Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1.Lý do chọn đề tài 2
Chương 1 3
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG 3
NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 3
1.1. Tình hình quốc tế và khu vực 3
1.2. Tình hình trong nước 6
Chương 2 12
MỘT SỐ HỌAT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM 12
TỪ 1986 ĐẾN NAY 12
2.1. Bình thường hóa và tiếp tục phát triển quan hệ ngoại giao với một số
nước và tổ chức trong khu vực 12
2.1.1. Bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 12
2.1.2. Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ 19
2.1.3. Khôi phục quan hệ Việt Nam - ASEAN 22
2.1.4. Tiếp tục phát triển quan hệ Việt Nam - Campuchia 28
2.2. Tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với một số nước bạn bè truyền thống, thiết lập
quan hệ với Liên minh châu Âu (EU) và hội nhập khu vực. 33
2.2.1.Việt Nam khôi phục quan hệ với Nga và các nước Đông Âu 34
2.2.2. Việt Nam thiết lập quan hệ với Liên minh Châu Âu (EU) 37
2.1.3. Việt Nam gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dương (APEC) 39
2.2.1. Việt Nam gia nhập WTO 42
2.3. Một số bài học kinh nghiệm 44
KEÁT LUAÄN 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
MỞ ĐẦU
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, nước ta bước vào công cuộc khôi
phục và phát triển kinh tế xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi.
Trước hết, do tác động của thắng lợi cách mạng Việt Nam, Phong trào
giải phóng dân tộc trên thế giới được thúc đẩy mạnh, nhiều dân tộc thuộc địa
hoăc lệ thuộc giành được độc lập. Trong khi đó, Chủ Nghĩa Tư Bản đang đi vào
giai đoạn suy thoái không đủ sức để lũng đoạn thế giới . Đây là cơ hội để các
dân tộc bị áp bức đứng lên giành độc lập, làm chủ đất nước. Việt Nam là một
nước đánh thắng Mĩ nên nhiều nước trên thế giới đã có cảm tình đã sẵn sàng
giúp đỡ Việt Nam.
Bên cạnh đó, bước vào những năm 70 của thế kỉ ΧΧ, các nước Tư Bản
Chủ Nghĩa đã áp dụng thành công các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học –
công nghệ đã phát triển nhanh chóng. Ngược lại, trong giai đoạn này các nước
XHCN đã lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội. Mâu thuẫn trong
xã hội ngày càng sâu sắc. Hai sự kiện này làm cho khoảng cách phát triển của
hai phe Tư Bản Chủ Nghĩa và Xã Hội Chủ Nghĩa ngày càng xa nhau. Mỹ tiếp
tục phát động chạy đua vũ trang với Liên Xô và các nước XHCN, chống phá các
nước XHCN và phong trào hoà bình thế giới. Đối với Việt Nam, Mỹ dùng chính
sách cấm vận, bao vây, cô lập trên trường quốc tế. Đồng thời, Mỹ tăng cường
kích động lôi kéo người Việt Nam di tản làm mất an ninh chính trị, làm suy yếu
sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta.
Tình hình ở Campuchia cũng là nhân tố tác động rất lớn đối với quan hệ
ngoại giao Việt Nam. Sau khi giành được độc lập, Campuchia bước sang một
một giai đoạn đấu tranh mới chống chế độ diệt chủng của Pônpôt I-Êng Xari. Là
một nước láng giềng, Việt Nam đã đưa quân tình nguyện sang giúp đỡ
Campuchia. Đây là một hành động thể hiện thiện chí của Việt Nam. Song vin
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
vào cớ đó, các nước đế quốc, các bè phái phản động, chống phá cách mạng cũng
như XHCN đã cố tình bóp méo hành động này. Mỹ tiến hành bao vây, cấm vận,
Trung Quốc tiến hành chiến tranh ở 6 tỉnh biên giới Việt Nam. Tiếp đó các nước
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
thế giới, Việt Nam mất một chỗ dựa vững chắc về tư tưởng. Nó làm cho trật tự
thế giới mới và “tương quan lực lượng trên toàn thế giới từ chỗ cân bằng sang có
lợi cho Mỹ và các nước tư bản phat triển”
21
Sau khi Liên Xô tan rã, chiến tranh lạnh kết thúc, cục diện thế giới bước
sang hệ thống mới. Theo dự báo của tình hình thế giới , một hoạt động xã hội mới
sắp hình thành, xã hội hệ thống một cực trong đó Mỹ đứmg đầu. Mỹ tăng cường sử
dụng khẩu lệnh dân chủ để can thiệp vào nội bộ các nước khác, gây dựng mưu đồ
làm bá chủ thế giới, gây ra những cuộc chiến tranh ở Trung Đông: Iran,Irac vào
năm 2001 Nhưng Mỹ đang bị cộng đồng thế giới phản đối mạnh mẽ.
