Lời nói đầu
Trong điều kiện thế giới hiện nay nói chung và điều kiện nước ta hiện
nay nói riêng, khi mà các giá trị về vật chất của con người ngày càng
được thoả mãn đầy đủ hơn thì chúng ta ngày có xu hướng quan tâm đến
các giá trị của cá nhân, một trong những giá trị mà con người hướng tới
chính là “quyền bí mật đời tư”.
Pháp luật xét về tính giai cấp luôn bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị,
tuy nhiên xét đến cùng vẫn là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng do
đó luôn phải chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng. Đáp ứng những yêu cầu
khách quan những mong muốn của các cá nhân trong xã hội, pháp luật
hiện đại ngày càng ghi nhận và bảo vệ rộng rãi các quyền nhân thân của
cá nhân, trong đó có quyền bí mật đời tư. Không nằm ngoài quy luật
trên, Pháp luật nước ta cũng ghi nhận quyền cơ bản này của công dân
thông qua nội dung của Điều 73 Hiến pháp, Điều 38 Bộ luật dân sự và
một số quy định trong các văn bản pháp khác.
Việc ghi nhận và bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân là một điểm
tiến bộ của pháp luật nước ta, đưa pháp luật ngày càng gần với đời sống
của nhân dân. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện quyền này của công
dân vẫn còn nhiều điều phải bàn.
Với bài tiểu luận này, chúng tôi mong tìm hiểu và làm rõ hơn nữa về lý
luận cũng như thực tế việc thực hiện quyền bí mật đời tư hiện nay. Bằng
việc tiếp cận vấn đề thông qua một số vụ việc cụ thể trên thực tế chúng
tôi mong muốn có được cái nhìn cụ thể và chính xác hơn về quyền bí
mật đời tư của cá nhân. Với kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế do
vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đựơc sự đóng
góp từ phía thầy cô và các bạn.
I. Vài nét về quyền bí mật đời tư của cá nhân.
1. “Bí mật đời tư” - quyền cơ bản của mọi cá nhân.
Quyền bí mật đời tư là quyền cơ bản trong hệ thống các quyền nhân thân
của cá nhân. Quyền bí mật đời tư được thừa nhận rộng rãi trong pháp
bảo vệ.
2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải
được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực
hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng,
con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường
hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của
cá nhân được đảm bảo an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện
tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy
định phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Không chỉ luật dân sự, một số ngành luật khác như luật hình sự, luật hôn
nhân gia đình, luật báo chí…cũng có những quy định bảo vệ quyền bí
mật đời tư của cá nhân.
2. Định nghĩa về “Quyền bí mật đời tư”.
Thực tế ở nước ta hiện nay cho thấy, số lượng vụ việc xâm phạm bí mật
đời tư của cá nhân là không ít, tuy nhiên số vụ việc được giải quyết lại
rất hạn chế. Trong các nguyên nhân dẫn tời hiện tượng trên thì việc thiếu
một định nghĩa cụ thể trong luật về bí mật đời tư chính là một nguyên
nhân chính, điều này khiến việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn
đề liên quan đến bí mật đời tư trở nên hết sức khó khăn do không xác
định rõ ràng được những thông tin như thế nào mới là bí mật đời tư và
được pháp luật bảo vệ.
Như đã nói ở trên, mặc dù pháp luật nước ta có nhiều quy định liên quan
đến quyền bí mật đời tư của cá nhân song vẫn chưa có một văn bản nào
đưa ra được một định nghĩa chính thức về quyền này. Trước hết, xét về
mặt ngữ nghĩa “bí mật” là “được giữ kín trong phạm vi một số ít người,
không để lộ cho người ngoài biết” hoặc theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt
thì “bí mật” còn được giải thích là “giữ kín, không để lộ ra, không công
Như vậy, có thể thấy hiện nay còn rất nhiều ý kiến khác nhau về cách
định nghĩa khái niệm bí mật đời tư, tuy nhiên, theo chúng tôi, dù hiểu
thế nào thì khi một cá nhân muốn yêu cầu pháp luật bảo vệ về việc bị
xâm phạm bí mật đời tư thì phải chứng minh được rằng bí mật đó là bí
mật thuộc về cá nhân người đó và chưa từng được công bố, công khai ở
nơi công cộng theo ý muốn của bản thân người đó. Ngoài ra, bí mật đó
phải đảm bảo được yêu cầu là không xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích
công cộng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (ví dụ:
thông tin liên quan đến hành vi phạm tội, chuẩn bị phạm tội…).
