quảng
cáo nên thị trường sữa chua rất phổ biến và việc tiêu thụ ngày càng nhiều.
Trong phân đoạn này Vinamilk chiếm thị phần với 80% thị phần sữa đặc có
đường ( Friesland Campina VN chiếm 20% ), và 90% thị phần sữa chua (IDP
chiếm 7.5%, TH Milk chiếm 2% và các hãng khác chiếm khoảng 0.05%)
Theo dự đoán của các chuyên gia, khoảng 3 năm nữa thị trường sữa chua sẽ
phát triển như sữa tươi. Mức độ cạnh tranh ở thị trường này sẽ tăng từ năm
2014, khi đó doanh nghiệp nào có sản phẩm tốt, thương hiệu mạnh sẽ phát triển
và chiếm ưu thế.
Hiện nay, so với các nước trên thế giới, tỷ lệ sử dụng sữa chua so với sữa ở Việt
Nam còn rất thấp. Đơn cử tại Pháp tỷ lệ này là 80:20, ở Singapore là 70:30 hay
Thái Lan đạt 50:50. Trong khi đó, tỷ lệ ở Việt Nam chỉ khoảng 20:80.
Tuy nhiên các sản phẩm sữa chua tại thị trường Việt rất có tiềm năng phát
triển. Theo số liệu thống kê của Euromonitor International, doanh thu từ sữa
14

14



hiệu sữa nổi tiếng nước ngoài như: Abbott, Dumex, Ducth Lady, Nestle.. Tên
tuổi gia nhập nghành sữa gần đây nhất là TH Milk với nhãn hiệu TH True Milk.
Xuất hiện từ 12/2010, qua hai năm phát triển, với tốc độ rất nhanh chóng TH
True Milk đẫ làm thay đổi thị trường sữa Viet Nam. Việt Nam là một nước
đông dân với 86 triệu người, mức tiêu thụ sữa trên đầu người còn thấp nên thị
trường sữa Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng và có sức hấp dẫn cao.
Tuy nhiên, với lợi thế cạnh tranh của Vinamilk hiện có trên thị trường nội địa
rất sáng lạng, Vinamilk vẫn đang giữ thị phần hàng tiêu dùng chính như sữa đặc
(chiếm 80% thị phần), sữa chua (chiếm 90% thị phần) và sữa nước (chiếm 50%)
với mức thị phần gần như độc quyền, Vinamilk hoàn toàn có thể đứng vững trên
thị trường sữa trong nước.
1.2. Sự có mặt, thiếu vắng của sản phẩm thay thế
Ngày nay, khi cuộc sống ngày càng cải thiện nhu cầu đáp ứng đầy đủ về dinh
dưỡng là điều tất yếu. Mặt khác khoa học cũng đã chứng minh rằng sữa là sản
phẩm thiết yếu bổ sung đầy đủ dinh dưỡng về nhu cầu thiết yếu của con người.
16

16


Cộng với những tính năng ưu việt của sữa nên sản phẩm từ sữa ngày càng trở
nên thiết yếu với con người.
Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống có không ít người “ bị dị ứng” không thể
dung nạp lactose từ sữa bò, vì các nguyên nhân như: ăn kiêng (tránh cholesterol
và chất béo bão hòa), niềm tin tôn giáo (Phật giáo), chủ nghĩa môi trường (cứu
vãn hành tinh), và sự lựa chọn cá nhân (không thích những sản phẩm từ sữa, lo
ngại những bệnh truyền nhiễm từ sữa), lý do y học (không dung nạp sữa, gluten,
dị ứng).
Những điều này làm tăng thêm mối quan tâm đối với các loại thức uống thay thế
sữa. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nhiều khách hàng không thể sự dụng

