1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực (NNL) là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần
của con người được huy động vào quá trình lao động và là một yếu tố đầu vào
không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của một doanh
nghiệp cũng như của một nền kinh tế. Trong những năm gần đây, dưới tác
động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ (KH & CN) và xu
hướng toàn cầu hoá, mức độ cạnh tranh trong nước và trên trường quốc tế
theo đó cũng diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn. Để tồn tại và phát
triển, các chủ thể kinh tế dù là chủ doanh nghiệp hay chính phủ, cũng đều
phải cố gắng tìm ra lợi thế cạnh tranh cho mình. Quyết định lợi thế cạnh tranh
không còn là các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên như trước kia, mà đã được
dịch chuyển sang KH & CN mà trụ cột là nhân tố con người. Nó được thể
hiện trong hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của
một doanh nghiệp và một quốc gia. Cạnh tranh trong việc thu hút, sử dụng
nhân lực (NL) có chuyên môn kỹ thuật (CMKT) đã trở thành vấn đề “sống
còn” đối với sự phát triển trong một thế giới năng động hiện nay.
Ở Việt Nam, kể từ khi Đổi mới (năm 1986), Đảng và Nhà nước đã
nhận thức ngày càng rõ hơn tầm quan trọng của NL có CMKT không chỉ đối
với nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế
mà còn đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất
nước để có định hướng và giải pháp phát triển, với mục tiêu phấn đấu đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và
đến giữa thế kỷ XXI trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định
hướng XHCN” [28, tr.70, 106], Đại hội đại biểu toàn toàn quốc lần thứ XI
của Đảng khẳng định: “Phát triển và nâng cao chất lượng NNL, nhất là NL
chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát
2
triển và ứng dụng KH, CN, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh,
quá nhiều, nhưng trình độ học vấn chung lại rất kém với con số 12,2% lực
lượng lao động chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học. Lao động có trình độ
sơ cấp nghề, trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp còn chiếm một lượng
khá thấp với tỷ lệ tương ứng là 5,2%/5,3%/5,1%. Tỷ lệ này cho thấy NL có
CMKT chưa đáp ứng được nhu cầu CNH, HĐH của tỉnh. Tình trạng vừa thừa,
vừa thiếu lao động đang cùng tồn tại trên địa bàn. Dù nhà nước và chính quyền
cấp tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ và thúc đẩy công tác giáo dục và đào tạo
nghề trong thời gian qua, nhưng chất lượng lực lượng lao động trong tỉnh vẫn
chậm cải thiện. Năm 2010, trong tổng số lao động của toàn tỉnh, tỷ lệ tốt
nghiệp tiểu học trở xuống chiếm đến 44,8% (cả nước 39,4%), tỷ lệ tốt nghiệp
phổ thông trung học chỉ chiếm 26,8% [108, tr 56]. Thực tế, nhiều người lao
động tỉnh Hoà Bình đã bỏ qua cơ hội làm việc vì chưa tốt nghiệp phổ thông
trung học và cũng không đủ điều kiện để được đi xuất khẩu lao động.
Thực tế ở tỉnh Hoà Bình cho thấy, quy mô, chất lượng NL có CMKT
hiện nay thấp và cơ cấu bất hợp lý chính là một trong những nhân tố chủ yếu
cản chở tốc độ và chất lượng hoạt động kinh tế, xã hội, làm cho CNH, HĐH
của tỉnh vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Đời sống của người dân, nhất
là ở các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt khó khăn, chênh lệch thu nhập giữa
các tầng lớp dân cư khu vực thành thị gấp 6 lần so với khu vực nông thôn…
Đây là một vấn đề bức thiết, cần có sự phân tích sâu sắc lý luận, thực tiễn để
tìm lời giải cho sự phát triển.