Sự kiện 11/9/2001 ở Mĩ đã cảnh báo nguy cơ mới đang diễn ra trên toàn
thế giới. Tuy chiến tranh lạnh đã kết thúc song thế giới vẫn phải đối mặt với
những cuộc đấu tranh, xung đột tôn giáo, sắc tộc, nạn khủng bố. Mọi người trên
toàn thế giới mong chờ và hi vọng sự chuyển biến mới tươi sáng hơn trong
tương lai.
Hệ quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đó là sự xuất hiện của xu
thế toàn cầu hoá. Vì vậy toàn cầu hoá ra đời là một xu thế khách quan. Bản chất
của toàn cầu hoá là sự tăng lên sự phụ thuộc của các nước trong hoạt động kinh
tế - xã hội… giữa các nước trên phạm vi toàn cầu. Toàn cầu hoá đã có tác động
mạnh mẽ đến quan hệ giữa các nước. Trước hết là việc hình thành của nhiều
công ty xuyên quốc gia có sức mạnh chi phối nền kinh tế thế giới,
làm cho quá
trình quốc tế hóa ngày càng mạnh mẽ. Tiếp theo đó là sự phát triển mạnh mẽ và
vai trò ngày càng to lớn của thương mại quốc tế đối với sự phát triển của các
quốc gia,”
23
tỉ trọng hàng sơ chế đã giảm từ 38,3% năm 1984 xuống còn 25%
năm 1992, tỉ trọng tinh chế tăng từ 49,5% năm 1950 lên 75% năm 1992”. Các
ngoài nước. Việt Nam cần đưa ra được những chính sách và phương hướng sử
dụng ngồn lực đúng đắn để phát triển ngoại giao, đưa đất nước phát triển, vượt
qua những khó khăn thử thách để nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế.
1.2. Tình hình trong nước
Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ 1975 thắng lợi, Việt Nam bước vào thời
kì thực hiện xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên bước vào những năm 1980,
Việt Nam lại lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế xã hội và quan hệ quốc tế.
Một trong những nguyên nhân cơ bản đưa đến những khó khăn, yếu kém là: sai
lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược
và tổ chức thực hiện, chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật phát triển khách quan
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
của thời đại… Những sai lầm kéo dài trong chính sách đã gây ra những khó
khăn trong đất nước như: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng đến ba con số, đời
sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, dư luận xung quanh việc Việt Nam đưa quân vào
Campuchia chưa có hành lang pháp lý quốc tế đầy đủ đã khiến ta bị bao vây, cô
lập, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá.
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và thực trạng đất nước, Đại hội đại
biểu lần VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định nhiệm vụ, mục tiêu của
cách mạng trong thời kì đất nước đổi mới đi lên CNXH. Đại hội khẳng định:
“Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết, quyết tâm đem hết tinh thần và lực
lượng tiếp tục hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công CNXH và bảo vệ
vững chắc tổ quốc XHCN”
4
. Đại hội đã đề ra “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu
tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt
tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiên đề cần thiết cho việc đẩy
mạnh công nghiệp hoá XHCN trong chặng đường tiếp theo”
5
6
.
Hàng hoá thị trường dồi dào, đa dạng và lưu thông tương đối thuận lợi, có
tiến bộ về mẫu mã. Các cơ sở sản xuất với nhu cầu của thị trường, phần bao cấp
của nhà nước về vốn, giá vật tư, tiền lương giảm đáng kể.
Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng về qui mô, hình thức và góp
phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội. Từ 1986-1990,
hàng xuất khẩu tăng lần từ 439 triệu sản phẩm và 384 triệu USD lên 1019 triệu
sản phẩm và 1170 triệu USD”
7
Lạm phát được kìm chế: Nếu chỉ số tăng bình quân hàng năm trên thị
trường “năm 1986 là 20% thì 1989 là 2,5% và 1990 là 4,4%”
8
. Nhờ kiềm chế
được lạm phát, các cơ sở kinh tế có điều kiện thuận lợi để hạch toán kinh doanh,
đời sống nhân dân giảm bớt khó khăn.
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII của Đảng (họp 6/1991) tiếp tục đề ra chủ trương nhằm khắc phục những
khó khăn, đẩy mạnh những lợi thế để phát triển đất nước. Đại hội đề ra nhiệm vụ
mục tiêu của kế hoạch 5 năm (1991- 1995) là “vượt qua khó khăn thử thách, ổn
định và phát triển kinh tế xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực
và bất công xã hội, đưa đất nước ta vượt qua tình trạng khủng hoảng hiện nay”
9
.
6
Trần Bá Đệ (1998), Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay. Những vấn đề thực tiễn và lý luận của CNXH ở Việt
Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội tr .107.
7
Đảng Cộng Sản việt nam(1991),Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần VII, Nxb sự thật,Hà Nội tr. 19, 27
8
trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội” Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững
hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhấn
mạnh “nước ta đã chuyển sang thời kì phát triển mới, thời kì đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
109
Trần Bá Đệ (1998) Lịch sử việt Nam 1975-nay. những vấn đề lý luận và thực tiễn của CNXH ở VN
ĐHQGN,Hà Nội tr. 117
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
Đại hội của Đảng đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch
kinh tế xã hội 5 năm 1996 – 2000 là: “Đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách
toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Phấn đấu đạt và vượt mục tiêu phát triển nền kinh tế, nhanh, hiệu quả cao và bền
vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội. Cải thiện đời sống
nhân dân nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế”
11
Kế hoạch 5 năm (1996- 2000) được thực hiện trong điều kiện nhiều khó
khăn và những thuận lợi nhất định. Trong bối cảnh đó, kinh tế - xã hội nước ta tiếp
tục đạt được những thành tựu quan trọng.
“Nền kinh tế tiếp tục giữ vững được nhịp độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế
có sự chuyển biến tích cực. Trong 5 năm, tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân
13,5% / năm, nông nghiệp là 5,7%, lương thực bình quân đầu người tăng từ 360 kg
(1995) lên 444 kg (2000)”
12
“Cơ cấu ngành kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa: trong tổng số sản phẩm xã hội, tăng tỉ trọng công nghiệp từ 28,7%
(1995) lên đến 36,6% (2000), giảm tỉ trọng nông nghiệp từ 27,2% còn 24,3%”
13
.
hệ với hơn 140 nước, quan hệ đầu tư với 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút
nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài.
Tóm lại, từ 1986 đến nay tình hình thế giới đã diễn ra nhiều biến động to
lớn đã tác động mạnh mẽ đến ngoại giao Việt Nam. Với những đánh giá khách
quan sâu sắc, áp dụng một cách thực tiễn, khoa học vào điều kiện của đất nước,
Đảng đã đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn để phát triển ngoại giao Việt
Nam, nâng vị thế Việt Nam lên cao hơn trên trường quốc tế.
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
Chương 2
MỘT SỐ HỌAT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN NAY
2.1. Bình thường hóa và tiếp tục phát triển quan hệ ngoại giao với một số
nước và tổ chức trong khu vực.
Vào cuối những năm 1970, sau khi phong trào giải phóng dân tộc
Campuchia giành thắng lợi, nhân dân Campuchia tiếp tục bước vào cuộc chiến
đấu chống chế độ diệt chủng của Pônpốt – Iêng xari. Là một nước láng giềng
thân thiện, Việt Nam đã đưa quân sang giúp đỡ nhân dân Campuchia. Đây là
việc làm thể hiện thiên chí của nhân dân Việt Nam với nhân dân Campuchia.
Tuy nhiên việc Việt Nam đưa quân sang Campuchia đã gây ra không ít những
dư luận xoay quanh. Sự việc này làm cho quá trình phát triển ngoại giao của
Việt Nam sau những năm đầu đổi mới trở nên khó khăn và phức tạp. Do vậy,
trong những năm đầu đổi mới, vấn đề Campuchia là vấn đề nổi cộm có tác động
rất lớn đến toàn bộ ngoại giao Việt Nam. khôi phục và mở rộng quan hệ với các
nước trong tương lai.
