BAN SOẠN THẢO
1. Ông Hoàng Đức Minh, Cục trưởng Cục NG&CBQLCSGD - Chủ biên
2. Bà Nguyễn Thị Minh Phương, NCVCC Viện KHGD Việt Nam - Đồng chủ biên
3. Ông Lê Trần Tuấn, Chuyên viên chính Vụ Giáo dục Trung học.
4. Bà Trần Thị Minh Hằng, Trưởng khoa Quản lý giáo dục Học viện Quản lý giáo dục
5. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Phó Trưởng khoa Quản lý giáo dục Học viện QLGD
6. Bà Vũ Thị Ngọc Anh, NCVC Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
7. Ông Phạm Quang Huân, Phó Viện trưởng Viện NCSP -Trường ĐHSP Hà Nội
8. Bà Trần Thị Hải Yến, Phó Hiệu trưởng Trường THPT Trần Phú, Hà Nội
9. Ông Phạm Tuấn Anh, Trưởng phòng CBQLCSGD Cục NG&CBQLCSGD
10. Ông Nguyễn Đức Luyện, Chuyên viên chính Cục NG&CBQLCSGD
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ GD&ĐT Đại học sư phạm ĐHSP
Sở Giáo dục và Đào tạo Sở GD&ĐT Cao đẳng sư phạm CĐSP
Phòng Giáo dục và Đào
tạo
Phòng GD&ĐT Trang Tr
Giáo viên GV Học sinh HS
Cán bộ quản lý giáo dục CBQLGD Trung học cơ sở THCS
Hướng dẫn viên HDV Trung học phổ thông THPT
Học viên HV Giáo dục GD
Kế hoạch KH Đồng chí Đ/c
Tổ chuyên môn TCM Tổ trưởng chuyên môn TTCM
Kế hoạch cá nhân KHCN Trắc nghiệm khách
quan
TNKQ
Kế hoạch chuyên môn KHCM Phương pháp dạy học PPDH
Chương trình CT Sách giáo khoa SGK
Giáo dục phổ thông GDPT Phổ thông PT
Nhà xuất bản Nxb Công nghệ thông tin CNTT
KHCN
5. Thực hành tổng hợp: Xây dựng kế hoạch năm học của tổ chuyên môn
Chuyên đề 3. Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý hoạt động
dạy học trong trường tung học
I. Mục tiêu
1. Mục tiêu chung
2. Mục tiêu cụ thể
II. Nội dung
1. Hoạt động dạy học và chương trình giáo dục phổ thông
2. Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý dạy học
3. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của tổ trưởng chuyên môn
Chuyên đề 4. Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý phát triển
chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong trường trung học
I. Mục tiêu
1. Mục tiêu chung
2. Mục tiêu cụ thể
II. Nội dung
1. Vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong việc phát triển chuyên môn
nghiệp vụ cho giáo viên
2. Những yêu cầu về đội ngũ giáo viên của trường THCS, THPT
3. Quản lý phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho GV trong tổ chuyên môn
3
4. Kiểm tra, đánh giá giáo viên
Hướng dẫn triển khai tập huấn ở địa phương
LỜI GIỚI THIỆU
Ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, tổ chuyên môn đóng một vai
trò hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị các điều kiện thực hiện các hoạt động dạy - học
trong nhà trường. Người tổ trưởng chuyên môn được ví như “cánh tay nối dài của Lãnh
đạo nhà trường”, trực tiếp điều hành các công việc cụ thể trong hoạt động dạy - học.
Công tác lãnh đạo, quản lý của tổ trưởng chuyên môn là một trong những yếu tố quyết
TTCM ở trường THCS, THPT. Tài liệu được trình bày đan xen, kết hợp giữa lý thuyết và
tổ chức các hoạt động nhằm tăng cường tối đa khả năng vận dụng, thực hành của các học
viên tham gia tập huấn. Tài liệu được biên soạn bởi tập thể tác giả có nhiều kinh nghiệm
từ các cơ quan: Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Học viện Quản lý giáo dục, Trường
ĐHSP Hà Nội và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục của một số trường
THCS, THPT trong toàn quốc. Tài liệu đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quí báu của
các nhà khoa học, các nhà giáo và các CBQL có bề dày kinh nghiệm ở các Sở GD&ĐT,
các trường THCS, THPT.