Để góp phần vào lời giải cho vấn đề này, để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn
với phát triển kinh tế tri thức, phấn đấu đưa tỉnh Hoà Bình cơ bản thoát khỏi
4
tỉnh nghèo và trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020, tôi lựa chọn đề tài:
“Nhân lự c có chuyên môn kỹ thuậ t cho công nghiệ p hóa, hiệ n đạ i hóa ở
tỉ nh Hoà Bình” để nghiên cứu làm luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị tại Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mụ c đích nghiên cứ u
trình độ đại học và trên đại học về các mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp
ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH dưới góc độ kinh tế chính trị học.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình còn có những người được kèm
nghề, truyền nghề theo lối cổ xưa, những người được đào tạo thường xuyên
thông qua các doanh nghiệp, hộ sản xuất cá thể, làng nghề nhưng không có
chứng chỉ. Việc khảo sát thống kê về trình độ CMKT của đối tượng này là
phức tạp, cần rất nhiều thời gian. Nghiên cứu sinh chưa thể đưa vào nghiên
cứu đối tượng này trong phạm vi đề tài luận án.
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực tế, phân tích, đánh giá thực
trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển NL có CMKT bảo đảm
cho CNH, HĐH ở tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi về thời gian: Từ khi thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh
CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức (năm 2006) đến hết năm 2013.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Cơ sở lý luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên quan điểm tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh
và đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà Nước ta về phát triển NL
trong sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.
6
- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, nghiên
cứu sinh sử dụng các phương pháp sau: trừu tượng hóa KH; thống kê, phân
tích, tổng hợp; phương pháp so sánh để làm rõ hơn thực trạng NL có CMKT ở
tỉnh Hòa Bình.
Ngoài các phương pháp trên, nghiên cứu sinh tiến hành thu thập tài liệu
bao gồm các văn bản pháp luật, các số liệu trong niên giám thống kê của
trung ương và địa phương tỉnh Hòa Bình có liên quan đến đối tượng nghiên
cứu của đề tài; thu thập nguồn thông tin từ các đề án, báo cáo, bài viết trên
các phương tiện thông tin chính thức. Đây là nguồn dữ liệu thứ cấp rất cần
thiết trong quá trình nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm về NL có CMKT cho
CNH, HĐH ở tỉnh miền núi Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng NL có CMKT cho CNH, HĐH ở tỉnh Hoà Bình.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp phát triển NL có CMKT bảo
đảm cho CNH, HĐH ở tỉnh Hòa Bình đến năm 2020.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CU NC NGOÀI V NHÂN LC
CÓ CHUYÊN MÔN K THUT CHO CÔNG NGHIP HÓA, HIN I HÓA
Có nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài bàn về chủ đề NL có
CMKT cho CNH, HĐH. Tiếp cận từ nội dung nghiên cứu của các công trình
này, có thể phân chia chúng thành các hướng nghiên cứu sau:
1.1.1. Hướng nghiên cứu về khái niệm, vai trò và yêu cầu phát triển
nhân lực có chuyên môn kỹ thuật cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Hướng nghiên cứu về quan niệm NL có CMKT
Khái niệm NL có CMKT đã được nhận thức từ rất sớm trong kho tàng
tri thức của nhân loại. Nó được khởi phát từ các nhà kinh tế chính trị học cổ
điển Anh thế kỷ XVII-XIX. A. Smith trong cuốn: “The Wealth of Nations”
(Của cải của các dân tộc) viết năm 1776. Khi bàn về các nhân tố ảnh hưởng
đến số lượng giá trị hàng hóa, ông đã phân biệt lao động có CMKT với lao
động giản đơn. Ông gọi lao động có CMKT là lao động phức tạp. Tuy không
nêu định nghĩa lao động có CMKT là gì, nhưng Smith cho rằng lao động có
CMKT có năng suất và hiệu quả cao hơn so với lao động giản đơn. Ví dụ, ông
viết: “Sức lao động bỏ ra trong một giờ lao động khó nhọc, có thể nhiều hơn
sức lao động trong hai giờ làm việc nhẹ nhàng, hoặc làm một giờ trong một
nghề mà phải mất mười năm học tập thì phải tốn sức hơn làm một tháng trong
một nghề bình thường” [78, tr.85, 87, 94].
