Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TÀI LIỆU TẬP HUẤN
CHUYÊN ĐỀ “TRƯỜNG THCS TỔ CHỨC CÁC
HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC”
VÀ XÂY DỰNG ĐIỂN HÌNH VỀ “TRƯỜNG HỌC
THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC”
Nhóm biên soạn: TS. Trần Đình Châu
TS. Phạm Văn Nam
TS. Đặng Thị Thu Thủy
TS. Phùng Khắc Bình
Và các tác giả Sổ tay “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”
THÁNG 01 NĂM 2011
2
THIẾT KẾ, SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC VÀ HỖ TRỢ CÔNG TÁC QUẢN LÍ NHÀ TRƯỜNG
TS. Trần Đình Châu, Dự án Phát triển Giáo dục THCS II,
Bộ Giáo dục & Đào tạo.
Mục tiêu:
- Hiểu được bản đồ tư duy và vai trò của nó trong đổi mới PPDH cũng như hỗ
trợ công tác quản lý nhà trường.
- Vận dụng bản đồ tư duy vào công việc học tập các chuyên đề khác và nghiên
cứu của học viên cao học quản lý giáo dục.
- Lập được bản đồ tư duy về kế hoạch công tác hoặc một bài dạy theo chuyên
môn của mình.
- Có kế hoạch vận dụng vào công tác chuyên môn của mình và phổ biến cho nhà
trường (cơ quan, đơn vị).
Nhiệm vụ : Tìm hiểu một số vấn đề chung về bản đồ tư duy, thiết kế sử dụng BĐTD hỗ
trợ đổi mới PPDH và công tác quản lý nhà trường
Chuẩn bị: Máy tính, máy chiếu
- Tài liệu.Nội dung chuyên đề:
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch
kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc,
chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi
tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu
khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề
nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc
lập BĐTD phát huy được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người.
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các
nhánh). Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức
sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì và giúp
cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác.
BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật
hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu
trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của
bộ não. Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc.
Tony Buzan là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạt động của bộ não.
Theo Tony Buzan “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ…” và “màu sắc cũng có tác
dụng kích thích não như hình ảnh. Màu sắc mang đến cho BĐTD những rung động
cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”.
4
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới
liên tưởng (các nhánh). BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau
vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, ôn tập, hệ thống hóa
kiến thức, và lập kế hoạch công tác.

ghi nhớ, ôn tập, liên kết các mạch kiến thức đã học.
Đối với HS trung bình: Tập cho HS có thói quen tự ghi chép hay tổng kết một
vấn đề, một chủ đề đã đọc, đã học theo cách hiểu của các em dưới dạng BĐTD.
Cho HS tập “đọc hiểu” và tự vẽ BĐTD sau từng bài học. Ban đầu, GV cho các
em làm quen với một số BĐTD có sẵn, sau đó tập cho các em vẽ bằng cách cho key
words- tên chủ đề hoặc một hình ảnh, hình vẽ của chủ đề chính vào vị trí trung tâm rồi
đặt các câu hỏi gợi ý để các em tiếp tục vẽ ra các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3,… Hướng
dẫn, gợi ý để các em tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của mỗi bài
học vào một trang giấy. Có thể vẽ chung trên một cuốn vở hoặc để thành các trang giấy
rời, rồi kẹp thành một tập. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trọng tâm trên một trang giấy
6
giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần, chỉ cần rút tờ BĐTD của bài đó ra là
các em nhanh chóng ôn lại kiến thức một cách dễ dàng.
Ví dụ trong khi dạy học chương Tứ giác - Toán 8, cho HS vẽ BĐTD sau mỗi bài
học, để mỗi em có một tập BĐTD: hình thang cân, hình bình hành, hình thoi, hình
vuông,…
Bài “Hình bình hành”
và cuối chương này có thể vẽ một BĐTD hệ thống kiến thức của cả chương. Sau khi có
một HS hay một nhóm HS vẽ xong BĐTD cho các HS khác góp ý bổ sung, có thể cho
các em vẽ thêm các đường nhánh nối từ một hình hình tứ giác đặc biệt này đến hình tứ
giác đặc biệt khác và ghi thêm chú thích,… rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện
và nâng cao kĩ năng vẽ SĐTD cho các em.
Khi học bài “Giản dị” (môn Giáo dục công dân), đầu giờ học GV cho từ khóa
“giản dị” rồi yêu cầu HS vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em
7
vẽ các nhánh con cấp 1, sau đó cho HS thảo luận nhóm để các em có thể vẽ tiếp các
nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ (nhánh con cấp 2, 3,…). Sau khi các nhóm HS vẽ
xong cho một số em lên trình bày trước lớp để các HS khác bổ sung ý, GV kết luận qua
đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng lại rất hiệu
quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của HS. Qua hoạt động này vừa biết rõ việc