5
Các tác giả dù đã có nhiều cố gắng, song trong sự vận động phát triển không ngừng
về khoa học quản lý và thực tiễn giáo dục của trường THCS, THPT, chắc chắn tài liệu
chưa đáp ứng được mọi nhu cầu của đội ngũ TTCM, đồng thời khó tránh khỏi thiếu sót.
Trong quá trình triển khai, Hội đồng biên soạn mong tiếp tục nhận được những ý
kiến đóng góp của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý thực tiễn và học viên để bổ
sung, điều chỉnh tài liệu thêm hoàn thiện và hữu ích.
Hội đồng biên soạn chân thành cảm ơn mọi ý kiến đóng góp cho việc nâng cao chất
lượng của tài liệu.
HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN
QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VÀO DẠY HỌC - GIÁO DỤC - QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG
I. HỒ CHÍ MINH NHÀ GIÁO DỤC KIỆT XUẤT CỦA NHÂN DÂN VÀ THỜI ĐẠI
Bác Hồ được UNESCO tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc - Danh nhân văn
hoá thế giới. Ông Hans D'orvin - P.Tổng Giám đốc UNESCO (đương nhiệm) gọi Hồ Chí
6
Minh là người thày của Văn hoá hoà bình. Hồ Chí Minh cũng là nhà giáo dục kiệt xuất
của nhân dân, thời đại. Người đã để lại cho nhân dân ta, đội ngũ người làm công tác giáo
dục hiện nay và mai sau kho tàng vô giá những tư tưởng giáo dục cách mạng, bao quát
nhiều lĩnh vực của sự nghiệp đào tạo lớp người mới của dân tộc.
Không chỉ là nhà tư tưởng giáo dục, Người còn là nhà quản lý giáo dục thực tiễn,
nhà sư phạm tài năng, mẫu mực, trong sáng của một nhân cách vô cùng cao đẹp, những
Chí khí quyện vào sông núi, anh hùng xưa nay hiếm có ai như Người
Ngôi sao sáng này bừng trong vũ trụ, hào kiệt từ Á sang Âu khó người nào sánh
nổi.
Tác giả đôi câu đối còn khuyết danh. Có người nói một nhân sĩ Sài Gòn tưởng nhớ
Bác, lại có tài liệu cho rằng đó là lời viếng Bác của lãnh tụ một nước lớn, bạn thân thiết của
Bác.
Ở thời điểm tháng 9-1969, đọc đôi câu đối trên, đồng bào ta tự hào về Bác, quý trọng
tấm lòng và tài năng tác giả viết được hai vế đối hay, hàm súc, song cứ nghĩ liệu nhân loại
này, thế giới này có đồng thuận với sự ca ngợi đó không? Điều này đã sớm được giải đáp:
Trên hành tinh này biết bao bạn bè đồng chí dù có thế vị khác nhau đều công nhận: Hồ Chí
Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, là con người tiêu biểu cho Nhân đạo và Nhân loại, là
nhân cách của thời đại. Bác là lãnh tụ Cộng sản duy nhất được tôn vinh là Danh nhân văn hoá
thế giới.
