ROBOT
Một “giống loài” mới đang xuất hiện tại các phòng thí nghiệm: Những
người máy được cài đặt chương trình điều khiển tự động. Chương
trình này hoạt động theo các quy luật của quá trình chọn lọc tự nhiên.
Hiện nay, ngoài việc bắt chước cấu trúc của bộ não và hình dáng của
con người để chế tạo người máy, các phòng thí nghiệm đang nghiên
cứu một khái niệm mới mang tính sáng tạo triệt để, đó là làm thế nào
để chế tạo ra một “loài sinh vật” mới - loài người máy biết suy nghĩ
theo hướng tiến hóa để đáp ứng tối ưu nhất với quá trình chọn lọc tự
nhiên theo học thuyế của Darwin. Một vài nhà khoa học đã gọi “loài”
mới này là Robot sapiens, người máy khôn ngoan.
Hình dạng của... robot khôn ngoan
Trong tương lai, người máy khôn ngoan có thể sẽ có hình dạng giống
một con người, và không loại trừ chúng sẽ giống một con cua, một
con cá, hoặc thậm chí giống... một chiếc xe hơi. Nói chung chúng sẽ
có cấu tạo theo bất kỳ hình dạng nào miễn là đáp ứng được tối ưu
các nhu cầu và chức năng của chúng, và theo yêu cầu của con
người. Song trên hết là thế hệ người máy này sẽ được trang bị các bộ
phận cảm nhận về thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác và
các cơ quan vận động như các chi hoặc các bánh xe, nhằm thích
nghi được với “môi trường sống” của chúng và thực hiện được nhiều
chức năng phức tạp. Người máy khôn ngoan này sẽ biết tiếp xúc với
con người và cả “đồng loại” của chúng để trao đổi thông tin, giúp đỡ
lẫn nhau, giải quyết các xung đột, thương thảo các vấn đề và thậm
chí sẽ thiết lập ra cho riêng chúng một “nền văn hóa mang bản sắc
người máy”, một ngôn ngữ riêng cho chúng, những sắc thái mà người
chế tạo ra chúng không hề cài đặt trước và không hề can thiệp sau
này!
Lausanne (Thụy Sĩ) đã thí nghiệm trên thực tế kịch bản như trên với
hai robot nhỏ có đường kính 5cm. “Kẻ săn mồi” có một caméra trên
trán, còn “con mồi” có gắn một thiết bị cảm nhận và có thể chạy
nhanh hơn “kẻ thù” của mình gấp hai lần. Nếu như “kẻ săn mồi” tóm
được “con mồi” trong khoảng thời gian dưới 3 phút thì chương trình vi
tính hóa của nó sẽ lưu lại chiến thuật này. Còn nếu như quá khoảng
thời gian trên mà thất bại thì “kẻ săn mồi” phải tự “lập trình” lại chiến
thuật của mình. Sau 3 ngày săn đuổi và với nhiều chiến thuật khác
nhau, “con mồi” đã tự thích nghi được với một chiến thuật thoát thân
hiệu quả trong một không gian giới hạn cho phép. Trong khi “kẻ săn
mồi”, với hình thù một con nhện, đã học được cách di chuyển lùi để
chờ đợi, khi con mồi di chuyển đến đúng “tầm tay” của mình thì bị
chộp lấy. Vậy là hai robot trên đã tự thích nghi được với nhu cầu của
bản thân bằng cách thay đổi cách thức di chuyển, vận tốc di chuyển
v.v... Chuyên gia Dario Floreano giải thích: “Trong tình huống này,
con người có lẽ sẽ hành động tệ hơn vì người có cách lập luận theo
kiểu người, còn máy sẽ lập luận theo kiểu riêng của máy và nó nhận
biết tốt hơn người cái mà nó cần. Nó sẽ có một sự liên kết riêng của
nó với “tư cách” là một robot”. Chính với cách “lập luận” đó mà một
robot 6 chân do AnimatLab chế tạo đã biết di chuyển sao cho phù
hợp với cách di chuyển của “con mồi” 3 chân của mình để tóm kịp nó.