Kế hoạch năm học của một nhà trường có thể viết theo các mặt hoạt động: dạy
học, giáo dục đạo đức,…
BĐTD giúp lên kế hoạch cho một hội thảo, tập huấn:
10
Nhìn vào BĐTD sẽ giúp ban tổ chức chuẩn bị cho một hội thảo từ khâu lên kế
hoạch (như mục tiêu, nội dung, các văn bản pháp quy, đối tượng thực hiện, địa điểm,
…) đến tổ chức thực hiện, các hình ảnh liên tưởng giúp dễ nhìn, và không sót việc – đó
là một cách “nhắc việc” rất hiệu quả. Có thể lập BĐTD để khai mạc hay tổng kết một
hội thảo hay một đợt tập huấn.
BĐTD giúp cán bộ, giáo viên cách ghi chép tóm tắt, giúp phát triển ý tưởng và
triển khai nhanh chóng, sáng tạo những chỉ đạo, kế hoạch của Hiệu trưởng qua các
cuộc họp hội đồng giáo dục nhà trường.
BĐTD duy giúp đổi mới việc họp tổ nhóm chuyên môn: Một BĐTD do các thành
viên của tổ, nhóm thảo luận và cùng thiết kế ngay tại cuộc họp sẽ phát huy được trí tuệ
tập thể, giúp cả tổ, nhóm tìm được các biện pháp, cách thức tổ chức dạy học các bài
khó, bài ôn tập, ra đề kiểm tra,… một cách có hiệu quả nhất.
Việc lập BĐTD có thể do từng cá nhân hoặc một nhóm, BĐTD vừa mang đậm
dấu ấn cá nhân vừa thể hiện được ý tưởng sáng tạo của cả tập thể do đó vận dụng
BĐTD vào dạy học phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS là một trong những
cách làm tốt nhất góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
Sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại kết quả tốt
trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của GV, có thể vận
dụng nó cho các môn học ở trường phổ thông và cho lập kế hoạch công tác. Học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng
tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy logic. GV sẽ tiết kiệm được thời
gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng ngày càng được bổ sung thêm về nội dung làm
giàu thêm “kho tư liệu” và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông
qua một “sơ đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức. Vận dụng BĐTD vào dạy
11
học, GV và HS cùng làm việc tập thể một cách tích cực sáng tạo, huy động cùng một
lúc nhiều kiến thức, kết hợp việc ghi chép kênh chữ với kênh hình, sau mỗi bài học