2.1.1. Bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, bên cạnh cuộc kháng chiến sinh tồn
của nhân dân trong nước giành độc lập thì Việt Nam luôn có sự giúp đỡ của các
nước xã hội chủ nghĩa trong đó có sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc. Đó là
mối quan hệ anh em bền chặt của chủ nghĩa xã hội nói chung cũng như mối quan hệ
khi chiến tranh đã xảy ra và quan hệ bị rạn nứt giữa hai nước. Ngày 26/04/1979,
trưởng đoàn đại biểu chính phủ Trung Quốc Hàn Nhiệm Long đã đưa ra lập
trường 8 điểm với nội dung chính sau đây:
1. Hai bên khôi phục quan hệ láng giềng hữu nghị giữa hai nước trên cơ
sở năm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không
xâm phạm lẫn nhau….
2. Bất cứ bên nào không có mưu cầu bá quyền Đông Dương, Đông Nam
Á và các khu vực khác…
3. Hai bên tôn trọng đường biên giới Trung - Việt …
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
4. Hai bên tôn trọng chủ quyền lãnh hải rộng 12 hải lý của mỗi bên…
5. Quần đảo Tây Sa và Nam Sa xưa nay vẫn là một lãnh thổ không chia
cắt được của Trung Quốc.
6. Kiều dân của bên nào cư trú ở bên kia đều phải tôn trọng pháp luật của
nước sở tại, tôn trọng phong tục tập quán.
7. Để thoả mãn yêu cầu chính đáng của nhân dân Việt Nam, đã bị cầm
quyền Việt Nam cưỡng ép xua đuổi sang Trung Quốc trở lại quê hương.
8. Về việc khôi phục quan hệ giữa hai nước về các mặt như: vận tải,
thương mại, hàng không…
Phía Trung Quốc đưa ra lập trường 8 điểm trong lúc họ thường xuyên duy
trì năm quân đoàn ở vùng biên giới Trung Việt, dùng 15 sư đoàn áp sát biên
giới, tiếp tục gây tình hình không ổn định cho Việt Nam. Yêu cầu Việt Nam từ
bỏ chủ quyền của mình trên lãnh thổ Hoàng Sa, Trường Sa, thay đổi đường lối
ngoại giao của mình, tiếp tục gây khó khăn cho Việt Nam. Hơn nữa, Trung
Quốc còn muốn dùng vấn đề Campuchia để tập hợp lực lượng, hạn chế ảnh
hưởng của Liên Xô với Đông Nam Á. Đó là lý do vì sao mà vấn đề bình thường
hoá qua hệ Việt Trung gắn liền với việc giải quyết vấn đề ở Campuchia.
Việt Nam, Liên Xô cùng Lào, Campuchia và các nước ASEAN tăng
cường giải quyết những vấn đề tồn tại giữa quan hệ Việt Nam và Campuchia,
Ngày 12/8/1990, Thủ tướng Trung Quốc Lý Lương Bằng tại Singapore đã
tuyên bố: Trung Quốc hi vọng cuối cùng sẽ bình thường hoá quan hệ với Việt
Nam và thảo luận các vấn đề như Nam Sa…
Từ ngày 3 - 4/9/1990 diễn ra hội nghị cấp cao Việt Trung tại Thành Đô
(Trung Quốc). Tham gia hội nghị về phía Việt Nam có Tổng bí thư Đảng cộng
sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, Cố vấn
Phạm Văn Đồng. Về phía Trung Quốc vụ có Tổng Bí thư Đảng cộng sản Trung
Quốc Giang Trạch Dân, Thủ tướng quốc viện Trung Quốc Lý Bằng.
Hai bên đều bày tỏ vui mừng sau hơn 10 năm quan hệ xấu đi. Hai bên đã
trao đổi thẳng thắn sâu rộng về quan hệ Việt Trung và vấn đề Campuchia.
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
Hai bên đồng ý khôi phục quan hệ giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam -
Trung Quốc, đồng thời với việc giải quyết vấn đề toàn diện công bằng, hợp lý về
Campuchia, từng bước cải thiện quan hệ giữa hai Đảng, hai nước, từng bước
thực hiện bình thường hoá.