Tương tự, một Babybot của Lira-Lab (Đại học Genes, Italia) đã tự
điều chỉnh khả năng thị giác của mình để thích nghi được với khung
cảnh thực tiễn.
Thuật toán tiến hóa giúp robot biết suy đoán.
Đây là khả năng suy đoán tuyệt vời của các robot này? Đó chính là
nhờ vào những “thuật toán tiến hóa” được cài đặt vào “cơ thể” của
chúng. Nói rõ hơn đây là những chương trình phần mềm có khả năng
túy là kỹ thuật mà đã mang tính xã hội”.
Con người còn bắt tay vào việc chế tạo ra những robot biết cảm xúc
nhằm tự mình hoàn thiện khả năng thích nghi và vận động của
chúng. Ví dụ như chúng biết sợ hãi khi bị đe dọa.
Bước đầu sẽ là một robot có các chức năng thị giác, vận động và lựa
chọn hành động theo kiểu mẫu của một con chuột. Tác giả đề tài này
là chuyên gia Jean-Arcady Meyer giải thích: “Robot này được đặt tên
là Psikharpax. Nó sẽ phải đối mặt với một môi trường sống lạ lẫm và
phải biết tự mình xoay xở để sống còn mà không có sự giúp đỡ của
con người. Các bạn hãy chờ xem Psikharpax “sống” ra sao”.
Khả năng của trí thông minh nhân tạo
Các chuyên gia vẫn thích cách định nghĩa đơn giản của cụm từ này
do nhà toán học Alan Turing phát biểu: “Gọi một cái máy là thông
minh khi nó biết lừa phỉnh và biết tỏ ra thông minh khi nó biết lừa
phỉnh dưới mắt chúng ta. “Nói cách khác, nếu như khi đứng sau một
bức màn ngăn cách mà bạn không thể phân biệt được đó là một
người hay một cái máy đang nói thì có nghĩa là người đối thoại với
bạn thông minh. Đây là một cách nói đơn giản không tạo ra một cảm
giác “quá triết lý” về khái niệm thông minh của máy. Chính thức mà
nói, “trí thông minh nhân tạo” được khai sinh ra như một ngành học
vào năm 1956, theo ý tưởng của John McCarthy, Alan Newell,
Herbert Simon và một vài người khác.
Chính giới quân sự đã tài trợ cho những dự án đầu tiên về “trí thông
minh nhân tạo”, đó là những máy dịch tự động phục vụ cho các cơ
quan phản gián Mỹ. Nhưng những máy này dịch hoàn toàn sai ngữ
và một bộ phận cảm nhận, Babybot có khả năng phát triển các phản
xạ của một đứa trẻ sơ sinh. ”Bộ não” của Babybot là một hệ thống
của neuron nhân tạo có chức năng kết nối giữa bộ phận cảm nhận và
điều khiển vận động. Các thuật toán tiến hóa sẽ kiểm tra rồi sau đó
chọn lựa những kết nối tối ưu nhất. Trong quá trình thử nghiệm, đầu
tiên Babybot sẽ phải nắm bắt một đồ vật: nó phải thấy mục tiêu, xác
định vị trí của mục tiêu và giương cánh tay về hướng mục tiêu đó để
nắm lấy. Vấn đề là nếu như Babybot không thấy rõ mục tiêu thì sao?
Nếu như hai mắt của nó tỏ ra “mờ” khi nó di chuyển hay quay đầu thì
sao? Bằng cách nào để Babybot luôn thấy rõ mục tiêu? Các chuyên
gia hy vọng rằng nó sẽ biết tự xoay xở và họ đã để nó tự lo liệu. Và
thật kỳ lạ là nó đã học được cách duy trì một cái nhìn cố định lên mục
tiêu bằng cách giữ cho phần trung tâm của mắt cố định vào hướng
mục tiêu, ngay cả khi “cơ thể” nó chuyển động. Đây cũng chính là
phản xạ nhìn mà đứa bé được và tự hoàn thiện trong những tháng
đầu đời.
