Đề tài: Nước được độc lập mà dân không được tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì, dân chỉ biết được giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no mặc đủ - Pdf 23

Đề bài: Nước được độc lập mà dân không được tự do thi độc lập
cũng hông có nghĩa lý gì, dân chỉ biết được giá trị của tự do, của độc lập
khi mà dân được ăn no mặc đủ.
I. Đặt vấn đề:
Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng mỗi dân tộc đều
phải lựa chọn cho mình một mục tiêu, con đường phát triển, đó là quyền tự
quyết thiêng liêng của mỗi dân tộc, không thể áp đặt. Với một đất nước bị
xâm lược như chúng ta, ưu tiên trước hết là độc lập tự do nhưng Bác thật sáng
suốt, Người đã xác định rõ con đường phát triển của dân tộc ta là độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
II. Phân tích
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề:
1.1. Quan điểm của Mác về vấn đề:
Nhưng làm thế nào Bác có thể xác định con đường phát triển cho dân
tộc ta? Trước Người, rất nhiều anh hùng dân tộc đã bôn ba tìm đường cứu
nước, từ Phan Bội Châu dựa vào Nhật để đánh Pháp – “đưa hổ cửa trước,
rước beo cửa sau”, Phan Châu Trinh dựa vào khoa học của Pháp chấn hưng
dân khí – “ chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương”, hay Hoàng Hoa Thám
mang hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam… nhưng kết quả chỉ là hai chữ “thất
bại”. Sau những kinh nghiệm đau thương này, Hồ Chí Minh tiếp tục nghiên
cứu các cuôc cách mạng trên thế giới, điển hình là ở Pháp và Mỹ. Tuy nhiên,
các cuộc cách mạng ở hai đất nước này đều không triệt để. Cuối cùng, Người
đến với chủ nghĩa Mác- Lênin dưới ánh sánh của cuộc cách mạng tháng
Mười. Người đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không
có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. “Chỉ có chủ nghĩa xã
hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những
người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Ngay khi thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam, trong Chánh cương vắn tắt do Người soạn thảo đã chỉ rõ: “làm
tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Theo Mác , mục tiêu cao nhất là giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, tiến tới giải phóng con người một cách triệt để nhất. Chủ nghĩa xã hội

của nông dân, việc làm cho công nhân, tình trạng thiếu lương thực và nhất là
quyết theo đuổi chiến tranh đế quốc đến cùng. Trước tình hình đó, Lênin
quyết định lật đổ chính quyền lâm thời, xây dựng chính quyền Xô viết. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng Bolshevik, nhân dân Xô viết đã đứng lên khởi nghĩa,
sau một thời gian dài đấu tranh, Cách mạng tháng Mười đã giành được thắng
lợi. Đây là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp vô sản tiến hành,
thắng lợi của cuộc cách mạng đã hình thành nhà nước chuyên chính vô sản
đầu tiên trên thế giới, đưa nước Nga đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Liền sau đó, trong đêm 7 tháng 11 năm 1917 (25 tháng 10 theo lịch
Nga), Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ hai tuyên bố khai mạc tại điện
Smoniyl và tuyên bố thành lập chính quyền Xô Viết do Lenin đứng đầu. Các
sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xô Viết đã được thông qua là Sắc lệnh hòa
bình và Sắc lệnh ruộng đất. Chính quyền Xô Viết còn thực hiện các biện pháp
thủ tiêu các tàn tích của chế độ cũ như xóa bỏ sự phân biệt đẳng cấp, những
đặc quyền của giáo hội, nam nữ bình đẳng. Đối với các dân tộc, chính phủ Xô
Viết công bố bản Tuyên ngôn về quyền các dân tộc ở Nga khẳng định quyền
bình đẳng của các dân tộc và cho phép các dân tộc có quyền tự quyết như
công nhận nền độc lập của Ba Lan, Phần Lan. Cuối cùng, nước Nga độc lập,
Lênin đã hoàn toàn giải phóng cho con người nơi đây, đồng thời cũng mở ra
con đường giải phóng cho các dân tộc khác.
1.2.2. Về chủ nghĩa xã hội:
Sau khi cách mạng tháng Mười Nga thành công, chính quyền Xô Viết
tranh thủ giải quyết những vấn đề cấp bách, củng cố chính quyền của giai cấp
vô sản, đặt nền móng cho việc xây dựng nên kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, đến năm 1918, nước Nga có nội chiến( giai cấp địa chủ và tư bản bị lật
đổ đã nổi dậy chống chính quyền Xô Viết). Từ bên ngoài có sự can thiệp vũ
trang của 14 nước để quốc do Anh, Pháp cầm đầu hòng bóp chết nhà nước
Xô Viết còn non trẻ. Cuộc nội chiến và can thiệp nước ngoài làm nước Nga
càng thêm khó khăn chồng chất. Để đối phó với tình hình đó, Lênin nêu ra
khẩu hiệu: “Tất cả cho tiêu diệt kẻ thù” và thi hành chính sách “ Kinh tế cộng

