ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
MỞ ĐẦU
Cách đây 100 năm, tại Nhật Bản, vị giáo sư Kikunae lkeda (Đại học Hoàng
gia Tokyo) đã khám phá ra chất tạo nên vị ngọt thịt, đó chính là glutamate.
Glutamate một axit amin được tìm thấy trong tự nhiên và hiện diện nhiều
trong các sản phẩm: thịt, cá, trứng, rau củ. Chất glutamate này đã từng được chiết
xuất thành công từ tảo biển, có thể được tạo ra từ nguyên liệu đường tinh, bột sắn
bằng phương pháp lên men tự nhiên [23].
Mì chính được giới thiệu lần đầu tiên tại thị trường Nhật Bản. Ngày nay, mì
chính đã được sử dụng tại hầu hết các nước trên thế giới. Sản lượng mì chính vào
khoảng 1,6 triệu tấn/năm. Theo các thống kê, mức tiêu thụ mì chính không khác
nhau nhiều ở các nước trên thế giới, chỉ khác nhau về hình thức thể hiện: hạt nêm
thực phẩm chế biến đã tẩm ướp mì chính. Có nơi, ưa thích mì chính cánh to nhưng
có nơi lại thích sử dụng ở dạng xay nhỏ [23].
Mì chính được sản xuất thông qua quá trình lên men, tương tự như lên men
bia, dấm, nước chấm từ các nguyên liệu như mật mía đường, tinh bột ngũ cốc
Glutamate của mì chính tương tự như glutamate có trong cơ thể con người, được
tiêu hóa, hấp thu trong ruột như glutamate có trong các thực phẩm khác. Các nghiên
cứu đã chứng minh glutamate của mì chính hay của thực phẩm đều có vai trò quan
trọng như nhau trong hệ thống tiêu hóa của con người [23].
Mì chính được sử dụng nhiều trong các món ăn chế biến có thịt, cá, rau,
nước sốt Lượng glutamate bổ sung từ mì chính chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong
tổng số glutamate ăn vào hằng ngày. Nếu tổng lượng glutamate ăn vào hằng ngày
khoảng 10-20g thì glutamate từ mì chính chỉ chiếm 0,5 - 0,15 g [23].
Tính an toàn của mì chính đã được các tổ chức y tế, sức khỏe hàng đầu thế
giới khẳng định từ lâu bằng các nghiên cứu lâu dài trên cả động vật và người. Từ
trước năm 1987, Ủy ban hỗn hợp về phụ gia thực phẩm của Tổ chức Y tế Thế giới
và Tổ chức Lương nông Quốc tế đã đưa ra liều dùng mì chính có thể chấp nhận
được: 120 mg/kg thể trọng mỗi ngày. Như vậy, một người cân nặng 50 kg sẽ được
ăn tối đa 6 g mì chính mỗi ngày. Tuy nhiên, đến năm 1987, tại một hội nghị quốc tế,
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 1
ngô, khoai, sắn…[15].
1.2. Vùng nguyên liệu
Thành phố Đà Nẵng nằm gần 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Đây là hai
địa phương có nguồn nguyên liệu dồi dào cung cấp cho sản xuất. Quảng Ngãi có
nhà máy đường, cung cấp lượng rỉ đường cần thiết. Quảng Nam có nhà máy tinh
bột sắn. Đây là điều kiện thuận lợi nhất để Đà Nẵng xây dựng nhà máy sản xuất mì
chính.
1.3. Hợp tác hoá
Nhà máy sẽ đặt tại khu công nghiệp Hoà Khánh nên những điều kiện về hợp
tác hoá giữa nhà máy và các nhà máy khác là rất thuận lợi và sử dụng chung các
công trình công cộng như điện, nước, hệ thống thoát nước, giao thông…
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 3
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
Nhờ đó sẽ giảm thiểu vốn đầu tư ban đầu, rút ngắn thời gian hoàn vốn, đồng
thời tận dụng tuần hoàn các sản phẩm phụ tránh được ô nhiễm môi trường.
1.4. Nguồn cung cấp điện, hơi và nhiên liệu
Nguồn cung cấp điện cho nhà máy lấy từ mạng điện lưới quốc gia, nhờ trạm biến
áp 110KV có dòng điện tiêu thụ với điện áp 220/380V. Để đề phòng mất điện nhà máy
có lắp đặt thêm máy phát điện dự phòng.