Robot của Nhật biết đối đáp với người.
Đó là Wabian - một chú bé robot rất dễ thương. Robot này có mắt, tai
và miệng. Nó biết vui, buồn và biết cả được mùi bia rượu, song nó
vẫn còn phải phụ thuộc rất nhiều vào người “cha” của nó là Atsuo
Takanishi. Cao 1,80 mét, nặng 130 kg, Wabian được “sinh ra” tại Đại
học Waseda (Nhật Bản) và là biểu tượng của một kiểu mẫu về trí
thông minh nhân tạo mang tính cách Nhật. Khẩu hiệu hành động của
Wabian là “đối đáp với con người”. Giám đốc Atsuo Takanishi của
Takanishi Laboratory và cũng chính là “cha đẻ” của Wabian giải
thích: “Mục đích của chúng tôi là tạo ra một robot có khả năng trở
thành một cộng sự đắc lực của con người. Và để làm được điều này,
robot này phải có hình dáng giống chúng ta”.
Nhưng Giáo sư Jean Gabriel Ganasscia chuyên về ngành khoa học
nhận thức thuộc Đại học Paris VI thì nhận xét: “Đó chỉ là ảo tưởng
mà thôi. Chúng ta đang sống trong giấc mơ về một con rối biết nói,
như chú bé người gỗ Pinocchio”. Chuyên gia Agnès Guillot thuộc
AnimatLab cho rằng: “Robot P3 của hãng Honda biết bước xuống
cầu thang và đến bắt tay bạn như thể nó là một người thật. Nhưng
trên thực tế, nó hoàn toàn được lập trình trước để làm điều đó. Nó
không thể học hỏi được gì thêm nữa. Một vài robot khác rất gây ấn
tượng khi chúng ta nhìn những động tác của chúng nhưng chúng
không thể có một thay đổi nào khác trong cách “ứng xử”, thậm chí
một vẻ mặt khác. Có robot thì hoàn toàn được điều khiển từ xa. Chỉ
có vậy thôi”.
Người Mỹ đang có kế hoạch sáng chế ra những robot biết giao tiếp
tình cảm với chúng ta. Trong tương lai, chúng có thể là một người
bạn, người tình hay một đứa bé. Với trình độ công nghệ phát triển
như hiện nay, có thể chúng ta sẽ tạo ra được một thực thể có khả
năng giao tiếp tình cảm mạnh mẽ với con người chứ không lạnh lùng
và cứng nhắc như một BioMan của người Nhật. Điển hình là một
Kismet dịu dàng được “sinh ra” tại Phòng thí nghiệm về trí thông minh
nhân tạo thuộc Viện công nghệ Massachussetts (MIT, Hoa Kỳ).
Kismet biết chớp mắt khi bạn cười với nó, nghĩa là nó “hiểu” và biết
đáp lại những động tác và cử chỉ của người đối diện. Và đi xa hơn
nữa, các robot sẽ có thể học được cách tái hiện tại, tức là bắt chước,
những biểu đạt và những cử chỉ của chúng ta khi chúng nhìn chúng
ta. Đó chính là đề tài nghiên cứu của Giorgio Metta, cũng tại MIT,
trên một “nhân vật” nổi tiếng là Cog. Giorgio Metta cho biết: “Robot
chỉ có thể bắt chước được vật thể nào đó một khi nó hình dạng giống
như vật thể đó mà nó quan sát được. Do đó, để đạt được mục đích,
robot phải có hình dáng của một con người như chúng ta”. Ý tưởng
Vị quan thành thật trả lời : "Các bà đẹp lắm, có điều răng
các bà giống như răng chó !"