bò sản xuất ra lượng sữa cao, chỉ có loại cỏ nhập khẩu như Alfalfa, các cây họ
đậu…có chứa lượng đạm cao, đáp ứng được lượng chất cần thiết để nuôi bò cao
sản. Các loại cỏ Panicum, cỏ hỗn hợp úc, Brach, Mulato..cũng giúp bò tăng
năng suất sữa cao. Tuy nhiên nếu bò chỉ ăn đủ lượng mà không đủ chất thì sữa
cũng không đạt chất lượng tiêu chuẩn, do đó thức ăn cho bò không chỉ gồm
thức ăn thô mà cần phải đảm bảo chất xơ. Vì vậy, nghành sữa Việt Nam không
những phải nhập giống bò cho sữa tốt mà còn phải nhập cả loại cỏ cho nhiều
sữa , phải đầu tư cả đất trồng phù hợp cho cỏ.
Không những thế, phần lớn công nghệ và thiết bị chế biến sữa của các doanh
nghiệp lớn ở Việt Nam (Vinamilk..) đều phải nhập khẩu từ các nước có nền
công nghiệp chế biến sữa tiên tiến như Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Mỹ…
Có thể nói nghành sữa Việt Nam đã và đang tiếp cận tới trình độ của Thế giới
về cả công nghệ, trang thiết bị, Việt Nam đã áp dụng hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000. Theo báo cáo mới nhất, dù đã
tăng 1,5 lần so với quy hoạch nhưng nghành sữa Việt Nam vẫn phải nhập khẩu
80% tổng nhu cầu về nguyên liệu “đầu vào “ từ nước ngoài, điều đó lý giải vì
sao thị trường sữa Việt Nam luôn bị ảnh hưởng tức thì và trực tiếp mỗi khi thị
trường sữa Thế giới biến động về giá hay chất lượng.
Fonterra là một tập đoàn đa quốc gia hàng đầu Thế giới trong lĩnh vực sữa và
xuất khẩu các sản phẩm sữa, tập đoàn này nắm giữ 1/3 khối lượng mua bán trên
toàn Thế giới. Đây chính là nhà cung cấp chính cho nhiều công ty nổi tiếng trên
Thế giới cũng như công ty Vinamilk cua Việt Nam.

18

18


Một số nhà cung ứng lớn của công ty Vinamilk:


của công ty và từ đó sản phẩm của hãng mới đến với người tiêu dùng thông qua
trung gian này.
Trung gian này dễ dàng có thể chuyển đổi nhà cung cấp cho mình nếu họ thấy
không thu được lời nhiều và vốn đọng lâu .
Từ những phân tích trên cho thấy áp lực về giá đối với những trung gian

19

19


này gây ra là rất lớn nhất là trong điều kiện về kinh tế địa lí ở việt nam
1.5. Đe dọa từ các đối thủ cạnh tranh trong nghành.
Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển kinh tế mạnh mẽ với
tốc độ “thần tốc” kéo theo mức thu nhập, mức sống của người dân cũng được
cải thiện rõ rệt. Nếu như trước đây thành ngữ “ăn no mặc ấm” là ước mơ của
nhiều người thì hôm nay, khi đất nước đã gia nhập WTO lại là “ăn no mặc
đẹp”. Sữa và các sản phẩm từ sữa đã gần gũi hơn với người dân, nếu như trước
những năm 90 cả nước chỉ có 1 đến 2 nhà sản xuất và phân phối sữa, chủ yếu là
sữa bột và sữa đặc (nhập ngoại), thì hiện nay thị trường sữa Việt Nam gần có
20 hãng nội địa và 72 công ty phân phối sữa trên một thị trường tiềm năng với
dân số 86 triệu dân. Theo Tổng cục thống kê, tổng ượng tiêu thụ sữa Việt Nam
liên tuc tăng mạnh với mức từ 15-20%/năm, mức tiêu thụ sữa đã tăng gấp đôi
(2010) so với những năm trước, Mức tiêu thụ sữa bình quân trên đầu người tăng
7.85% mỗi năm, từ gần 9 lít năm 2000 lên gần 15 lít năm 2009.
Ngành sữa Việt Nam đang tăng trưởng ngày càng cao: trong 12 tháng tính đến
tháng 3/2013, tốc độ tăng trưởng sản lượng của ngành hàng tiêu dùng (trừ bia)
tăng 11% so với cùng kỳ năm trước, và tăng 15% về doanh thu. Trong đó, tăng
trưởng sản lượng của sản phẩm chế biến từ sữa tăng 19% so với một năm trước,
và tăng trưởng 22% về doanh thu. Thị trường sữa Việt Nam vô cùng tiềm năng

như TH TrueMilk, Hanoimilk, Abbott, Mead Jonson, Nestlé, Dutch lady…Trong
tương lai, thị trường sữa Việt Nam tiếp tục mở rộng và mức độ cạnh tranh ngày
càng cao.

b) Đánh giá cường độ cạnh tranh
Tóm lại, sau quá trình tìm hiểu và phân tích các nhóm lực lượng cạnh tranh
trong ngành sữa Việt Nam theo mô hình năm nhóm lực lượng cạnh tranh của
M.Poter. Chúng tôi nhận thấy rằng với ngành sữa Việt Nam đe dọa lớn nhất là
đe dọa từ nhà cung ứng. Chính vì thế trong những năm vừa qua, cũng như trong
tương lai ngành sữa Việt Nam nói chung va các doanh nghiệp lớn: Vinamilk,
TH True Milk
Fresland Campina Vietnam…phải tăng cường biện pháp nhằm giảm mối đe dọa
từ các nhà cung ứng. Các doanh nghiệp có thể tự cung cấp nguồn nguyên kiệu
đầu vào cho chính mình, xây dựng các quy trình chăm sóc chế biến đáp ứng các
21