13
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG PHẦN MỀM BẢN ĐỒ TƯ DUY
ConceptDraw MINDMAP 5 Professional (bản Demo không hạn chế số ngày sử dụng)
TS. Đặng Thị Thu Thủy - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Bản đồ tư duy (BĐTD) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh,
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Ở giữa BĐTD là một ý tưởng hay hình ảnh trung
tâm. Ý hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho
những ý chính và đều được nối với ý trung tâm.
BĐTD còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức “ghi chép” bằng cách
kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích
cực nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng. Đặc biệt BĐTD là một sơ đồ rất mở, không
yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người
vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ
đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó theo một cách riêng do đó việc lập BĐTD phát huy
được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người.
BĐTD là công cụ hữu hiệu góp phần đổi mới PPDH cũng như công tác quản lí nhà
trường và được giáo viên, học sinh đón nhận một cách hào hứng, tích cực.
BĐTD có thể sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,… vẽ trên giấy, bìa, bảng phụ,…
hoặc cũng có thể thiết kế phần mềm bản đồ tư duy. Với trường có điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào
máy tính phần mềm Mindmap cho GV, HS sử dụng.
Hiện nay có khá nhiều phần mềm để vẽ bản đồ tư duy, tuy nhiên, mỗi phần mềm có
thế mạnh và ưu điểm riêng, bản miễn phí ConceptDraw MINDMAP 5 Professional (bản
Demokhông hạn chế ngày sử dụng- tải từ mạng Internet) mặc dầu thiếu một số chức năng
nhưng nó hỗ trợ khá hiệu quả cho công tác quản lí và quá trình dạy học, vì vậy các nhà
quản lí, GV, HS nên làm quen với phần mềm này. Cách cài đặt và hướng dẫn một số chức năng cơ bản phần mềm miễn phí nói trên.
Vào trang gõ vào mục tìm kiếm cụm từ
“Mindmap”, rồi theo đường dẫn ta tải về máy tính bản miễn phí ConceptDraw
MINDMAP 5 Professional.
/>professional-5.aspx
Cài đặt phần mềm hết sức đơn giản: nhấn chuột liên tục và làm theo hướng dẫn ta

Hình 5
Tiếp tục quá trình trên (bằng cách chọn nhánh trước đó và nhấn phím Ins) ta
được các nhánh con cấp 2, cấp 3 … hay còn gọi là nhánh “cháu”, “chắt”… Chọn biểu
tượng (Auto Numeration) trên thanh công cụ để đánh số tự động các nhánh,
16
chẳng hạn, nhánh con của nhánh 1 sẽ được đánh số 1.1; 1.2; 1.3,…nhánh con của nhánh
2 sẽ được đánh số 2.1; 2.2; 2.3,…
Để trình bày BĐTD đẹp, thể hiện lôgic vấn đề ta nên gõ thông tin ngắn gọn (là từ
khóa, keyword, tên đầu mục…) vào các hộp: Main Idea, Main Topic, Subtopic
(nhánh cháu)…không nên gõ thông tin quá dài vào các hộp này – làm mất sự tập trung
vào nội dung chính.
Ta có thể đưa thêm thông tin vào bằng cách dùng chú thích Add Text Note vào
mỗi một đầu mục bằng cách chọn các hộp từ khóa đó, chẳng hạn chọn hộp “khái niệm”,
nhấn chuột phải chọn Add Text Note (hình 6).
Hình 6
Chẳng hạn ta chú thích khái niệm “thiết bị dạy học” mà khái niệm này ta đã có ở một
file nào đó trong word thì ta có thể copy và paste vào note bên phải trang hình 7 này.
Hình 7
Khi chú thích xong ta đóng (close) lại thì trên trang hình của BĐTD không thể hiện nội
dung thông tin này, nó chỉ hiển thị nội dung khi ta chỉ chuột vào biểu tượng chú thích
đó (góc trên hộp có chữ “khái niệm”) – hình 8.
17
Gõ (hoặc paste) nội dung
cần chú thích vào đây
(Note)
Hình 8
Gần giống với Powerpoint, phần mềm này có chức năng HyperLink, bằng cách
vào Insert/HyperLink hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl + Shift + E, ta có thể link một nội
dung (một hộp) trên BĐTD với một trang web (Link to URL), với một nhánh khác
ngay trong BĐTD (Link to topic) với bất kì một file nào (Link to file), với một Folder