Mỗi cán bộ giáo dục chúng ta vô cùng tự hào phấn khởi vì Bác trên con đường
cứu nước giải phóng dân tộc, lúc khởi thuỷ là một nhà giáo - thầy giáo Nguyễn Tất
Thành. Bác sĩ Nguyễn Kính Chi, nhân sĩ đáng kính là học trò của Bác tại trường Dục
Thanh (trường giáo dục thanh niên) đã kể lại trong hồi ký của mình:
"Trên bờ phía nam của sông Phan Thiết, cách cửa biển chừng vài cây số lúc bấy
giờ có mấy ngôi nhà nho nhỏ lợp ngói âm dương, chung quanh không tường không vách
chỉ có những song gỗ lưa thưa, những hôm trời nồm gió biển thổi vào mát rượi. Đó là
trường học Dục Thanh của Hội Liên thành. Trường và Hội đều đã được lập ra trong
phong trào Duy Tân mấy năm trước. Trong hoàn cảnh hồi bấy giờ, đó là hành động yêu
nước nhằm mở mang dân trí khuyến khích thực nghiệp.
Trường dạy cả chữ Hán, chữ Pháp và chữ Quốc ngữ cho khoảng sáu, bảy mươi
học sinh từ lớp tư đến lớp nhất. Thầy Thành dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ cho lớp ba và
lớp tư. Thầy Thành ở đấy được bảy, tám tháng. Bỗng một buổi sáng thứ hai vào khoảng
tháng 10 năm 1911 có tin thầy đã bỏ đi và không cho ai biết. Học sinh rất xôn xao. Người
nào cũng tiếc không những vì thầy dạy chu đáo mà còn vì ai nấy đều cảm thấy người thầy
này dạy học không chỉ vì kiếm sống mà còn vì cái lẽ gì khác".
2/. Nếp nhà - Lập chí - Thân dân
Uy vũ không thể khuất phục)
*/ "Hoành mi lãnh đối thiên phu chỉ
Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu"
(Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ
Cúi đầu làm ngựa trước nhi đồng)
9
Trong diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ 2 tại chiến khu Việt Bắc năm 1951,
những ý tưởng trên đây của Mạnh Tử, Lỗ Tấn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh
với các đồng chí của mình.
"Nếp nhà" mà Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành lớn lên là "Nếp nhà" với:
"Gia đạo nhân văn
Gia phong trong sáng
Gia pháp nghiêm minh
Gia giáo nền nếp
Gia cảnh thuận hoà"
Từ "Nếp nhà" này chú bé Nguyễn Sinh Cung đã bộc lộ cái "chí" của mình từ lúc 5
tuổi:
"Con siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con"
(Thơ Con Đường)
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn
(Thơ Biển)
Từ ông ngoại và cha, chú sớm hấp thụ tinh hoa trong "Tứ thư" của Nho gia, rồi
"Minh tâm bảo giám", "Ấu học ngũ ngôn thi" với các thông điệp:
"Nhất sinh hành thiện
Thiện do bất túc
Nhất nhật hành ác
Ác tự hữu dư"
(Một đời làm điều thiện
Nhà nghiên cứu Kôbêlép người Nga kể lại:
"Qua tác phẩm "Thú tội" của Rousseau, Thành biết được rằng chàng thanh
niên Rousseau trước khi trở thành nhà khai sáng vĩ đại đã có tới mười năm lưu lạc
trên các nẻo đường của các nước châu Âu và ông đã học được nhiều ở một ngành
khoa học quan trọng và cũng là khó khăn nhất - khoa học về cuộc sống".
Thành nung nấu chí "vượt biển" tìm đến các con đường mà Rousseau đã đi - Anh
tâm sự với nhà thơ Ôxíp Mandenxtam:
11
"Lần đầu tiên vào tuổi 13 tôi đã nghe những từ: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối
với chúng tôi bấy giờ thì người da trắng nào cũng đều là người Pháp cả. Thế là tôi
muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau cái từ ấy.
Nhưng trong các trường bản xứ, bọn Pháp dạy như vẹt. Chẳng những chúng tôi
không được phép đọc các nhà văn mới, mà thậm chí còn bị cấm đọc cả Rousseau và
Montesquieu. Phải làm sao đây? Tôi quyết định đi ra nước ngoài. Tôi lần mò đến tận
bờ biển và thế là tôi đã ra đi. Năm ấy tôi hai mươi mốt tuổi".