Về vấn đề Campuchia, hai bên cho rằng đã chín muồi để giải quyết
Campuchia một cách toàn diện, công bằng và hợp lý trước mắt hi vọng các bên
Campuchia thành lập được hội đồng nhân dân tối cao, Campuchia tương lai phải
là một nước hòa bình, độc lập, trung lập không liên kết, có quan hệ hữu nghị với
các nước láng riềng.
Cuộc gặp ở Thành Đô mở đường cho việc khai thông và phát triển quan
hệ truyền thống giữa hai nước. Từ đó quan hệ Việt Trung đã chuyển sang một giai
đoạn mới. Hai bên đã diễn ra các cuộc gặp gỡ trao đổi, tiếp xúc thân thiện bàn về đẩy mạnh
quan hệ giữa hai nước. Ở Bắc Kinh, đoàn Việt Nam đã thăm một số cơ sở kinh tế văn hoá
của Trung Quốc. Các cuộc đàm phán và gặp gỡ đã diễn ra trong bầu không khí
hữu nghị, chân thành và thẳng thắn, tôn trọng và hiẻu biết lẫn nhau.
Hai bên nhìn lại những bước tiến triển mới trong mối quan hệ hai nước từ
cuộc gặp gỡ cấp cao Việt - Trung tháng 11/1991 đến nay. Hai bên nhất trí cho
rằng củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác láng giềng hữu nghị
quan hệ hai nước. Hai bên đã đạt được những thoải thuận và nhận thức chung
quan trọng về hai loại vấn đề trên.
Hai bên khẳng định quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian qua,
tiếp tục có những bước phát triển mới, mạnh mẽ và toàn diện trên hầu hết những
lĩnh vực. Lãnh đạo cấp cao giữa hai nước tiếp tục duy trì truyền thống, đi thăm
và gặp gỡ thường xuyên, giúp tăng cường tin cậy, tạo động lực mới thúc đẩy
hợp tác giữa hai nước phát triển ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả.
Quan hệ thương mại có bước phát triển vượt bậc với kim ngạch hai chiều:
“Năm 2007 đạt khoảng 15 tỉ USD hoàn thành trước 3 năm mục tiêu đề ra
15 tỉ USD cho 2010.
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
Giao lưu và hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước cũng có
bước phát triển như:
Hai bộ quốc phòng đã kí thoả thuận và hợp tác biên phòng, hai Bộ công
an đã xây dựng cơ chế hợp tác từ Trung Ương xuống địa phương. Trung Ương
hai Đảng triển khai chương trình trao đổi kinh nghiệm cải cách, mở cửa và hội
nhập, đã tổ chức thành công cuộc hội thảo lần 3 về lý luận xây dựng CNXH.
Hai bên nhất trí chuẩn bị tích cực để các chuyến thăm của các nhà lãnh
đạo hai Đảng hai nước năm 2008 thành công tốt đẹp; củng cố để nâng cao hơn
trình độ giao lưu hợp tác giữa các bộ, ngành và địa phương hai nước, cũng như
giao lưu nhân văn, trong đó coi trọng giao lưu thanh niên và tăng cường hữu
nghị giữa hai nước. Phía Trung Quốc khẳng định sẽ khuyến khích các doanh
nghiệp lớn, uy tín cao, tiềm lực lớn tăng cường đầu tư vào Việt Nam, sẵn sàng
nhập khẩu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam để cải thiện tình hình nhập siêu
của Việt Nam; thúc đẩy điều tra nghiên cứu các dự án trong phạm vi “ hai hành
lang và một vành đai kinh tế “Việt - Trung, …Sớm họp lại Uỷ ban liên hợp kinh
tế - thương mại và khởi động nhóm công tác và soạn thảo “Quy hoạch 5 năm
phát triển hợp tác kinh tế nhằm đưa kinh tế - thương mại hai nước phát triển
toàn phương vị lên tầm cao mới, sớm hoàn tất nội dung để kí ngay hai hiệp định
hai nước.
Hiện nay, quan hệ giữa hai nước đang đứng trước cơ hội phát triển ổn
định, lâu dài để nâng lên tầm cao hơn, lành mạnh và bền vững hơn. Tuy còn tồn
tại một số vấn đề do lịch sử để lại, điều quan trọng là lãnh đạo cấp cao hai nước
đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Duy trì và tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị và
hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc là lợi ích cơ
bản của cả hai nước và phù hợp với xu thế hoà bình ổn định, hợp tác cùng phát
triển ở khu vực và thế giới.”