1921 là 42,2 triệu tấn đã tăng lên đến 74,6 triệu tấn năm 1925. Tổng sản
lượng công nghiệp năm 1925 so với năm 1913 đạt 75, 5% ( đến năm 1926
khôi phục được 100%), nhiều ngành vượt mức trước chiến tranh……
Chính sách kinh tế mới đã tạo điều kiện phát triển lực lượng sản suất ở
cả thành thị va fnôgn thôn, vì nó đáp ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế
của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa còn mang tính chất hàng hóa và có nhiều
thành phần. Nhờ đó, trong một thời gian ngắn, Nhà nước Xô Viết đã khôi
phục được nền kinh tế quốc dân bị chiến tranh tàn phá; đã tiến được một bước
dài trong việc củng cố khối liên minh công nông; một Nhà nước công nông
nhiều dân tộc đầu tiên trên thế giới đã được thành lập, đó là Liên bang Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Xô VIết.
2. Kinh nghiệm các nước:
Bên cạnh Liên Xô là một nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa,
Trung Quốc cũng vậy, tuy nhiên chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc lại có phần
khác biệt. Con đường chủ nghĩa xã hội này ở Trung Quốc có thể chia làm 2
giai đoạn ( hay 2 kiểu chủ nghĩa xã hội ): thử nhất là dưới thời Mao Trạch
Đông, thứ hai là dưới thời Đặng Tiểu Bình.
2.1. Chủ nghĩa xã hội của Mao Trạch Đông:
Bởi ý thức tư tưởng phong kiến ở Trung Quốc ăn sâu và ngoan cố nên
trong quá trình lãnh đạo Trung Quốc xây dựng văn hoá tinh thần xã hội chủ
nghĩa, Mao Trạch Đông đã tiến hành cải tạo tư tưởng với quy mô lớn nhằm
thông qua đó tạo nên con người mới xã hội chủ nghĩa để có thể xây dựng nền
văn hoá xã hội chủ nghĩa có nền tảng chắn chắn. Cải tạo tư tưởng có ý nghĩa
đặc biệt đối với công cuộc xây dựng văn hoá tinh thần ở Trung Quốc. Mao
Trạch Đông chỉ ra rằng “Trong quá trình xây dựng văn hoá tinh thần xã hội
chủ nghĩa, người người phải cải tạo, kẻ bóc lột phải cải tạo, người lao động
cũng phải cải tạo”. Đương nhiên tính chất và phương thức của kẻ bóc lột và
người lao động có phần khác biệt nhau.
Việc cải tạo tư tưởng đối với giai cấp bóc lột là cải tạo mang tính
cưỡng bức, là "xoá bỏ chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến của họ, xoá bỏ