1.5. Nguồn cung cấp nước và vấn đề xử lý nước
Nguồn cung cấp nước cho nhà máy như nước của công ty cung cấp nước
thành phố, hoặc cũng có thể sử dụng nguồn nước ngầm như khoan giếng…Ở đây ta
chọn nước máy từ nhà máy cung cấp nước thành phố.
Nước từ nhà máy đưa về đều được lắng, lọc, làm mềm và xử lý ion trước khi
đưa vào sản xuất.
1.6. Giao thông vận tải
Đà Nẵng nằm trên quốc lộ 1A là đầu mối giao thông quan trọng của hai miền
Nam Bắc. Có cảng biển rộng lớn thông ra quốc tế. Ngoài ra còn có tuyến quốc lộ
14B nối Đà Nẵng với Tây Nguyên và Lào, Thái Lan. Do đó thuận lợi cho việc vận
đó dùng NaOH ở nồng độ cao sản xuất ra bột ngọt (muối glutamat natri) [16].
2.1. Nguyên liệu:
Để lên men sản xuất axit glutamic, người ta dùng nguyên liệu chủ yếu là dịch
có đường, hoặc rỉ đường, hoặc các nguồn nguyên liệu tinh bột đã qua giai đoạn
đường hóa. Khoai mì là nguyên liệu tinh bột được sử dụng nhiều nhất hiện nay.
Ngoài ra còn có các nguồn dinh dưỡng bổ sung như muối amôn, photphat, sulfat,
biotin, vitamin B…
Trong thực tế sản xuất, người ta dùng rỉ đường làm môi trường lên men thay
cho cao bắp. Rỉ đường thường pha loãng đến 13 – 14% và thanh trùng trước khi lên
men. Nếu là nguyên liệu chứa tinh bột, thì tinh bột phải được thủy phân (quá trình
dịch hóa và đuờng hóa) nhờ enzym a-b-amylaza rồi sau đó mới bổ sung thêm dinh
dưỡng vào môi trường lên men [16].
2.2. Chủng vi sinh:
Tham gia vào quá trình lên men sản xuất axit glutamic, chủng vi sinh thường
sử dụng là: Corynebacterium Glutanicum, Brevibacterium Lactofermentus,
Micrococus Glutamicus; nhưng chủ yếu nhất vẫn là chủng Corynebacterium
Glutamicum (loại vi khuẩn này đã được nhà vi sinh vật Nhật Bản Kinosita phát hiện
từ 1956, có khả năng lên men từ tinh bột, ngô, khoai, khoai mì để tạo ra axit
glutamic).
Giống vi khuẩn thuần khiết này được lấy từ ống thạch nghiêng tại các cơ sở
giữ giống, sau đó được cấy truyền, nhân sinh khối trong môi trường lỏng (như đã
nói ở phần trên). Khối lượng sinh khối đuợc nhân lên đến yêu cầu phù hợp cho quy
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 6
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
trình sản xuất đại trà. Trước khi nhân, cấy, môi trường lỏng phải được thanh trùng
bằng phương pháp Pasteur [16].
Chủng vi khuẩn giống phải có khả năng tạo ra nhiều axit glutamic, tốc độ
sinh trưởng phát triển nhanh, có tính ổn định cao trong thời gian dài, chịu được
nồng độ axit cao, môi trường nuôi cấy đơn giản, dễ áp dụng trong thực tế sản xuất.
điều kiện thoáng khí, giữ ở nhiệt độ 32 – 37
0
C trong thời gian 38 – 40 giờ.
Kết thúc quá trình lên men, lượng axit glutamic có thể đạt được 17% tổng
lượng dịch sau lên men.
Trong thời gian lên men, pH sẽ chuyển dần sang axit do sự hình thành axit
glutamic do đó người ta thường bổ sung thêm dinh dưỡng vào môi trường nguồn
amôn (NH
4
Cl, (NH
4
)
2
SO
4
, urê) để giữ ổn định độ pH cho vi khuẩn hoạt động tốt.
Không được để điều kiện lên men là yếm khí vì sản phẩm tạo ra sẽ là axit lactic. Để
tạo thoáng khí, trong các thiết bị lên men bố trí bộ phận khuấy trộn dịch với tốc độ
V = 450 vòng/phút [16].
2.3.3. Tinh sạch axit glutamic:
Kết thúc quá trình lên men, axit glutamic được tạo thành cùng với một số tạp
chất khác, do đó cần phải tinh chế các tạp chất này ra khỏi dung dịch chứa axit
glutamic.