Trong C.Mác và Ph.Ăngghen, tập 23, tác giả đã phân biệt lao động giản
Cuốn “The principles of political economy and taxation” (Về các
nguyên tắc của kinh tế chính trị và thuế) của David Ricardo (1817) khi nghiên
10
cứu những vấn đề của kinh tế chính trị, xác định có bốn yếu tố căn bản quyết
định việc sản xuất, quyết định mức tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là
đất đai (tài nguyên), lao động, tư bản và máy móc (CN). Đất đai là cố định vì
đã được khai thác hết, còn trình độ phát triển của CN được giả định là không
thay đổi hoặc nếu có thay đổi thì cũng rất chậm chạp. Chỉ có hai yếu tố còn
lại, tư bản và lao động là biến động, vì thế chúng là nhân tố chủ chốt quyết
định khả năng tạo ra của cải của một quốc gia [77, tr.43]. Ông còn cho rằng,
trong một phân xưởng, khi năng suất lao động tăng lên thì khối lượng sản
phẩm sản xuất ra tăng lên, nghĩa là lao động càng thành thạo, thì năng suất
của anh ta càng cao hơn.
Stokey, Nancy; Robert Lucas and Edward Prescott (1989), Recursive
Methods in Economic Dynamics [141]. Cuốn sách bàn về những phương pháp
tạo động lực của kinh tế. Các tác giả của cuốn sách phân chia vốn làm hai loại
gồm: (i) vốn hữu hình, đó là vốn sản xuất (K) như máy móc thiết bị, nhà
xưởng, đường sá, cầu cống và lao động (L) nằm trong phạm vi vốn vật chất
bao gồm số lượng, cơ cấu lực lượng lao động; (ii) vốn NL, chỉ khả năng, kỹ
năng, kiến thức của người lao động được tích lũy thông qua quá trình giáo
dục, đào tạo và lao động sản xuất. Vốn NL được hiểu là NL có kỹ năng, có
CMKT. Vốn NL có vai trò đặc biệt quan trọng trong hàm sản xuất. Từ đó giải
thích, quá trình tích lũy kiến thức, tiến bộ CN trực tiếp thông qua tích lũy
nguồn vốn NL và gián tiếp thông qua nghiên cứu, triển khai và vai trò của
chính phủ trong phát triển vốn NL. Các tác giả của cuốn sách cho rằng, trong
thời đại hiện nay để tăng trưởng kinh tế phải dựa trên ý tưởng và tính sáng
tạo, thay cho tăng trưởng dựa chủ yếu vào thâm dụng vốn, lao động giản đơn
và tài nguyên, bởi trong thế giới hiện đại, ý tưởng và sáng tạo trở thành
nguồn lực vô tận, trong khi tài nguyên, đất đai, vốn đầu tư có giới hạn.
Mario Baldassarri, Luigi Paganeto và Edmun S. Phelps đồng tác giả
- Nghiên cứu về yêu cầu NL có CMKT
+ Rowan Gibson biên tập cuốn “Tư duy lại tương lai” (Thought go
back to Future) (2006), đã đặt yêu cầu cần chuyển từ nhận thức con người có
thể kiểm soát, sắp xếp và dự đoán tương lai sang nhận thức mới dựa trên sự
thay đổi mang tính đứt đoạn. Nếu không thực hiện được yêu cầu đó, thì mỗi
cá nhân, mỗi tổ chức và mỗi quốc gia sẽ thất bại trong hành trình đi tới tương
lai [38, tr.10, 11, 39]
+ Cuốn “Lối tư duy của tương lai” (Future's thought Way) của John
Naisbitt [67] cho rằng thay đổi là trạng thái là phương thức tồn tại. Từ đó giới
thiệu 11 lối tư duy cần hướng tới nhằm điều chỉnh cách nghĩ, dỡ bỏ những
hạn chế mà mỗi người từng có để thích nghi với xã hội tương lai và giúp họ
nhận được nhiều nhất từ thu thập, xử lý thông tin và kinh nghiệm, sáng tạo ra
thế giới tương lai. Naisbitt viết: “Hiểu được sức mạnh của việc việc tạo ra lối
đi riêng” là một sự giải thoát lớn và không thể thiếu trong bất kỳ lĩnh vực nào,
dù là xã hội, công việc hay cuộc sống cá nhân. Đó là lối tư duy giải phóng, lối
tư duy hỗ trợ trí tưởng tượng sáng tạo. Trong mọi lĩnh vực của đời sống, kinh
doanh, lãnh đạo, hoặc chính trị, đó chính là lối tư duy giúp bạn không đi trước
quá xa đến nỗi người khác không liên hệ được với những gì bạn làm hoặc nói.