Đỉnh cao kiến thức trong hành trình lập chí của Nguyễn Ái Quốc là sự giác ngộ
Chủ nghĩa Mác - Lênin. Tuy nhiên trong hành trình đi tới đỉnh cao này Nguyễn Ái Quốc
luôn luôn biết trau chuốt các giá trị của đạo Khổng và tiếp nhận tinh hoa của các nguồn
ánh sáng khác rồi gộp bội chúng lại, tìm ra cho bản thân mình, dân tộc mình con đường
giải phóng.
Bác từng khuyên các đồng chí của mình:
"Chúng ta, người Việt Nam, hãy tự học, tự tu dưỡng bằng cách đọc các tác
phẩm của Khổng Tử và hãy nghiên cứu về cách mạng trong các tác phẩm của Lênin".
(Phát biểu trên báo Thanh niên Quảng Châu số 80, ngày 20/02/1927)
Cuốn Hồ Chí Minh truyện do Nhà xuất bản Tam liên Thượng Hải ấn hành năm
1949 đã ghi lại nhận thức của Bác:
"Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.
Tôn giáo của Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều
nền văn hoá tương lai.
Qua phong thái thanh cao trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc ta như
nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái trên toàn thế
giới".
"Văn hoá tương lai" mà Ôxíp Manđenxtam đề cập ở đây chính là văn hoá của một
con người suốt đời chỉ có một ham muốn:
"Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn
toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo
mặc, ai cũng được học hành".
Từ một ý tưởng của nho gia trong sách Đại học, Hồ Chí Minh đã nói đến phạm trù
thân dân.
Sách Đại học nêu:
"Đại học chi đạo
Tại minh minh đức
Tại tân dân"
13
Tân dân = làm mới nhân dân. Cách diễn đạt này có thể coi là tích cực khi nho gia
khuyên người quân tử phải biết làm mới nhân dân, đem đến cho nhân dân cuộc sống mới.
Cái tài tình và sâu sắc của Hồ Chí Minh là thêm vào (trong cách viết của người Việt) một
chữ "H". "Tân dân" thành "Thân dân" đã làm cho tư tưởng của Nho gia nhân văn hơn, cao
đẹp hơn, chí tình, chí nghĩa hơn.
Nói chuyện với tri thức Thủ đô năm 1956, Bác Hồ tóm tắt lý tưởng của con người
trong 11 chữ "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân".
Người giải thích:
"Minh minh đức là chính tâm"
Thân dân tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết" (8, 215).
(1)
Quan điểm "Thân dân" của Hồ Chí Minh tuy dựa vào luận điểm của nho gia "Dân
vi bản", "Dân vi quí", song phản ảnh tâm thức của người Việt Nam.
Trong Di chúc trước lúc đi xa, Người nhấn mạnh:
thân, lập nghiệp. Phát động thế hệ trẻ lập thân, lập nghiệp song không lập chí làm sao lập
được thân, lập được nghiệp.
Ngày 26/5/1946, trong một lần đến thăm một đơn vị thanh niên, Bác căn dặn: "Các
em cần làm được như lời Tôn Trung Sơn đã nói "Những người thanh niên tốt muốn làm việc
to chứ không muốn làm quan lớn". Sau đó Bác trao cho họ lá cờ "Trung với nước, hiếu với
dân".
Bác còn căn dặn thanh niên:
"Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy,
nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên
muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực
lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.
Chúng ta phải nhận rằng thanh niên ta rất hăng hái. Nhưng chúng ta cũng phải
nhận rằng phong trào thanh niên ta còn chật hẹp, mặc dầu từ ngày Cách mạng tháng Tám
đến nay, thanh niên có cơ hội để phát triển một cách mau chóng và rộng rãi hơn.
Vậy nên nhiệm vụ của các bạn là phải tìm đủ mọi cách để gây một phong trào
thanh niên to lớn và mạnh mẽ.