Có thể copy hình vẽ, công thức toán từ phần mềm Sketchpad rồi paste vào màn
hình của Mindmap. Copy hộp AutoShapes/Callouts ở word chú thích vào màn hình của
Mindmap…
Đưa chữ viết, hình vẽ, công thức toán vào trang bản đồ tư duy (để tự do- có thể
nhấc từ chỗ này sang chỗ kia) hoặc để vào nhánh ta copy chữ viết, hình vẽ, công thức
toán… từ một trang khác (hay phần mềm khác) rồi paste vào màn hình của bản đồ tư
duy (hình 14):
Đưa hình vẽ, công thức toán vào phần mềm BĐTD bằng cách vẽ hình trên phần
mềm Sketchpad rồi copy và passte vào môi trường của phần mềm BĐTD.
Hình 15
Lưu (ghi) file vào máy: Do sử dụng bản Demo nên không sử dụng chức năng
Save ngay trên thanh công cụ phía trên mà hình được mà chỉ khi ta đóng màn hình
(nhấn chuột vào dấu x ở bên trên góc phải màn hình- hình 16) thôi không làm việc ở
file đó của phần mềm thì phần mềm mới có câu lệnh cho ta ghi (save) và đặt tên file để
lưu vào máy được (chú ý tên file đặt tiếng Việt không dấu).
20
Tuy nhiên, các lần sau vẫn có thể mở file để sửa chữa bổ sung thêm. Nếu phần
mềm này dùng có bản quyền thì sẽ có thêm một số chức năng như xuất file dưới dạng
ảnh hoặc dưới dạng file trình diễn Powerpoint có đuôi là .ppt để có thể trình diễn khi
không có phần mềm BĐTD.
Hình 16
Sau khi thiết kế hoàn chỉnh nội dung cho một BĐTD, có thể sử dụng nó bằng
cách nhấn chuột vào các biểu tượng (ngay trên mỗi hộp) sẽ có dấu “+” hoặc “–”
hiện ra, ta nhấn dấu trừ (để dấu bớt nhánh), nhấn các dấu “+” (để hiển thị thêm nhánh).
Khi sử dụng để dạy học hoặc thuyết trình một vấn đề ta sử dụng các dấu “+” , “–” để
cho nó xuất hiện hoặc dấu đi, sử dụng các note (chú thích) để diễn giải thêm, sử dụng
các đường Link để minh hoạ vấn đề…
Có thể sử dụng phần mềm này để thiết kế các BĐTD dạy kiến thức mới, củng cố
kiến thức một bài, hệ thống hoá kiến thức một chủ đề, một chương của các môn học
khác nhau hoặc các hoạt động ngoại khoá, lập kế hoạch công việc…

tư duy bằng bản đồ
- Giới thiệu Đặc điểm cơ bản
trong học tập 3 phân môn
Ngữ văn
- Kết hợp sử dụng máy tính
- Quan sát học viên
- Nghe GV giới thiệu
- Nêu những thắc mắc và
những khó khăn trong việc
lập bản đồ tư duy
- HV nhận thức được lợi
thế và hạn chế của việc sử
dụng bản đồ tư duy trong
dạy học văn
- Nắm được kĩ năng lập
bản đồ tư duy trong dạy
học Ngữ văn
60’ Hướng dẫn thực hành làm
bản đồ tư duy
- Tổ chức lớp theo nhóm
- Nêu bài tập
- Quan sát, lắng nghe các
nhóm làm việc với sưo đồ tư
duy
Thực hành làm bản đồ tư duy
- Nhận tài liệu và phương
tiện học tập;
- Cử tổ trưởng, thư kí của
nhóm;
- Xác định vấn đề cần lập