Để có được lối tư duy như vậy, phải đổi mới giáo dục và đào tạo [65].
- Nghiên cứu về phát triển NL có CMKT
+ Becker (1964) trong một nghiên cứu mang tính chất cổ điển: Human
capital: an Theoretical and empirical analysis, with special reference to
education [130] cho rằng, đầu tư cho giáo dục và đào tạo cho con người là có
ý nghĩa to lớn tương tự đầu tư cho máy móc thiết bị cơ sở hạ tầng. Ông là
người tiên phong trong việc phân tích kinh tế giới thiệu những ý tưởng mới về
vốn NL, bao gồm khả năng sinh nở và tăng trưởng kinh tế, phân công lao
động, bất bình đẳng thu nhập…
13
+ Cuốn: “Education and Development: Measuring the Social Benefits”
(Giáo dục và phát triển: Đo lường các lợi ích xã hội), của Walter W.
“tiểu vũ trụ” này sẽ thu được những điều kỳ diệu về tiềm năng không giới hạn
của con người. Cuốn sách đưa đến một cái nhìn mới mẻ, một CN học tập phát
triển và sử dụng NL trong thời đại cách mạng KH&CN.
Ngoài ra, những năm gần đây trên diễn đàn của các nước trong khu vực
còn xuất bản các cuốn sách bàn về giáo dục và đào tạo nhằm phát triển NL có
CMKT cho nền kinh tế trong giai đoạn CNH, HĐH, đáng chú ý là các cuốn:
“Nhà nước và đổi mới giáo dục ở Singapore: hướng tới sự sáng tạo và đổi
mới” của GS. Gopinathan, Viện Giáo dục Quốc gia Đại học Bách khoa
Nanyang, Nxb Giáo dục (2005); “Giáo dục đại học ở Thái Lan và lộ trình cải
cách quốc gia” của GS. Krissanapong Kirtikara, Trường Đại học CN
Thonburi của Nhà Vua Mongkut Bangkok, Thái Lan, Nxb Giáo dục (2005);
“Thách thức của xã hội tri thức và đổi mới giáo dục đại học Trung Quốc” của
Xie Weihe, Viện Giáo dục Đại học Thanh Hoa, Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa, Nxb Giáo dục (2005)
Những công trình trên đã cho thấy NL có CMKT không chỉ thể hiện ở
trình độ chuyên môn, kỹ năng, tay nghề, mà còn ở cả ở trình độ văn hóa, đạo
đức và truyền thống của các gia đình. Nó không chỉ vai trò đối với tăng
trưởng kinh tế theo chiều rộng, mà còn đặc biệt quan trọng đối với tăng
trưởng kinh tế theo chiều sâu. Phát triển NL có CMKT là cần thiết để công
nghiệp hóa hiện đại hóa trở thành hiện thực.
1.1.2 Hướng nghiên cứu về phân bổ nhân lực có chuyên môn kỹ
thuật cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Số lượng và chất lượng NL không phải là nguồn gốc duy nhất của tăng
trưởng kinh tế và CNH. Một số công trình nghiên cứu còn cho thấy tầm quan
trọng của việc phân bổ NL cho sản xuất của các ngành, lĩnh vực trong nền
kinh tế và trong quan hệ kinh tế với nước ngoài.