21


tiêu chuẩn về an toàn theo chứng chỉ quốc tế. Nhờ sự chú trọng đầu tư kịp thời
và có hiệu quả nên các doanh nghiệp sữa Việt Nam điển hình là Vinamillk đã
phần nào giảm sụ lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, tạo thế mạnh
cạnh tranh cho riêng mình.
Việt Nam gia nhập WTO là sự kiện quan trọng, ảnh hưởng tới nhiều thành phần
kinh tế trong đó có tập đoàn sữa Vinamilk, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
trong ngành, thêm vào đó là các đố thủ tiềm ẩn có thể xâm nhập vào thị trường
bất cứ khi nào. Điều này tạo ra một yêu cầu khách quan về sự phát triển bền
vững của các doanh nghiệp, đó là sự phát triển hợp tác cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu. Đây cũng chính là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam tạo cho
mình chỗ đứng trên thị trường quốc tế.

22

22


động sản xuất kinh doanh.


Nguồn nhân lực:

Việt Nam là nước có nguồn nhân công giá rẻ, dồi dào…do đó các nhà đầu tư sẽ
tiết kiệm được các chi phí lao động. Bước vào hội nhập WTO, đất nước ta
không ngừng đổi mới và phát triển, bên cạnh đó, đảng và nhà nước ta đang có
các chính sách bồi dưỡng nhân tài, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại…để
đổi mới và phát triển đất nước.
Ngày nay, thương trường được xem là chiến trường, thế hệ trẻ không ngừng
học hỏi, nâng cao kiến thức, tích lũy những kinh nghiệm cần thiết khi bước vào
hội nhập…
Thách thức.


Hội nhập kinh tế.

Tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế , trở thành thành viên của các tổ chức
kinh tế trên thế giới là một cơ hội thuận lợi cho Việt Nam có thể phát triển và
nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra
khá nhiều thách thức cho các doanh nghiệp sữa Việt Nam. Cụ thể là, sau khi gia
nhập WTO, từ năm 2010 hàng rào thuế quan đã được gỡ bỏ, theo đó các doanh
nghiệp sữa từ các nước khác nhau có nhiều cơ hội gia nhập vào thị trường Việt
Nam, đây là yếu tố bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất sữa trong thị trường

công doạn mà Việt Nam có thể tự làm được để giảm bớt giá thành của bao bì.
Đầu tư các nhà máy chế biến thức ăn tinh cho bò và các xưởng dự trữ ủ cỏ và
các phụ phẩm.
3.2. Giải pháp phát triển nguồn nguyên liệu.
Ngành công nghiệp chế biến sữa cần phải kết hợp với ngành nông nghiệp đầu tư
phát triển đàn bò. Quy hoạch phát triển bò sữa từ tổ chức chăn nuôi đến thu
mua. Chọn lọc những bò sữa tốt để làm giống và sản xuất sữa. Áp dụng tiến bộ
khoa học –kỹ thuật trong công tác giống: nhập nguồn gen mới, nhập một số bò
đực giống Hà Lan cao sản thuần chủng đã kiểm tra năng suất cá thể từ nước
ngoài.
Tạo dựng mối liên kết giữa người chăn nuôi bò sữa với nhà sản xuất chế biến
sữa để cùng đầu tư cho một quy trình nuôi bò công nghiệp quy mô, để chia sẻ
chi phí, hạ giá thành thức ăn chăn nuôi.
3.3. Giải pháp về thị trường.
Đối với thị trường trong nước:
Tổ chức nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu mong muốn của khách hàng
24

24


đối với sản của ngành, từ đó cho ra đời những sản phẩm phù hợp với thị hiếu, sở
thích của từng đối tượng khách hàng.
Tăng cường khuếch trương, quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin
đại chúng. Chú trọng duy trì và phát triển các kênh phân phối. Củng cố các đại
lý sữa đã có, tăng cường kiểm soát, mở rộng mạng lưới phân phối từ các vùng
trọng điểm đến các địa phương nhỏ lẻ. Đưa sữa vào các trường học , khuyến
khích học sinh, sinh viên uống sữa để nâng cao thể lực, trí tuệ, tạo thói quen
uống sữa ngay từ bé, đồng thời dần mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đa dạng hóa sản phẩm kết hợp với việc cải tiến bao bì, mẫu mã, đảm bảo vệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status