- Nhận xét sản phẩm của các
nhóm khác
- Trả lời các câu hỏi của GV
góp ý cho các bản đồ tư
duy của nhóm khác;
C. Tài liệu và phương tiện
- Máy tính, máy chiếu
- Giấy A0, A4, bút màu
- Phiếu học tập
D. Nội dung bài học
I.Tư duy, bản đồ tư duy và tư duy bằng bản đồ
Tư duy là một khái niệm dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những
cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự
vật. Tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được
từ trước, phát triển những suy nghĩ tiếp theo, là giai đoạn cao của quá trình nhận thức,
đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như
biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí.
Bản đồ (hay sơ đồ) là bản vẽ đơn giản ghi lại những nét chính của sự vật, sự
việc, hoạt động. Vậy bản đồ tư duy (còn gọi là bản đồ tư duy) là bản vẽ ghi lại những
nét chính về nhận thức của con người về một sự vật (sự việc) nào đó.
Bản đồ tư duy được coi là công cụ ghi chú tối ưu do Tony Buzan (sinh năm 1942
tại Luân Đôn) khởi xướng. Sự khác nhau cơ bản giữ ghi chú truyền thống và ghi chú
bằng bản đồ tư duy là: Nếu ghi chú truyền thống chỉ lấy “chữ” làm phương tiện biểu
hiện theo một trật tự nhất định (thường là từ trên xuống dưới, từ trái sang phải), thì bản
đồ tư duy sử dụng cả đường nét, hình vẽ, mầu sắc…lại được người sử dụng thiết kế phi
tuyến tính hoàn toàn theo sở thích cá nhân của họ. Người ta nói rằng “nếu “ghi chép
thông tin bằng các kí tự, đường thẳng, con số….thì chúng ta chỉ sử dụng một nửa của
bộ não – não trái mà chưa hề sử dụng kĩ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng xử lí
các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng”.
Tư duy bằng bản đồ là dùng hình ảnh, đường nét, màu sắc, ngôn ngữ ghi lại

……………………………………………………………………………………
II.Bản đồ tư duy với học tập môn Ngữ văn
2.1. Đặc điểm môn Ngữ văn và phương pháp dạy học Ngữ văn
Môn Ngữ văn gồm ba phân môn nhỏ là: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn. Tuy
có chung một mục đích giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe,
nói, đọc viêt, nhưng chúng có vị trí độc lập tương đối bởi những mục tiêu riêng biệt của
từng phân môn. Theo đó, ba phân môn lại có phương pháp dạy học đặc thù.
24
Với phân môn Văn học, trong tâm là đọc - hiểu văn bản văn học. Giáo viên là
người hướng dẫn và tổ chức để học sinh biết cách đọc tác phẩm, tìm ra cái hay, cái đẹp
trong tư tưởng, tình cảm, cách thể hiện của người viết bằng chính nhận thức của các em.
Với phân môn Tiếng Việt, trước hết phải hình thành ở học sinh THCS năng lực
sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ năng cơ bản nghe, nói, đọc, viết, qua đó mà
rèn luyện tư duy. Thứ hai, giúp cho học sinh có những hiểu biết nhất định về tri thức
tiếng Việt và ngôn ngữ (từ, câu, đoạn ) để có ý thức sử dụng tiếng Việt đúng đắn và
trong sáng. Trên cơ sở đó mà làm cho các em yêu quý tiếng Việt, có ý thức giữ gìn, bảo
vệ, phát triển tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm.
Những kiến thức tiếng Việt sau được học ở lớp 8:
Môn Làm văn, chủ yếu mang tính thực hành, vận dụng những kiến thức văn
học, tiếng Việt và đời sống xã hôi để tạo lập văn bản (nói hoặc viết). Học sinh phải thực
hiện tốt những bài làm văn nghệ thuật, nghị luận và văn nhật dụng.Trong khi làm văn,
học sinh không chỉ là người thiết kế mà còn phải là người thi công, biêt xây dựng kế
hoạch và thực hiện và đánh giá kế hoạch.
Dưới đây là bảng sơ lược những kiến thức Ngữ văn cơ bản được học ở cấp
THCS theo chương trình và sách giáo khoa hiện hành
Lớp Đọc hiểu văn bản Tiếng Việt Làm văn
Lớp 6
Truyện dân gian
Truyện ngắn hiện đại
Kí, Văn bản nhật dụng

Nghị luận văn học
25

Trích đoạn hục sinh tích cực Giai đoạn từ 2006 đến nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status