Theo ý tôi, muốn đạt mục đích đó, thì mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên
quyết làm bằng được những điều sau đây:
a) Các sự hi sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh
nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc).
b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng quyết làm cho kì được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
đ) Quyết tâm làm gương về mọi mặt, siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.
15
e) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, nên nói ít, làm nhiều, thân ái đoàn kết.
Tôi lại khuyên các bạn một điều nữa, là chớ đặt những chương trình kế hoạch
mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được.
Việc gì cũng cần phải thiết thực; nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ chỗ nhỏ
dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà
Hoài bão
Hiệu quả
Con người
sáng nghiệp
Hiện thực
Ái Quốc
Tình gắn bó
Chí Minh
Tâm ổn định
Tất Thành
Thế tự lập
III. BÁC HỒ NGƯỜI KHAI SÁNG CHO TƯ DUY VÀ CHIẾN LƯỢC
HÀNH ĐỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP Ở VIỆT NAM NGAY NHỮNG
NGÀY ĐẦU CỦA CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG
1/. Vấn đề "Xã hội học tập" mà ngày nay các quốc gia coi là tiêu điểm của chính
sách phát triển đã được Bác Hồ khai sáng trong tư duy và chiến lược hành động cho nước
ta ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng.
Xã hội học tập chỉ thành hình và phát triển khi người quản lý thúc đẩy được mọi
người dân có nhu cầu học tập, có khát vọng học tập. Nhu cầu này gắn liền với việc quản lý
hỗ trợ cho nhân dân nâng cao năng lực tiếp nhận sự học tập và mở rộng cơ hội học tập cho
nhân dân.
Quản lý phải làm sao cho bộ ba "Nhu cầu - Năng lực - Cơ hội" gắn bó chặt chẽ với
nhau.
Không tạo ra nhu cầu đích thực thì dù có ra sức nâng cao năng lực và mở rộng cơ
hội đến đâu cũng không thể hiện thực được mục tiêu về xã hội học tập.
Song khi đã tạo ra nhu cầu - Người dân có tha thiết học mà người quản lý không
giúp người dân có năng lực để "Học được" và cơ hội "Được học" thì cũng không thể hình
thành xã hội học tập.
Nhu cầu càng lớn thì năng lực và cơ hội càng phải được nâng cao và mở rộng và
ngược lại càng nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội học tập thì càng phải thúc đẩy nhu
trọng đọc trước quốc dân đồng bào, tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà trước thế giới, Chính phủ đã nêu ra chương trình, nội dung chính của chính
sách phát triển đất nước. Mục tiêu của giáo dục trong chương trình này đã được khẳng
định: "Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cấp bách.
Trong thời hạn rất ngắn sẽ thi hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ
đến triệt để. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở
nên bình thường mới giải quyết mà ngay trong hoàn cảnh eo hẹp này chúng ta phải kiên
quyết tiến hành. (Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Hồ Chủ tịch giao cho việc trình bày
chính sách nội chính của Chính phủ. Tư liệu: Những sự kiện giáo dục phổ thông 1945 -
1985. Viện Khoa học Giáo dục 1985, tr2)".
18
Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà, Người nêu nhiệm vụ giáo dục - chống giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách của chính quyền
mới với lời khẳng định:
"Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" (4, 8). Trong tháng 9 năm 1945, Người có bức
thư tâm huyết gửi học sinh các lứa tuổi với lời kêu gọi tha thiết: "Non sông Việt Nam có trở
nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các
cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các
em" (4, 33).
Tháng 10/1945, Người ra lời kêu gọi chống nạn thất học như một mệnh lệnh hội tụ
toàn dân tộc đưa đất nước vào công cuộc đại nghĩa mở ra kỷ nguyên mới của đất nước.
Người viết:
"Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì
chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm
không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những
người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà
máy thì mở lớp cho những tá điền những người làm của mình.
Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố
gắng để kịp nam giới để xứng đáng mình là một phần tử trong nước có quyền bầu cử và ứng
cử.
Phòng khi đi Pháp về 10/1946).
Vị Chủ tịch nước coi lĩnh vực giáo dục bình dân là tiêu điểm cho sự phát triển hệ
thống giáo dục quốc dân (ngày nay chính là giáo dục cộng đồng); Người nói với anh chị
em giáo viên bình dân học vụ: "Anh chị em yêu quí! Chương trình của Chính phủ ta là
làm thế nào cho đồng bào cả nước ai cũng có ăn, có mặc, có học.
Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là:
1. Tăng gia sản xuất
2. Chống nạn mù chữ
Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm,
anh chị em là những người "Vô danh anh hùng". Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một
phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em.
Tôi mong rằng trong một thời kỳ rất ngắn lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị
em sẽ có kết quả rất vẻ vang: đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh dự đó thì
tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng" (4, 220).
Trước khi bước lên máy bay đi Pháp (4/5/1946), Người còn căn dặn cụ Huỳnh
Thúc Kháng, lúc đó là Quyền Chủ tịch nước: "Chú ý đến công việc bình dân học vụ".
Ngay sau khi đi Pháp về, Bác tổ chức kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 1 thành lập
Chính phủ mới (từ 3/11/1946). Dù có rất nhiều công việc khẩn trương của thời gian nóng
bỏng này (Thực dân Pháp tạo ra những gây chiến khiêu khích ngay trong lòng Hà Nội),
20
Bác vẫn quan tâm đến sự nghiệp bình dân học vụ. Ngày 5/11/1946, Người viết văn kiện
"Công việc khẩn cấp bây giờ" chỉ ra nhiệm vụ và phương hướng kháng chiến toàn quốc.
Tối cùng ngày Bác đến thăm các lớp bình dân ở Trường Hàng Than và khu phố Hàng
Bún (Hà Nội) sát nơi đóng quân của quân đội Pháp. Vào từng lớp học Bác ân cần hỏi học
viên làm những nghề gì, học viên trả lời người thì kéo xe, người đi ở, người đi bán kẹo
rong, người làm nội trợ, Bác khen thầy trò trường Hàng Than: "Thầy siêng dạy, trò siêng
học thế là tốt lắm".
Ngày 24/11/1946 (trước Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 gần một tháng), Bác
đọc diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất, Bác kêu gọi các nhà văn
hoá Việt Nam xây dựng nền văn hoá mới sửa đổi được: "Tham nhũng, lười biếng, phù
Giáo dục 0,82 96/177
Kinh tế 0,572 122/177
Xây dựng xã hội học tập của nước ta dù có những tín hiệu tốt song còn đó những
thách thức. Dù số người biết chữ có tỷ lệ cao, nhiều trường học mở ra, số thanh thiếu niên
được đi học đông, song để có một nền học vấn thiết thực từ nhu cầu không phù phiếm, tạo
cho công dân có kỹ năng đời sống phát triển cộng đồng bền vững thì vấn đề lại còn nhiều
nỗi băn khoăn.
Nước ta đang thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người (Education for All-
EFA), các chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, những dự án mở rộng
trung học phổ thông, những ý tưởng đưa đại học tinh hoa thành đại học đại chúng nhằm
tạo ra nền móng của "Xã hội học tập". Có thể khẳng định rằng các chương trình này chỉ
có ý nghĩa nếu ta quán triệt được các ý tưởng giáo dục nhân văn và thân dân của Bác Hồ
kính yêu.
IV. MỘT THÔNG ĐIỆP CÓ Ý NGHĨA VĨNH HẰNG
Ngày 13/09/1958 đến thăm lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn
miền Bắc đặt tại Hội trường Trường Bổ túc Công nông Trung ương (nay là Học viện
Quản lý Giáo dục), Bác Hồ sau khi ân cần thăm hỏi khích lệ lớp học, nói về vị trí của giáo
dục trong giai đoạn mới đã ra lời kêu gọi:
"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"
Lời kêu gọi của Bác trở thành thông điệp cốt lõi của chiến lược phát triển giáo
dục, chiến lược phát triển con người của đất nước.