16
2.1.2. Bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ
Quan hệ Việt -Mỹ là mối quan hệ đi theo những chặng đường quanh co,
từ tiếp xúc bình thường, chiến tranh tiếp nối chiến tranh rồi lại bình thường hoá.
16
Google :Đối ngoại-VN-Trung Quốc (2007)
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
Mỹ lấy việc giải quyết vấn đề Campuchia và vấn đề MIA (Những người
Mỹ mất tích) làm điều kiện để bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ. Việt Nam có
yêu cầu kéo Mỹ vào đàm phán, từng bước tiến tới bình thường hoá quan hệ Việt
- Mỹ, phá một bước bao vây, cấm vận của Mỹ, tranh thủ sự hoà bình với Mỹ để
tiến cập, làm bạn với các nước, tích cực giải quyết vấn đề MIA.
Sau khi đi Hà Nội, phái đoàn Moodcock cho rằng nên bình thường hoá
quan hệ Việt Nam không điều kiện. Họ cũng đề nghị lập văn phòng liên lạc tại 2
thủ đô khi bình thường hoá quan hệ.
Từ 1986, Việt - Mỹ chính thức chuyển từ đối đầu sang đối thoại. Ngày
8/6/1990 Việt Nam và Mỹ cùng đàm phán về vấn đề Campuchia và bình thường
hoá quan hệ với Việt Nam.
Ngày 20/1/1988, Tổng thống Mỹ Reagan tuyên bố: trong khung cảnh một
giải pháp giải quyết vấn đề Campuchia bao gồm Việt Nam rút quân khỏi
Campuchia, Mỹ sẵn sàng bình thường hoá quan hệ với Việt Nam.
tháng 12 năm 2009, Tổng thống Mỹ G. Bush tuyên bố cho phép các Công ty của
Mỹ được lập văn phòng và ký các hợp đồng kinh tế ở Việt Nam sau khi Mỹ xóa
bỏ lệnh cấm vận.
Trong thời gian này, hai bên tiếp tục tiến hành lộ trình bình thường hóa ở
cấp độ khác nhau. Mỹ lần lượt bãi bỏ các lệnh cấm vận với Việt Nam cho phép
các Công ty tiến hành đầu tư, tài trợ. Bên cạnh đó nhiều phái đoàn nghị sĩ,
thương nhân và những cựu chiến binh Mỹ sang thăm Việt Nam, tìm hiểu và tạo
cơ hội làm ăn ở Việt Nam. Trong hai ngày 18 và 19 tháng 4 năm 1993, Đặc phái
viên của Tổng thống B.Clinton J. Vesey tiếp tục tới Việt Nam nhằm trao đổi ý
kiến về cải thiện quan hệ Mỹ Việt. Từ ngày 15 đến 18 tháng 07 năm 1993, phái
đoàn cấp cao của Mỹ gồm 22 thành viên đưa tổng thống Mỹ cử ra sang thăm
Việt Nam. Đây là cấp cao nhất của Mỹ vào Việt Nam kể từ 1975
Các hoạt động ngoại giao sôi động đó đã góp phần thúc đẩy Chính phủ
Mỹ tiến gần hơn việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Ngày 3 tháng 2
năm 1994, Tổng thống Mĩ B. Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận chống Việt
Nam và đề nghị hai nước trao đổi cơ quan liên lạc. Sự kiện này đánh dấu chấm
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
cuộc bao vây cấm vận Việt Nam suốt 20 năm của Mĩ và mở đường cho hai nước
tiến đến chỗ thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Sự kiện đó đã khai thông
quan hệ của Việt Nam với các tổ chức tiền tệ lớn trên thế giới, nó tạo điều kiện
dễ dàng cho quan hệ Việt Nam với các tổ chức này.
Vào 11/7/1995, Tổng thống Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ
Việt - Mỹ.
Vì vậy chính phủ và nhân dân Việt Nam rất hoan nghênh quyết định của
Tổng thống Mỹ B.Cliton. Sẵn sàng cùng chính phủ Hoa Kỳ bàn về một khuôn
khổ mới cho quan hệ 2 nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng, độc lập, chủ quyền,
không can thiệp vào công cuộc nội bộ của nhau, cùng có lợi và phù hợp với
nguyên tắc quốc tế.