15
A. Smith trong cuốn “The Wealth of Nations” (1776), trong Chương 1
có tên đề “Phân công lao động” nêu nhận xét: “Sự cải tiến lớn nhất về mặt
năng suất lao động và phần lớn kỹ năng, sự khéo léo và óc phán đoán đúng có
hiệu quả hơn trong vấn đề vốn NL để đạt được mục tiêu của tổ chức.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VỀ NHÂN LỰC
CÓ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT CHO CỒNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Bên cạnh những sách và công trình KH nước ngoài nêu trên, trong
những năm gần đây, ở nước ta cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến vấn đề NL có CMKT cho CNH, HĐH. Có thể chia các công trình đó
thành các nhóm sau:
1.2.1. Hướng nghiên cứu về quan niệm, vai trò và phát triển
nhân lực có chuyên môn kỹ thuật cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Cuốn “Lao động, việc làm và NNL ở Việt Nam 15 năm đổi mới” do
Nolwen Henaff, Jean-Yves Martin biên tập [69], trong đó biên tập các bài viết
trong Hội thảo điểm lại 15 năm thực hiện đường lối Đổi mới ở Việt Nam
được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 18 đến ngày 20/7 năm 2000 do Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội kết hợp với Viện nghiên cứu vì sự phát triển (Cộng
hòa Pháp), Viện đại học nghiên cứu phát triển (Thụy Sĩ) và Ngân hàng Thế giới
tổ chức. Các tác giả đã phân tích thực tế công cuộc đổi mới của Việt Nam trên
các khía cạnh chính sách giáo dục - đào tạo và chính sách việc làm, tổ chức lại
nền kinh tế và cơ cấu lại xã hội, phát triển kinh tế và đổi mới doanh nghiệp với
giải quyết lao động, việc làm và phát triển Trong đó, bàn về giáo dục đại học
và nghề nghiệp với thị trường lao động, phát triển NNL đáp ứng với những thách
thức của toàn cầu hóa mạnh mẽ và một nền kinh tế dựa trên những hiểu biết mới.
- Cuốn “Khai thác và phát triển tài nguyên NL Việt Nam” do PGS, TS
Nguyễn Văn Phúc và Th.S Mai Thị Thu chủ biên [74], bàn về cấu trúc tài
nguyên NL, nêu và phân tích thực trạng và sự phát triển tài nguyên NL nói
17
chung, NL có CNKT nói riêng ở Việt Nam thời kỳ 1975 - 2010. Những nhân
tố tác động tới sự phát triển của tài nguyên này thời gian qua. Thực trạng khai
thác và phát triển tài nguyên này, chỉ ra những bất cập trong khi thác và sử
dụng và đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác,
phát triển tài nguyên NL Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020.
- Cuốn "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", do PGS, TS. Mai Quốc Chánh chủ biên
[14] phân tích vai trò của NNL và việc nâng cao chất lượng NNL, đề xuất
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng NNL nước ta đáp ứng yêu
cầu CNH, HĐH đất nước.
- Cuốn "Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam" do
PGS, TS Đỗ Minh Cương và PGS, TS Nguyễn Thị Loan chủ biên, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách làm rõ quan điểm, định hướng
chiến lược và giải pháp chủ yếu cho việc phát triển năng lực giáo dục bậc
cao ở nước ta trong thời kỳ mới.
- Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn do PGS,
TS Đỗ Minh Cương - TS. Mạc Văn Tiến đồng chủ biên (2004). Bên cạnh việc
đi sâu nghiên cứu tìm ra các giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt
Nam, tác giả đã đưa ra các khái niệm NNL ở phạm vi vĩ mô và vi mô, kinh
nghiệm đào tạo và phát triển lao động kỹ thuật ở một số nước như Đông Nam
Á, Trung Quốc, Nhật, Mỹ.