Quá trình thu nhận axit glutamic sau lên men để tạo sản phẩm mì chính là
một quá trình phức tạp và trải qua nhiều công đoạn khác nhau (cô đặc, kết tinh, ly
tâm, làm sạch tinh thể…) đòi hỏi ở mổi giai đoạn cần có các thiết bị và các thông số
kỹ thuật thật chính xác.
3.3.4. Sự tạo thành bột ngọt
Bột ngọt là muối natri của axit glutamic, gọi là glutamat natri. Dùng NaOH
40 – 50% để trung hòa dung dịch axit glutamic đến pH = 6,8, sau đó đem lọc, và kết
xuất mì chính về sau.
3.1.1 Nguyên liệu quá trình sản xuất:
Khu công nghiệp Hòa Khánh (Thành phố Đà Nẵng) nằm gần 2 tỉnh Bình
Định và Quảng Ngãi. Đây là hai địa phương có nguồn nguyên liệu dồi dào cung cấp
cho sản xuất. Quảng Ngãi và Bình Định có các nhà máy đường, cung cấp lượng rỉ
đường cần thiết.
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 9
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
3.1.1.1. Rỉ đường mía:
Rỉ đường là phần còn lại của dung dịch đường sau khi đã tách phần đường
kết tinh. Số lượng và chất lượng của rỉ đường phụ thuộc vào giống mía, điều kiện
trồng trọt, hoàn cảnh địa lý và trình độ kỹ thuật chế biến của nhà máy đường.
Thành phần chính của rỉ đường là:
Đường tổng số 45
÷ 60
%.
Ca
2+
: 0,3
÷ 1,2%
K
+
: 2,0 ÷ 4,0%
Độ màu (đo ở bước sóng 400nm, độ pha loãng 250 lần: 0,3 ÷ 1,3)
Hàm lượng chất khô tổng số: 60 ÷ 80% [16].
- Nước trong rỉ đường gồm phần lớn ở trạng thái tự do và một số ít ở trạng thái
liên kết dưới dạng hydrat.
Ở đây do nhiều lần pha loãng và cô đặc một lượng nhất định saccaroza bị
biến thành chất tương tự như dextrin do tác dụng của nhiệt. Chất này có tính khử
3.2. Quy trình công nghệ sản xuất mì chính
[4, tr 167]
[16]
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 12
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
Lên men Đường (38 - 45%)
Dịch sau lên men (pH = 7)
Cô đặc (pH = 5,5 - 6)
Axit hóa (kết tinh)
(pH = 3,2)
Ly tâm
Cấp II Cấp II
H
2
SO
4
Chất lỏng nhẹ
Làm nguội (28 - 30
0
C)
Rỉ đường
Làm sạch tinh thể
Lọc
H
2
SO
4
98%
50 - 60
0
K
+
: 2,0 ÷ 4,0% [16].
Xử lý rỉ đường
Mục đích: tạo đường glucoza và fructoza, loại bỏ Ca
2+
vì ion này có ảnh
hưởng đến quá trình lên men và kết tinh bột ngọt về sau, thủy phân dịch đường
thành các đường đơn.
PTPƯ: Ca
2+
+ SO
4
2-
CaSO
4
Thông số kỹ thuật: thủy phân với H
2
SO
4
98%, Quá trình được thực hiện ở
nhiệt độ 50 ÷ 60
0
C, thời gian 40 ÷ 60h (tùy theo hàm lượng đường), pH = 2,2 ÷ 3,5
(điều chỉnh bằng H
2
SO
4
).
O
6
Glucoza Fructoza
Thiết bị: thiết bị nghịch đảo đường
Hình 3.2. Thiết bị nghịch đảo đường [5, tr92]
3.3.2. Ly tâm
Mục đích: tách kết tủa CaSO
4
ra khỏi dịch đường sau khi thủy phân. Đồng
thời tách pha lỏng ra khỏi pha rắn.
Thông số kỹ thuật: sau thời gian lưu khoảng 60h để tinh thể CaSO
4
có kích
thước đủ lớn, đem ly tâm hỗn hợp sau xử lý để phân tách thành hai phần.
+ Pha lỏng: gồm glucose và fructose được chuyển vào tank chứa và tiếp tục
được chuyển qua bộ phận lên men cùng với tank glucose (sản phẩm của quá trình
đường hóa).
+ Pha rắn: gồm những thành phần chính CaSO
4
, K
2
SO
4
, CaK
2
(SO
4
)
2
Thông số kỹ thuật: bổ sung vào rỉ đường pha loãng các thành phần sau:
- K
2
HPO
4
0,15%
- MnSO
4
2%
Điều chỉnh pH đến 6,7÷6,9.