1/. Thông điệp là kết tinh tư tưởng "giáo dục thân dân" coi giáo dục vừa là
mục tiêu vừa là sức mạnh của quá trình phát triển.
Để lĩnh hội ý kiến sâu sắc của lời dạy, cần nhắc lại vài sự kiện lịch sử của nền giáo
dục cách mạng gắn với công việc của vị Chủ tịch nước.
Ngày 03/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của chính phủ, Bác đã nêu những nhiệm vụ
cấp bách của nền Dân chủ Cộng hoà mà trong dó giáo dục được Người đặt vào vị trí then
chốt:
Người nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"; Người yêu cầu "Chúng ta có
kinh tế cũng thành công, giáo dục cũng thành công.
Người mong các cán bộ làm công tác giáo dục nhận thức được: Không có giáo
dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hóa. Việc đào tạo cán bộ giáo
dục cần phải coi là hàng đầu. Tuy không có gì là oanh liệt nhưng làm tròn nhiệm vụ này
cũng là anh hùng, tập thể anh hùng.
2/. Thông điệp là sự kế thừa chọn lọc và phát triển ý tưởng của tiền nhân
23
Ôn lại thông điệp của Bác Hồ xin được nhắc đến danh nhân Quản Trọng. Là nhà chính trị
Trung Hoa cổ đại (725-645 TCN), ông từng có lời phát biểu sau đây:
Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc
Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc
Chung thân chi kế, mạc như thụ nhân.
(Trù liệu việc một năm không gì bằng trồng lúa
Trù liệu việc mười năm không gì bằng trồng cây
Trù liệu việc cả đời không gì bằng trồng người).
Nhà chính trị văn hóa Hồ Chí Minh khi tìm đường cứu nước đã nghiên cứu tư
tưởng chính trị của các danh nhân Tiên Tần và các dòng tư tưởng khác. Trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin, Người chắt lọc cái hay gạt đi cái dở của các tư tưởng này để xây dựng
những quan điểm chính trị giáo dục thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam.
Quản Trọng, còn nói: "Đạo trị nước trước hết phải làm cho dân giàu" (Đạo trị
quốc tất tiên phú dân), song ông quan niệm:
"Dân giàu thì dễ sai, dân nghèo thì khó trị" (Dân phú tắc dĩ sử dã, dân bần tắc nan
trị dã ).
Ông bày cho nhà cầm quyền:
Trị dân như trị thủy
Mục dân như mục súc
Dưỡng dân như dưỡng thảo
(Trị dân như trị nước
Nuôi dân như nuôi súc vật
Sự nhất quán trong quan điểm giáo dục của Bác là phải xây dựng phát triển được
nền giáo dục, hệ thống giáo dục kiểu nhà trường, cách dạy học vì lợi ích của nhân dân, vì
lợi ích của người học. Đó là nền giáo dục dân tộc, dân chủ nhân văn, lao động, thiết thực
giải quyết các vấn đề phát triển của đất nước về chính trị, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ
thuật, nền giáo dục phải chứa đựng các thiết chế "hợp với hoàn cảnh mới của đất nước".
Thông điệp:
"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"
của Bác Hồ có ý nghĩa vĩnh hằng. Đó mãi mãi là phương châm hành động của nền
giáo dục Việt Nam nhằm phục vụ có kết quả sự nghiệp phát triển đất nước bền vững, giải
quyết thiết thực, toàn diện và sâu sắc các vấn đề phát triển con người của nước ta.
VI. VĂN HOÁ DẠY HỌC HỒ CHÍ MINH: THÀY QUÝ TRÒ, TRÒ KÍNH
THÀY, DẠY ĐỂ NÊN NGƯỜI VÀ HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI
25