- Doanh nghiệp Việt Nam 2007, Lao động và phát triển nguồn nhân lực
(2008): Đây là báo cáo thường niên về Doanh nghiệp Việt Nam của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) do TS. Phạm Thị Thu Hằng
làm chủ biên. Các tác giả đã đánh giá tổng quan về môi trường kinh doanh
của Việt Nam 2007, phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trên 4 khía cạnh: lao động, tài chính, CN và tiếp cận thị trường trong 6
ngành (dệt may, xây dựng, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất chế biến
19
thực phẩm) bị ảnh hưởng nhiều nhất của việc Việt Nam gia nhập WTO từ các
vấn đề lao động và phát triển NNL. Phân tích về thực trạng lao động và phát
triển NNL trên cơ sở xem xét, so sánh tác động của yếu tố lao động đối với
các ngành đã nêu, đưa ra giải pháp chiến lược phát triển NNL của các ngành.
Đây là những đóng góp có giá trị không chỉ cho DN mà cho cả các nhà hoạch
định chính sách của Việt Nam.
sách phát triển NL, nhân tài của Trung Quốc hiện nay: (i) Đào tạo thông qua
giáo dục - điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững nguồn lực con người;
(ii) Thiết lập hệ thống sử dụng NL, nhân tài hiệu quả, hợp lý. Ngoài ra, bài
viết con đưa ra một số đánh giá về thành công và hạn chế trong việc phát triển
NL, nhân tài của Trung Quốc.
- Bài “Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở những quốc gia và
vùng lãnh thổ Đông Á” của Phạm Thành Nghị [72] chỉ ra 5 kinh nghiệm quan
trọng trong phát triển NNL có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển vượt bậc
của các quốc gia và vùng lãnh thổ: (i) coi con người, NL có CMKT là yếu tố
quyết định, (ii) Phát triển NNL có CMKT theo nhu cầu quá trình phát triển
kinh tế-xã hội và chiến lược phát triển đón đầu, (iii) Kết hợp chương trình đào
tạo nghề đại cương và đào tạo nghề chuyên sâu, (iv) Phối hợp vai trò Nhà
nước, doanh nghiệp và khu vực tư nhân, (v) Thu hút và trọng dụng nhân tài.
Ngoài ra, còn có các cuốn sách đã xuất bản và bài viết trên Tạp chí,
diễn đàn KH về kinh nghiệm phát triển NL có CMKT cho CNH, HĐH, trong
đó đáng chú ý là: “Phát triển NNL thông qua giáo dục đào tạo, kinh nghiệm
Đông Á”, của Lê Ái Lâm, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 2003; “Phát triển
NNL: kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới”, bài viết của Nguyễn Thị
Minh Phước đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 16/9/2011, Đề tài
thuộc Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước KX.01/11-15: “Các giải pháp
nâng cao chất lượng lao động CMKT trình độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của
21
nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH”, do PGS, TS Nguyễn Bá Ngọc, Viện
Khoa học Lao động và Xã hội chủ nhiệm, trong đó bàn về cơ sở khoa học và
thực tiễn về nâng cao chất lượng loại lao động này, thực trạng ở nước ta hiện
nay và giải pháp phát triển trong thời gian tới. Các tác giả đã quan tâm nghiên
cứu vai trò của giáo dục, đào tạo và chính sách của nhà nước để phát triển lao
động CMKT trình độ cao.
Bên cạnh các sách, công trình KH và luận án tiến sĩ nghiên cứu về kinh
nghiệm phát triển NL có CMKT cho CNH, HĐH như đã nêu trên, còn có khá
gia Hồ Chí Minh chủ trì. Bàn về đặc điểm NNL dân tộc thiểu số Việt Nam, tác
động của vấn đề dân số tộc người đối với sự phát triển NNL dân tộc thiểu số
Việt Nam nói chung, vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
nói riêng. Phân tích, đánh giá chính sách của Đảng và Nhà nước cho phát triển
NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước [81]. Bài: “Giải pháp phát triển
nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc” của TS.