II. Thực tiễn bảo vệ “Quyền bí mật đời tư” tại Việt Nam.
1. Báo chí có xâm phạm qyuền bí mật đời tư của công dân?
Tóm tắt vụ việc như sau: Ông Trần Tiến Đức, ngụ tại phường 10, quận
Phú Nhuận, Tp HCM được TAND quận phú nhuận xử cho li hôn với vợ
của ông là bà N.T.T vào ngày 15/12/1994. Tháng 10 năm 1996, nhà xuất
bản trẻ phối hợp với báo Tuổi trẻ xuất bản cuốn “Kí sự pháp đình”, tác
giả là nhà báo Thuỷ Cúc, trong đó có bài “Tổ ấm”. Đây là bài kí sự có
nội dung viết về phiên toà li hôn cảu ông Trần Tiến Đức, mặc dù họ tên
của nguyên đơn đã được viết tắt là T.T.Đ.
Sau khi cuốn sách được phát hành, một người bạn của ông Đức đọc và
nói lại nội dung cho ông Đức biết. Giữa năm 2006 ông Trần Tiến Đức
đã
khởi kiện tại tòa án nhân dân quận 3 TP Hồ Chí Minh đối với các đồng
bị đơn: Nhà xuất bản trẻ, báo Tuổi trẻ và nhà báo Thủy Cúc. Theo nội
dung đơn khởi kiện, ông Đức cho rằng mình đã bị xâm phạm bí mật đời
tư
khi bài “Tổ ấm” đề cập đến quá khứ của bà N.T.T (vợ cũ của ông) và
quyền truy nhận cha cho con của ông, bên cạnh đó nhà báo Thuỷ Cúc
còn
nêu quan điểm cá nhân xúc phạm đời sống riêng tư của ông Đức… Từ
đó,
đã được viết tắt, nhưng lại đề cập đến công việc và con người của ông,
sự đề cập đó không phải đề cao ông mà để mọi người nhận ra ông khi
đọc bài viết đó. Thậm chí, bài viết còn vẽ hình biếm hoạ ba đứa con của
ông – đó là sự xúc phạm. Ông Đức cũng cho rằng nếu bài viết trong ấn
phẩm này tiếp tục được phát hành sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của các
con ông về sau.
Sau khi xét hỏi, tranh luận và nghị án, chiều ngày 20/9/2006, Hội đồng
xét xử đã tuyên án. Theo nội dung bản án, Hội đồng xét xử nhận định là
có hành vi xâm phạm bí mật đời tư của ông Trần Tiến Đức của ba đồng
bị đơn là nhà báo Thuỷ Cúc, Báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ. Từ đó,
Hội đồng xét xử đã quyết định: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là
ông Trần Tiến Đức, buộc nhà báo Thuỷ Cúc, Báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất
bản Trẻ phải đăng lời cải chính trên Báo Tuổi Trẻ 1 kỳ/1 bị đơn; buộc ba
đồng bị đơn phải liên đới bồi thường cho ông Đức 1,75 triệu đồng tiền
tổn thất về tinh thần (Nhà báo Thuỷ Cúc 1 triệu đồng, Nhà xuất bản Trẻ
500 nghìn đồng và Báo Tuổi Trẻ 250 nghìn đồng). Ngoài ra, Hội đồng
xét xử cũng tuyên buộc Nhà xuất bản Trẻ không được lưu hành, không
được tái bản cuốn Ký sự pháp đình của nhà báo Thuỷ Cúc có bài viết
“Tổ ấm”.