(1)
. Ý ông muốn nói răng các
bà quá trắng. Lẽ tất nhiên, viên sĩ quan Pháp rất ngạc nhiên
nhưng ông ta không hiểu đuợc một người Việt hồi đó không
thể hình dung một người đẹp mà không có hàm răng đen
lánh đã được hằng bao thế hệ văn, thi, họa sĩ ca tụng. Nhớ hàng tre thẳng đọt măng
Nhớ cô con gái hàm răng đen huyền
Phong tục nhuộm răng, xâm
mình khởi đầu từ thuở thượng
cổ xa xăm, truyền thuyết đặt
vào thời đại Hùng Vương. Nếu
thói xăm mình về sau được bỏ,
tục nhuộm răng thành công
tồn tại qua nhiều thời buổi,
ngay cả lúc quân đô hộ Trung
Quốc bắt dân ta bãi bỏ. Nhưng
tục nhuộm răng cũng như tục
búi tóc không chống cự lại
đuợc ảnh hưởng Tây phương
và chỉ hơn một nửa thế kỷ là
dần dần các cụ chịu cắt tóc,
các bà cạo răng trắng
(3)
.
bún trộn mỡ heo hay ăn cháo và trái chua, uống nước nóng.
Kỹ thuật nhuộm răng
nhiều đợt
Nhuộm răng có nhiều
phương pháp, tùy theo từng
vùng. Ở miền Trung, nhất là
ở Huế, nơi có nhiều vua
chúa, quan lại, ăn chơi lịch
sự, liều thuốc rất nhiều, lắm
khi gia truyền cần giữ bí
mật
(2)
. Nói giản tiện,
thường răng đuợc nhuộm
làm hai đợt. Đợt đầu xem
như là lớp sơn lót, nhuộm
với một hỗn hợp cánh kiến,
nước chanh vắt, rượu trắng,
cho nấu thành hồ, phết lên
lá chuối hay lá dừa, lá cau,
có khi lên vải thô hay lụa,
rồi cho áp vào răng, nhiều
lần trong một đêm, cho đến
lúc răng nhuốm màu cánh gián, giữa đỏ và nâu đậm như
màu cánh con gián. Sáng hôm sau phải cẩn thận lột lá hay
vải ra, súc miệng với nước mắm hảo hạng hay nước dưa
chua để loại trừ mọi căn bả. Bây giờ có thể qua đợt thứ nhì,
nhuộm với một hỗn hợp hắc phàn, thanh phàn, bầu bí, lựu
bì, quế chỉ, đại hồi, đinh hương được nấu nóng, trộn với gạo
catechu L., chữa giun sán, viêm ruột lỵ), tế tân (cây Asarum
sieboldii Miq., chữa đau răng, cảm lạnh), bạch chỉ (rễ cây
Angelica dahurica Benth. et Hook., chữa lở mồm, hôi
miệng), nhũ hương (nhựa cây Pisticia lenticus L., chữa đau
sưng, tiêu nhọt), sinh địa (thân rễ cây Rehmannia glutinosa
(Gaertn.) Lobosh, chữa đau răng, chóng mặt, ho khan, bệnh
lao), tế tân (trái cây Tribulus terrestris L., chữa đau mắt,
kinh nguyệt không đều), một dược (nhựa cây Commiphora
momol Engler, thuốc điều kinh, giảm đau, tiêu thủy), đương
qui (cây Angelica sinensis (Oliv.) Diels, chữa thiếu máu, cơ
thể suy nhược), đại hồi (trái cây Illicium verum Hook., thuốc
trung tiện, giúp tiêu hóa), ngoài tính chất dược liệu, là
những chất thơm cống hiến hương vị cho liều thuốc nhuộm.
Được bảo vệ cẩn thận, răng nhuộm có thể tồn tại mươi, hai
mươi năm, màu đen huyền luôn lóng lánh giữa hai đôi môi,
không thì những lớp sơn tróc ra, những vết vàng lạt hiện lên
răng gọi là răng cải mả, phải nhuộm lại. Trái lại, từ răng đen
muốn trở lại trắng cũng không phải dễ vì những phương
pháp dùng acid mạnh hay mài răng đều không thích hợp, có
thể làm hư răng.