Pha loãng rỉ đường đến nồng độ 10%.
Thiết bị: thiết bị pha chế dịch lên men [16].
Hình 3.4. Thiết bị pha chế dịch lên men [17].
3.3.4. Thanh trùng
Mục đích: nhằm vô trùng môi trường dinh dưỡng trước khi lên men tránh
xâm nhiễm của vi sinh vật gây hại và sau đó hạ nhiệt độ của môi trường dinh dưỡng
xuống nhiệt độ lên men thích hợp với vi sinh vật.
Thông số kỹ thuật: thanh trùng bằng hơi ở 125
0
C trong 15 phút. Sau đó hạ
nhiệt độ xuống còn 28 ÷ 30
0
C và pH = 8 [16].
Thiết bị: dùng thiết bị thanh trùng dạng tấm alpha – laval.
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 15
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
Hình 3.5. Thiết bị thanh trùng dạng tấm alpha - laval
3.3.5. Nhân giống
Rỉ đường 0,25%
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 16
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
Nước chấm 0,32%
MgSO
4
.7H
2
O 0,04%
Fe, Mn (đã pha 2000g/l) 0,002%
Urê 0,5%
B
1
(đã pha 150g/l) 0,00015%
Chuẩn bị môi trường: dùng nước hoà tan các chất cho vào các bình tam giác
1000ml, sau đó điều chỉnh pH = 7 ÷ 7,2, sau đó đem đi thanh trùng 20 ÷30 phút, áp
lực 1kg/cm
2
, sau đó để nguội xuống 50 ÷ 60
0
C rồi tiến hành cấy giống.
Tiến hành: giống từ các ống thạch nghiêng được cấy vào các bình tam giác
sau đó đưa vào các máy lắc trong 24 giờ, sau đó bảo quản lạnh ở 5
0
C.
3.3.5.3. Giống cấp 2
- Môi trường cấp 2 (thiết bị lên men 60 lít):
Đường glucoza 2000g
MgSO
không khí/lít môi trường/1 phút). Đến giờ thứ 8 thì soi chọn giống: nồi nào dùng
được thì 9 giờ giống có thể cấy tiếp sang nồi lên men chính (Đo OD dịch lên men,
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 17
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
Hình 3.6. Thùng tôn
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
soi nồng độ vi khuẩn và xác định hàm lượng đường sót…) nếu chưa đạt yêu cầu thì
có thể kéo dài thời gian lên men thêm 1 ÷ 2h nữa.
Nồng độ giống là 10g/lít.
3.3.6. Lên men
Mục đích: thông qua các hoạt động sống của vi khuẩn trong những điều kiện
thích hợp để chuyển hóa đường và đạm thành axit glutamic.
Trong quá trình lên men, đường được bổ sung liên tục khi nồng độ oxi hòa
tan hoặc pH giảm. Nồng độ đường bổ sung 38 - 45%. Thời gian lên men là 32h.
Thiết bị: thiết bị lên men dạng trao đổi khối mạnh.
Hình 3.7. Thiết bị lên men dạng trao đổi khối mạnh
[5, tr203].
3.3.7. Cô đặc
Mục đích: dịch lọc có nồng độ axit glutamic không cao nên ta cần phải bốc
hơi một phần nước có trong dịch lọc để làm tăng hàm lượng axit glutamic có trong
dịch lọc.
Thông số kỹ thuật: dịch sau lên men có nồng độ khoảng 17%, pH = 7 sẽ
được đưa qua hệ thống cô đặc chân không không đến quá bão hòa để tạo ra dung
dịch axit glutamic có nồng độ khoảng 30%, pH = 5,5 - 6. Hệ thống cô đặc chân
không sử dụng hơi nóng ở 120
0
C để gia nhiệt cho dịch và làm nước bốc hơi [16].
Thiết bị: dùng thiết bị cô đặc chân không ký hiệu ZN.
ZN bao gồm các phần: nồi cô đặc, bộ ngưng tụ sơ bộ dùng tách khí và
nước.bộ ngưng thứ hai dùng làm mát và thu hồi dung môi.
glutamic (khoảng 2%) và các vitamin, khoáng chất, chất hữu cơ khác cùng các tế
bào vi khuẩn sẽ được chuyển qua khu xử lý để làm phân bón.