cứ việc gì, ở bất cứ cương vị nào cũng đều không được tư lợi mà phải phục
vụ nhân dân. Nếu có được tinh thần và phẩm chất phục vụ nhân dân như thế
sẽ chiến thắng các loại khó khăn, ở xã hội nào cũng đều có thể lập nên kỳ
tích. Quan điểm giá trị phải được thể hiện qua hành động cụ thể nên Mao
Trạch Đông ra sức đề xướng tinh thần phấn đấu gian khổ, dũng cảm, chí thú
sự nghiệp, hiến dâng và chủ nghĩa tập thể, lấy đó làm thước đo đánh giá tình
hình xây dựng quan điểm giá trị.
Qua phân tích cho thấy trong thực tiễn tìm kiếm phương hướng xây dựng nền
văn hoá tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mặc dù gặp nhiều trắc trở nhưng Mao
Trạch Đông đã thông qua cải tạo tư tưởng, loại bỏ những tàn dư của chủ
nghĩa phong kiến và chủ nghĩa thực dân, thay đổi thói quen tâm lý và phương
thức hành vi cũ, xây dựng nền văn hoá tinh thần xã hội chủ nghĩa theo quan
điểm giá trị và quan điểm đạo đức phục vụ nhân dân. Do đó ở Trung Quốc đã
có được những thay đổi long trời lở đất, thay đổi đó lại đặt cơ sở, đem lại
kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển toàn diện vì tiến bộ xã hội và tự do của
con người hôm nay.
2.2. Chủ nghĩa xã hội _ Đặng Tiểu Bình
Đặng Tiểu Bình đã mang đến xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung
Quốc. Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc là sản phẩm kết hợp giữa
tư tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ của Mác-Ăng-ghen những năm cuối đời và
thực tiễn cụ thể cải cách-mở cửa của Trung Quốc, sẽ xây dựng Trung Quốc
thành một nước xã hội chủ nghĩa dân chủ giàu có, văn minh, công bằng và hài
hoà như châu Âu ngày nay. Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển sang chủ
nghĩa xã hội dân chủ là tuân theo lời dạy của Mác và Ăng-ghen những năm
cuối đời, kế thừa truyền thống cách mạng dân chủ mới, triệt để thoát khỏi mô
hình Liên Xô, trở lại với chủ nghĩa Mác tiến cùng thời đại. Đó là định vị lịch
sử của chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc.
Nếu như Mao Trạch Đông đã giải phóng con người Trung Quốc ở mặt
tư tưởng thì Đặng Tiểu Bình lại giải phóng sức lao động của con người, tạo ra
sự thay đổi về chất. Điều này có thể dễ dàng thấy thông qua sự phát triển của

Thắng lợi đó đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam :
kỷ nguyên đất nước được độc lập, thống nhất, nhân dân lao động làm chủ xã
hội và tạo ra những tiền đề cần thiết, từng bước đưa đất nước phát triển theo
con đường xã hội chủ nghĩa.
Cách mạng nước ta có những thuận lợi lớn. Hệ thống chính quyền cách
mạng được xây dựng từ Trung ương tới cơ sở trên cả nước. Từ hoạt động bí
mật, Đảng ta đã trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền. Đảng, Mặt trận Việt
Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh có uy tín lớn trong dân tộc, chính quyền cách
mạng được toàn dân ủng hộ. Phong trào cách mạng tinh thần yêu nước của
nhân dân dấy lên từ cao trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tiếp tục
phát triển với những hình thức và nội dung mới nhằm xây dựng, bảo vệ chính
quyền, giữ vững thành quả cách mạng.
Bên cạnh những thuận lợi do thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đem
lại, nhân dân ta và chính quyền cách mạng phải đương đầu với những khó
khǎn, thử thách nặng nề.
3.1. Về Kinh tế - tài chính
Nhân dân ta và chính quyền cách mạng còn phải vượt qua những khó
khǎn lớn về kinh tế, đời sống xã hội. Nên kinh tế nước ta vốn đã nghèo nàn,
lạc hậu lại bị thực dân Pháp và phátxít Nhật vơ vét, bị chiến tranh và thiên tai
tàn phá nên lại càng nghèo hơn. Nǎng suất lúa rất thấp ( 12 tạ/ha). Nông dân
lao động chiếm hơn 95% số hộ nhưng chỉ được sử dụng không quá 40%
ruộng đất. Hậu quả nạn đói cuối nǎm 1944 đầu nǎm 1945 chưa kịp khắc phục,
thì nạn lụt lớn lại xảy ra, tàn phá 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. 50% ruộng đất bỏ
hoang.
Công nghiệp chỉ có không quá 200 nhà máy nhỏ bé, trang bị cũ kỹ,
đang lâm vào đình đốn, hàng hoá khan hiếm. Tài chính quốc gia gần như
trống rỗng. Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản nước ngoài.
Chính quyền cách mạng chỉ tiếp quản được kho bạc với 1.230.720 đồng,
trong đó có 586.000 đồng tiền rách.
3.2.Về văn hóa