Những quan hệ đó phục vụ những mục đích chính đáng của nhân dân 2
Đến năm 1972, ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên vẫn hoạt
động riêng rẽ, chủ yếu là hợp tác song phương, sự giao lưu giữa các nước còn
chưa được mở rộng.
Tháng 2 năm 1972, tại Bali (Inđônêxia) các nước ASEAN đã tham gia
hiệp ước Bali. Hội nghị đã thông qua những nguyên tắc hoạt động và những
điều khoản quan trọng trong mối quan hệ các nước. Từ đó đến nay, ASEAN
luôn hoạt động tích cực và đạt được nhiều thành tựu lớn.
Trong lúc đó, tình hình thế giới và tình hình trong khu vực có những
chuyển biến nhanh chóng. Trên thế giới, cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu năm
1973 đã tác động đến nền kinh tế toàn cầu. Các nước đều phải tiến hành công
cuộc điều chỉnh để phù hợp với tình hình hiện tại, đề cao mục tiêu phát triển
kinh tế lên hàng đầu.
Ở Đông Dương, Mỹ đã phải rút quân, Việt Nam, Lào, Campuchia được
giải phóng, quan hệ giữa 3 nước Đông Dương ngày càng khăng khít. Như vậy ở
Đông Nam Á đã hình thành 2 nhóm nước đó là những nước ASEAN và ba nước
Đông Dương. Sau khi được giải phóng, Việt Nam và ASEAN đã có bước quan
hệ với nhau, có nhiều chính sách đẩy mạnh quan hệ giữa 2 nhóm nước.
Đề tài : Những hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ 1986 đến nay
Tuy nhiên từ cuối những năm 70 đến đầu những năm 80 của thế kỷ 20,
quan hệ giữa nhóm ASEAN và Đông Dương đã trở nên căng thẳng do vấn đề
chiến tranh ở Việt Nam và Chế độ diệt chủng: Pônpôt-Iêng Xari. đây là vấn đề
chi phối rất lớn đến những hoạt động đối của Việt Nam.
Sau khi giải quyết vấn đề Đông Dương, Việt Nam trở lại mối quan hệ hữu
nghị với ASEAN, từng bước đặt mối quan hệ hợp tác, giữa 2 bên đã có nhiều
cuộc gặp cấp cao.
Đầu những năm 1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố: “Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị với các
nước ASEAN và các nước trong khu vực”.
Tháng 2 năm 1989 cùng với Lào, Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tham gia
Mấy tháng sau khi ra nhập ASEAN, Việt Nam đã tham gia vào hội nghị cấp
cao ASEAN lần thứ 5 từ ngày 14 đến 15-12-1995. Hội nghị có sự tham gia của các
vị đứng đầu của các nước Bruney, Indônêxia, Malayxia, Philippin, Singapore, Thái
Lan, Việt Nam ngoài ra còn có Thủ tướng Myanma, Lào, Campuchia. Hội nghị
diễn ra nhiều quyết định quan trọng trong đó có 6 điểm chính:
1. ASEAN sẽ phấn đấu nhanh chóng thực hiện một ASEAN bao gồm tất
cả các nước Đông Nam Á khi bước vào thế kỷ XXI.
2. ASEAN sẽ tiến hành các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường hơn bản
sắc, tinh thần và ý thức cộng đồng ASEAN thông qua sự tham gia ngày càng
rộng rãi của công dân ASEAN.
3. ASEAN sẽ đưa hợp tác chuyên ngành lên một tầm cao mới để đem lại
phồn vinh chung cho tất cả các quốc gia thành viên của mình.
4. ASEAN sẽ phấn đấu tiến tới hội nhập kinh tế to lớn thông qua các việc
phát huy các hoạt động hợp tác kinh tế hiện có, xúc tiến hợp tác trên lĩnh vực
mới và thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn tại các diễn đàn quốc tế.
5. ASEAN sẽ thực hiện các biện pháp để tăng cường hơn nữa sức mạnh
tự cường quốc gia và khu vực về chính trị, kinh tế, xã hội, nhân đạo và các lĩnh
vực khác.