Lô Quốc Toản [92], đề xuất các giải pháp phát triển NL phục vụ cho CNH,
HĐH và phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc: củng cố và
hoàn thiện hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo phổ thông, chất lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo dự bị
đại học, hệ cử tuyển của các trường đại học, cao đẳng ở các tỉnh miền núi phía
Bắc. Bài: “Quy hoạch nhân lực các tỉnh miền núi phía Bắc” của Từ Lương
đăng trên Website Chính phủ ngày 07/12/2010, cho biết trình độ của người lao
động toàn vùng được đánh giá là thấp so với mức trung bình toàn quốc, với tỷ
lệ người tham gia lao động chưa từng đi học là 11,3%. Do vậy, thời gian tới,
phấn đấu mỗi tỉnh có ít nhất 1 trường dạy nghề, mỗi huyện có 1 trung tâm dạy
nghề; bảo đảm quy mô đào tạo tăng 25%/năm.
Quan tâm về phát triển NL có CMKT ở tỉnh miền núi trong thời gian gần
đây còn có Hội thảo KH quốc gia tổ chức ngày 01/10/2012 với chủ đề: “Đào
tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La và vùng Tây Bắc
23
trong tiến trình hội nhập”. Hội thảo đã nhận được hơn trên 150 bài viết của các
nhà KH, các chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực đào tạo NL của các trường đại
học, cao đẳng khu vực phía Bắc. Trong đó, có những nghiên cứu, phân tích,
nhận dạng cơ hội và thách thức từ quá trình hội nhập quốc tế và từ xu hướng tri
thức hóa các hoạt động và quyết sách kinh tế đối với phát triển NL cho tỉnh
miền núi Sơn La và vùng Tây Bắc hiện nay. Có bài viết quan tâm đến nguồn
lực cho giáo dục và đào tạo NL có CMKT cho CNH, HĐH, tiêu thức kiểm
định chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn lực này, những chia sẻ của các DN,
cơ sở sử dụng NL trên địa bàn. Đây là nguồn tài liệu bổ ích cho việc nghiên
và vai trò của nó đối với năng suất lao động, giá trị sản phẩm và sự phát triển
kinh tế - xã hội, trong đó có quan tâm đến khía cạnh vai trò của loại NL này
đối với CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân. Xác định vai trò đó ngày càng tăng
lên nhanh hơn so với lao động không có CMKT và so với các nguồn lực sản
xuất khác cùng với quá trình chuyển nền sản xuất từ phát triển theo chiều
rộng sang phát triển theo chiều sâu, quá trình phát triển của cách mạng
KH&CN. Vai trò của NL có CMKT còn được thể hiện trong sức cạnh tranh
của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế.
- Nghiên cứu việc phân bổ NNL cho sản xuất của các ngành, lĩnh vực
trong nội bộ nền kinh tế và trong quan hệ kinh tế với nước ngoài. Trong đó
chú trọng phân công lao động xã hội và mở rộng phân công lao động quốc tế
dựa trên lợi thế so sánh nhằm sử dụng và phát huy có hiệu quả NNL nói
chung trong đó có NL có CMKT của một quốc gia. Việc phân bổ này được
thực hiện trong một cơ chế kết hợp vai trò của thị trường với tính năng động
của chủ doanh nghiệp và vai trò kinh tế của nhà nước.
- Một số công trình, bài viết còn quan tâm đến yêu cầu về NL có
CMKT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó một số tác giả đã quan
tâm đến yêu cầu loại NL này đối với CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân và một
25
số tỉnh, thành phố ở nước ta. Con đường phát triển loại NL này trên thế giới
và ở Việt Nam.
- Nghiên cứu đã bàn về phương pháp giáo dục – đào tạo hiện đại trong
thời đại chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức với sự bùng
nổ CN thông tin, phát triển mạng internet toàn cầu, đến những CN giáo dục
mới chuyển từ phát huy tính tích cực sang phát huy năng lực sáng tạo của
người học, những đổi mới trong giáo dục – đạo tạo loại NL này ở trong và
ngoài nước. Trong đó, một số tác giả có nghiên cứu về nâng cao chất lượng
NL, phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài, giáo dục đại học, chiến lược
phát triển dạy nghề và quy hoạch hệ thống mạng lưới trường nghề, đào tạo
nghề ở nông thôn… đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước. Bàn về yêu cầu