Không đồng ý với phán quyết của Toà án cấp sơ thẩm, các đồng bị đơn
đã kháng cáo. Lý do kháng cáo được các đồng bị đơn đưa ra: Bản án sơ
thẩm được tuyên không có căn cứ pháp luật; Hội đồng xét xử đã tự
“sáng tác” luật, lạm quyền trong khi xét xử bởi vì pháp luật chưa có định
nghĩa thế nào là bí mật đời tư, mặt khác những thông tin được công khai
tại phiên tòa không thể xem là “bí mật”. Ngoài ra, tác phẩm “Tổ ấm” của
nhà báo Thuỷ Cúc không đề cập cụ thể đến tên của ông Trần Tiến
Đức…
Với những nhận định tương tự như Toà án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử
cấp phúc thẩm đã tuyên buộc Báo Tuổi Trẻ, NXB Trẻ và nhà báo Thủy
Cúc phải đăng lời cải chính, xin lỗi ông Đức trên trang 4 Báo Tuổi Trẻ 1
N.T.T là những thông tin riêng giữa hai vợ chồng, không xâm phạm lợi
ích Nhà nước, lợi ích công cộng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác do vậy không thể “bị” công bố khi chưa được sự đồng ý
của bản thân những người liên quan hoặc quyết định theo pháp luật của
cơ quan có thẩm quyền. Nghị định số 51/2002/NĐ – CP ngày 26/4/2002
của Chính Phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Báo chí cũng quy định:
“Không đựơc đăng, phát tin bài ảnh hưởng xấu đến đời tư, công bố tài
liệu thư riêng khi chưa được sự đồng ý của ngời viết thư, người nhận thư
hoặc người chủ sở hữu hợp pháp tài liệu, bức thư đó”. Như vậy, việc nhà
báo Thuỷ Cúc đưa những thông tin về cá nhân ông Đức cần phải được
sự cho phép của bản thân ông.
Trên đây là quan điểm của chúng tôi về cách giải quyết của toà án trong
vụ kiện của ông T.T.Đ. Thực tế xét xử cho thấy vụ kiện của ông Đức chỉ
là một trường hợp hiếm hoi. Việc báo chí đưa những thông tin có tính
chất xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân không phải là chuyện hiếm
thấy, thậm chí phổ biến. Tuy nhiên, việc pháp luật còn thiếu những quy
định cụ thể và người dân cũng ý thức chưa đầy đủ về quyền lợi của mình
nên chưa có những biện pháp bảo vệ thích đáng với quyền quan trọng
này. Vụ việc trên cũng chính là sự biểu hiện sự xung đột giữa quyền bí
mật đời tư với quyền tự do thông tin, tự do báo chí được quy định tại
Điều 69 Hiến pháp và một số văn bản pháp luật khác.
2. Về việc Mobifone làm lộ thông tin khách hàng.
Tóm tắt vụ việc như sau: Chị Mai Thị H (trú tại 47, NTX, phường Hiệp
Hoà Bắc, Quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng) khiếu nại về việc Mobifone
làm lộ bí mật khách hàng khiến gia đình chị tan vỡ. Chị H sử dụng dịch
vụ MobiCard được 2 năm. Ngày 21/11/2005, chồng chị mang về những
bảng in chi tiết số điện thoại của chị từ tháng 5/2005 đến tháng 9/2005.
Trong đó, chồng chị gạch rõ từng ngày chị thực hiện bao nhiêu cuộc gọi,
gọi vào những số nào, giờ nào? Chồng chị còn truy ra hơn 20 số điện
thoại của những người đàn ông gọi cho chị, gọi điện đến từng người tra
Liên Chiểu là hợp lí và có căn cứ pháp luật. Khoản 3 Điều 38 Bộ luật
dân sự 2005 đã quy định: “Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức
thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật”.