Hình 5.10. Máy ly tâm lắng nằm ngang 352K – 3 [5, tr228].
3.3.10. Làm sạch tinh thể:
Tinh thể sau khi ly tâm có bám màu nâu sẽ được làm sạch bằng dịch sau quá
trình lọc.
3.3.11. Lọc
Mục đích: tách axit glutamic thô.
Thông số kỹ thuật: quá trình lọc bằng máy lọc vãi (belt filter) sẽ tách tinh thể
và dịch rữa tinh thể. Tinh thể đi tiếp qua quá trình trung hòa, dịch sau lọc sẽ được
tái sử dụng cho các quá trình trước đó. Tinh thể muốn đi qua hệ thống bơm phải
được dịch hóa bằng chính dung dịch bột ngọt để không làm loãng bột ngọt. [16].
Thiết bị: máy lọc vãi belt filter.
Hình 3.11. Máy lọc vãi Belt Filter [22].
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 20
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
3.3.12. Trung hòa
Mục đích: tinh thể axit glutamic sẽ được phản ứng với NaOH hoặc Na
2
CO
3
(Soda) để tạo muối monosodium glutamate, đây chính là dung dịch bột ngọt, dung
dịch này sẽ được chuyển qua công đoạn tiếp theo.
PTPƯ: C
5
H
9
NO
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
3.3.15. Kết tinh
Mục đích: tạo tinh thể Natri glutamate.
Thiết bị: thiết bị kết tinh.
Hình 3.14. Thiết bị kết tinh [5, tr150].
3.3.16. Sấy
Mục đích: tinh thể Natri glutamate sau kết tinh có độ ẩm cao do vậy đây là
công đoạn quan trọng để hoàn thiện sản phẩm.
Thông số kỹ thuật:
Độ ẩm trước khi sấy là 6%, độ ẩm sau khi sấy là 0,5%.
Thời gian sấy 20 - 55 phút/mẽ.
Nhiệt độ sấy 70 – 80
0
C.
Thiết bị: thiết bị sấy tầng sôi.
Hình 3.15. Thiết bị sấy tầng sôi. [19].
3.3.17. Sàng, phân loại
Mục đích của quá trình là sàng lọc để loại bỏ tinh thể mì chính có kích thước
không đạt yêu cầu.
Thiết bị: thiết bị sàng rung phân loại.
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 22
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
Hình 3.16. Thiết bị sàng rung phân loại [20].
3.3.18. Đóng gói
Sau khi sấy mì chính cho vào các túi polyetylen 2 lần. Tuỳ theo yêu cầu mà
khối lượng mỗi bao từ 100g ÷ 0,5kg. Ở giữa túi có khi nhãn hiệu có ghi rõ khối
+ Tết dương lịch nghỉ 1 ngày
+ Tết âm lịch nghỉ 4 ngày
+ Chiến thắng 30-4 nghỉ 1 ngày
+ Quốc tế lao động nghỉ 1 ngày
+ Giỗ tổ hung vương nghỉ 1 ngày
+ Quốc khánh 2-9 nghỉ 1 ngày
Tháng 11 mưa nhiều nghỉ 10 ngày để tu sửa và vệ sinh thiết bị.
Ngày làm việc 3 ca, thứ 7 và chủ nhật nhà máy vẫn hoạt động.
Số ngày nhà máy mở cửa trong một năm là 365 ngày.
Số ngày vệ sinh thiết bị và sửa chửa sự cố là 40 ngày/năm.
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 24
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
Số ngày nhà máy sản xuất là 365 – 40 = 325 ngày.
4.3. Cân bằng vật liệu
Trong một năm nhà máy hoạt động 325 ngày. Năng suất cả năm là:
Khối lượng mì chính = 7 . 325 = 2275 (tấn/năm).
4.3.1. Làm nguội
Tỉ lệ hao hụt là 0,5%
Lượng mì chính khô khi chưa làm nguội
7000.
17,7035
5,0100
100
=
−
(kg/ngày)
4.3.2. Sấy
Tỉ lệ hao hụt là 1%
Độ ẩm trước khi sấy là 6%
(kg/ngày)
4.3.4. Lọc và tẩy màu
Tỉ lệ hao hụt là 1%.
Giả sử hiệu suất lọc là 95%.
Lượng mì chính chưa tiêu hao
SVTH: CAO THANH TUẤN_LỚP: 04SH Trang: 25
Đề tài: Thiết kế nhà máy sản xuất mì chính hiện đại, năng suất 7 tấn sp/ngày.