Ngày nay người trẻ tuổi khó lòng cảm xúc trước một nụ cười
với hai hàm răng đen. Nhưng nhuộm răng không phải chỉ là
một vấn đề mỹ quan mà còn có một lý do thực dụng : từ lâu
người ta đã nhận thấy răng nhuộm đen ít bị sâu răng. Vì vậy
có vài luận án nha y quan tâm đến đề tài nhuộm răng. Ngoài
công trình của nha sĩ Vũ Ngọc Huỳnh ở Hà Nội
(4)
, trong số
những luận án tồn trữ ở Trường Đại học Nha y Paris, phần
lớn các tác giả cốt yếu chú trọng đến phong cách, tập quán
nửa hemiptere tí hon (0,60-0,70mm) sống ký sinh từng tập
đoàn từ 80-100 con (ở Việt Nam trung bình 170 con) trên
thân, cành nhiều loại cây ở Đông Nam Á. Con sâu nầy tùy
tác giả được gọi Tachardia lacca R. Bld., Carteria lacca Sign.
hay Coccus laccae Kerr, trước khi mang tên thông dụng
ngày nay Laccifer lacca Kerr, thuộc họ Sâu cánh kiến
Lacciferidae Cockerell. Tachardia, Carteria từ Tachard
(1709), Carter (1861) là tên những nhà khoa học đã khảo
cứu và miêu tả nhựa sâu như Kerr (1781), Roxbary (1796).
Lacci nguồn gốc từ tiếng Ấn Độ lakh hay Phạn tự laksha
nghĩa là trăm ngàn vì số lượng sâu trên cây nhiều vô kể, từ
đấy phát xuất những danh từ Âu Mỹ lak, lac, laque.
Sâu chọn làm giống được buộc vào cây, có thể cho vào sọt
tre nhỏ hay túi lưới rồi mắc lên cành, ở chỗ phân nhánh để
sâu bò sang nhiều cành. Sâu hút nhựa cây mà sống, trưởng
thành lớn lên thành bọ mới phân hóa đực, cái. Cả hai loại
(hai phần ba là cái) cùng nhau làm tổ trong vỏ cành cây, tổ
loại đực hình thoi, mỏng và nhỏ, tổ loại cái hình tròn, lớn
hơn. Bọ đực thoát xác, mọc chân, mọc cánh, có thể di động
được để đến với bọ cái. Trong lúc đó bọ cái nằm yên trong
tổ, chỉ lòi bộ phận sinh dục ra ngoài để giao cấu. Làm xong
nhiệm vụ, bọ đực kiệt lức chết đi, hy sinh cho giống nòi. Bọ
cái có chửa, phồng lớn, cho phát tiết sắc tố và và sáp, nhựa
để nuôi nấng và bảo vệ bầy con sắp đẻ. Mỗi bọ cái có thể
mang đến một ngàn trứng (ở Việt Nam, trung bình từ ba đến
bốn trăm trứng) hình bầu dục nhỏ, dài, chen lấn trong một
túi dung dịch nhuộm màu đỏ son rất đẹp. Ấu trùng từ trứng
nở ra, ăn sắc tố mà lớn lên làm dung dịch đặc lại, khô dần.