Bản kê chi tiết danh sách gọi chính là một trong những hình thức “thông
tin điện tử khác của cá nhân” do vậy cũng được pháp luật bảo vệ. Điều 9
pháp lệnh bưu chính, viễn thông 2002 về bảo đảm bí mật thông tin có
quy định tại khoản 1 như sau: “Bí mật đối với thông tin riêng chuyển
qua mạng bưu chính, mạng viễn thông của mọi tổ chức, cá nhân được
bảo đảm theo quy định của pháp luật. Việc giữ bí mật thông tin bằng kỹ
thuật mật mã trong bưu chính, viễn thông được thực hiện theo quy định
của pháp luật về cơ yếu”.Tại điểm c khoản 2 Điều 42 Pháp lệnh trên
cũng quy định: Người sử dụng dịch vụ viễn thông “Được bảo đảm bí
mật thông tin riêng theo quy định của pháp luật”. Thông tin về "Chi tiết
cuộc gọi gốc", sơ đồ di chuyển của các thuê bao di động (vị trí của các
thuê bao tại các thời điểm) và các bảng kê cuộc gọi của khách hàng được
liệt vào danh sách thông tin mật. Những thông tin này không được cung
cấp cho bất kỳ ai ngoài chủ thuê bao (hoặc một số trường hợp được chủ
thuê bao uỷ quyền) hoặc trừ khi cơ quan điều tra yêu cầu với những lý
do chính đáng. Như vậy, Mobifone không có quyền cung cấp bản kê chi
tiết các cuộc gọi của chị H cho bất kì ai, kể cả chồng chị H khi không có
sự đồng ý của chị.
Thực tế hiện nay cho thấy, việc quản lý, giữ bí mật thông tin cá nhân của
khách hàng tại các công ty viễn thông còn rất lỏng lẻo. Thậm chí, còn có
cả tình trạng nhân viên một số mạng di động đọc các tin nhắn có nội
dung "lạ" của các khách hàng, sau đó in ra và photo truyền nhau đọc tại
công ty. Tuy đây chỉ là trò vui đối với các nhân viên này nhưng xét trên
phương diện pháp luật, đây là sự vi phạm nghiêm trọng quy định bảo
mật thông tin của khách hàng. Vụ việc trên cùng cách giải quyết của toà
án cũng góp một tiếng nói đến các công ty viễn thông trong việc bảo mật
các thông tin khách hàng.
Luật dân sự đã quy định rõ bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, các hình
thức thông tin điện tử khác của cá nhân được đảm bảo tuyệt đối (trừ
trường hợp cá nhân đồng ý hoặc pháp theo quyết định của pháp luật).
Điều đó có nghĩa, không ai, kể cả vợ, chồng được phép xâm phạm bí
mật đời tư của người khác. Trong quan hệ vợ chồng, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ
trường hợp mà người vợ hoặc chồng cần phải có sự riêng tư nhất định.
Không thể viện bất kì lý do gì để vợ hoặc chồng xâm phạm bí mật đời tư
của người kia. Hơn nữa, xét trên phương diện tình cảm thì quan hệ vợ
chồng sẽ bền vững trên cơ sở tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, việc kiểm
tra điện thoại của người khác chỉ càng làm tăng thêm mối bất hoà và sự
nghi ngờ trước đó.
Tóm lại, từ sự phân tích trên có thể thấy người vợ trong tình huống trên
hoàn toàn có thể kiện người chồng về việc xâm phạm bí mật đời tư, tuy
nhiên trên thực tế, do quan niệm, phong tục của người á đông mà những
vụ kiện như vậy ở nước ta rất hiếm, thậm chí chưa từng xảy ra.
III. Kết luận.
Như vậy, việc việc Bộ luật dân sự 2005 chưa có định nghĩa rõ ràng về bí
mật đời tư khiến cho việc xét xử các vụ việc liên quan của toà án cũng
như việc người dân thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ quyền của cá
nhân về bí mật đời tư còn gặp rất nhiều khó khăn. Các vụ việc nhiều khi
đã được toà giải quyết nhưng vẫn để lại dư luận vì chưa có những căn cứ
pháp luật thật rõ ràng khi xét xử. Thiết nghĩ, biện pháp trước mắt Toà án
nhân dân Tối cao cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để việc
giải quyết của Toà án đối với các vụ việc tương tự được thống nhất,
khách quan. Về lâu dài, cần xây dựng những quy định cụ thể, thống nhất
về vấn đề bí mật đời tư để không ai có thể lợi dụng dụng sự chưa rõ ràng
của pháp luật nhằm đạt được mục đích của mình. Mặt khác, cần có
những quy định nghiêm hơn với những hành động coi thường pháp luật,
xâm phạm thô bạo bí mật đời tư của người khác. Tăng cường tuyên
truyền cho người dân hiểu và nhận thức được quyền chính đáng của bản