Oái ăm thay, sâu càng trưởng thành thì tổ mẹ càng chật ra,
bọ cái dần dần bị ngạt chết, cũng hy sinh cho giống nòi như
Pterocarya tonkinensis Dode, ba chế Desmodium cephalotes
Wall., hay một số cây ăn quả như vải Litchi sinensis Radk.,
táo Ziziphus mauritiana Lamk., nhãn Euphoria longan
(Lour.) Steud.,… Nhựa sơn bên ta tùy theo địa phương được
gọi cánh kiến (hay cánh kiến đỏ), cành kiến, kiền kiến,… nên
có sự ngộ nhận : có người cho là cánh con kiến, có người
hiểu là cành cây kiến, có người lại tưởng là thân con sâu
kiền kiến hay kiến vương,…
Thành phần cấu tạo nhựa sơn
Ngày nay trên thị trường người ta phân biệt ba loại nhựa
sơn : nhựa thô lấy từ thân, cành cây ra còn chứa tạp chất
như vỏ cây, lá cây, sâu non, xác bọ, đậm màu, gọi là
sticklac tức là nhựa thỏi. Dùng nước chiết xuất để đào thải
sắc tố, đem phơi khô, giã nát rồi rửa lọc các tạp chất thì
được nhựa màu đỏ vàng, còn chứa chút ít sáp, gọi là seedlac
tức là nhựa hột. Lại tiếp tục rửa nước, làm ròng, lọc sạch, có
khi tẩy trắng với một dung dịch alcali hypochlorit
(11)
thì
nhựa tinh khiết màu vàng lạt mang tên shellac tức là nhựa
vẩy. Làm lớp sơn lót trong giai đoạn nhuộm thứ nhất, nhựa
sơn đóng vai trò chủ chốt vì trực tiếp kết dính men răng. Tuy
được chú ý từ những thế kỷ 18, 19, nhựa sơn chỉ bắt đầu
được khảo cứu tường tận từ đầu thế kỷ 20 rồi bật tung vào
những thập niên 70, 80. Chính vào những năm nầy mà nảy
nở những luận án nha y đề cập đến vấn đề dùng nhựa sơn
để nhuộm răng
(4-7)
(18c)
, laccishellolic
(18c)
, epilaccishellolic
(18c)
,
laccilaksholic
(18d)
và epilaccilaksholic
(18d)
acid cùng 18 amin
acid
(22)
. Nếu những tên shellolic, lacksholic, laccishellolic,
laccilaksholic acid dĩ nhiên từ shellac, lakh mà ra, những tên
butolic, jalaric acid lấy gốc từ những tên cây trú sâu Butea
monosperma Lamk., jalari Shorea talura Roxb. Hai aleuric và
butolic acid là những phân tử dài, mở, những acid khác đều
là những dẫn xuất của một vòng terpen. Bên cạnh các acid
nầy, nhóm Gardner
(12)
còn chiết xuất ra được những kerrolic
acid
(12d)
, laccolic lacton
(12cd)
, periolic acid
(12c)
.
(17)
. Theo đông y, nhựa sơn có tác
dụng làm thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, cầm máu, đậu
chẩn, tuy vậy ít được dùng làm thuốc. Sách xưa có nói đến
chống thổ tả, trừ nôn mửa, tiêu chảy. Shellac phát triển
nhiều hơn trong mặt kỹ nghệ. Được nói nhiều nhất là
nguyên liệu để làm dĩa hát, bắt đầu với những dĩa 78 vòng
mà phần lớn chúng ta đều biết cách đây một nửa thế kỷ,
ngày nay khó chóng chỏi với nhựa nhân tạo. Nhựa sơn là
một chất chịu acid, cách điện, chống tia cực tím, còn được
dùng để làm vec ni, mực in, thuốc xức tóc, khuôn răng giả,
bao chống ẩm, tô nón nỉ, đánh bóng sàn nhà, đồ gỗ, tre,
vải, da,… (*)
Ngày nay, nha y dùng nhiều nhựa nhân tạo để lấp bít các lỗ
hổng trong răng. Những nha sĩ tôi gặp không có ai chịu
hưóng về nhựa sơn dù là một hóa chất thiên nhiên có nhiều
tính chất tốt về sức kết dính, độ thấm nước (rất cần để xử lý
trong miệng luôn có nước miếng), thêm vào một kích thước
khá nhỏ để dành chỗ các enzym, vi khuẩn có thể làm hư
răng. Ngành nha y ta có nên chăng tiếp tục khảo cứu
(4,5)
để
dùng trong công cuộc phòng ngừa bệnh sâu răng ? Nhựa sơn
tẩy trằng có thể là một thuốc nhuộm răng trắng, bảo vệ
men răng.
Trích Thông tin Khoa học và Công nghệ (4) (1997) 61-66
(có sữa chữa và bổ túc tài liệu)
Pierre Bayen thí
nghiệm khi đốt oxyd
thủy ngân (đá vôi
thủy ngân, (chaux
mercurielle ou mercure précipité per se), sẽ tỏa ra một chất
khí và khối lượng bị mất. Ông hứng khí đó và ghi nhận rằng
nó hơi đặc hơn không khí. Bayen cho rằng công bố quan sát
này không ích lợi gì , ông muốn thực hiện những thí
nghiệm tỉ mỉ hơn, cẩn thận hơn mà không xem xét chất khí
thoát ra đó. Có phải ông cho rằng chất khí đó bình thường
như mọi chất khác?
Ngày 1 tháng 8 1774, Joseph Priestley làm thí nghiệm y
hệt như Pierre Bayen tại khà ông gần Calne, Anh quốc. Ông
thu được cùng chất khí trên và đặt tên là khí để đốt (air
déphlogistiqué). Ông còn nhận thấy rằng chất khí này khi hít
vô sẽ cảm thấy khoẻ và cây cối có thể làm tái sinh một phần
chất khí mà chuột và ngọn lửa thải ra. Từ các thí nghiệm
trên, ông kết luận trên là không khí quanh ta gồm hai hợp
chất, một chất làm hoạt động sự đốt và một cặn bã.
Nói về chất khí này, ông viết: "cái làm cho tôi ngạc nhiên
nhất là đèn cầy cháy bằng chất khí này có độ sáng rất
mãnh liệt..." Ông cũng diễn tả một cách tỉ mỉ các thí
nghiệm của ông và cho in ra các kết quả. Nhân dịp bữa ăn
tối, khi Priestley được mời qua Pháp tháng 10 năm 1774 thì
Lavoisier mới biết được sự khám phá ra chất khí đặc biệt
mà ông gọi là "khí để hô hấp tốt hết sức" (air éminemment
respirable)
Lavoisier biết các công trình của Bayen nhưng cũng như
Bayen, không để ý độ quan trọng của chất khí này. Sự gặp
gỡ với Priestley là một phát hiện mới đối với Lavoisier: ông
Phân loại: không kim loại
Cơ cấu tinh thể: khối lập phương
Tỷ trọng ở 293 K: 1.429 g/cm
3
Màu: không màu
Oxygen tượng trưng cho :
21% thể tích khí quyển
Nửa trọng lượng lớp vỏ địa cầu
88,8 % trọng lượng nước
23,2 % không khí (75,6 % nitrogen)
62,5 % cơ thể con người và cho tới 88 % ở một số sinh vật ở
biển
Có thể sống sót lâu với không khí chứa 14 % oxygen, rối
loạn quan trọng ở 7 % và nghẹt thở ở 3 %
Oxygen, nguyên tố cần thiết cho đời sống
Là nguyên tố phổ biến, dồi dào nhất của vỏ trái đất trong số
đó có đất đá và sông biển với khí quyển. Nó tượng trưng cho
49,5% của khối lượng vỏ quả đất (53,3% tính theo số
nguyên tử), đứng trước quá xa so với silicium (25,7% tính
theo khối lượng). Trong không khí oxygen ở dưới dạng
phân tử có hai nguyên tử oxygen (O
2
). Kết hợp với
hydrogen, cho ra nước H
2
O
Trong đất đá, nó có trong các khoáng chất có oxygen
(oxyd, hydroxyd, silicat, carbonat, sulfat, phosphat..)
Nơi các sinh vật, oxygen ở dưới dạng phân tử hữu cơ có