dân hàn khẩu những quãng đê bị vỡ, vận động nông dân nhanh chóng cấy tái
giá, giúp nông dân vay vốn , cung cấp giống, nhiều nông cụ.
Về công nghiệp,Chính phủ chủ trương là kiên quyết giữ vững chủ
quyền, nhưng vẫn tiếp tục duy trì quan hệ với Pháp. Một số xí nghiệp của tư
bản Pháp và nước ngoài được tiếp tục kinh doanh như các xí nghiệp điện,
nước,….nhưng phải tuân theo luật lệ và chịu sự kiểm soát của Chính phủ.
Chính phủ khuyến khích tư bản tư nhân Việt Nam kinh doanh, phát triển sản
xuất, Nhà nước ban hành dự thảo luật Lao động, bảo vệ quyền lợi tối thiểu
của người công nhân như tiền lương, điều kiện làm việc, tiền trợ cấp khi thôi
việc, quyền hưởng những quyền lợi ngang nhau giữa nam và nữ công nhân,
quyền tự do lập nghiệp đoàn, tự do bãi công,…
Về thương nghiệp, Chính phủ ra sắc lệnh thủ tiêu, luật lệ ngăn sông,
cấm chợ do Pháp – Nhật đặt ra trước đây, sắc lệnh về việc bãi bỏ các nghiệp
đoàn độc quyền kinh doan. Đồng thời, Chính phủ chủ trương khuyến khích
buôn bán, vận động các nhà buôn thành lập hội thương gia Việt Nam, phong
thương mại.
Về tài chính, Chính phủ kêu gọi sự đóng góp tự nguyện, ủng hộ và giúp
đỡ của nhân dân, thông qua phong trào “Quỹ độc lập”, theo sắc lệnh của
Chính phủ ngày 4- 9- 1945, “Tuần lễ vàng” được tổ chức ngày 19- 9 -1945
nhằm thu gom số vàng trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu dùng vào
việc cần gấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là quốc phòng. Ngoài
ra, Chính phủ còn vận động sự giúp đỡ của nhân dân thông qua “hũ gạo nuôi
quân”, “ nhận nuôi cán bộ,”…
Để tạo điều kiện cho nhân dân an tâm sản xuất, giảm bớt sưu cao, thuế
nặng, Chính phủ đã có biện pháp kịp thời và đúng đắn về chính sách thuế, bãi
bỏ thuế bất công vô lý vào ngày 7- 9-1945 như thuế thân, thuế rượu, muối và
thuốc phiện. Ngày 22-9-1945, miễn giảm thuế môn bài kinh doanh nhỏ dưới
50 đồng, thuế chợ, xe đò, xe tay,… Ngày 26-10-1945, Chính phủ ban hành
nghị định giảm thuế điền thổ 20%, miến thuế cho các vùng bị lụt ở Nam Bộ
và Nam Trung Bộ,… Để bù vào khoản thiểu hụt ngân sách, Chính phủ đặt ra

chúng, phải "xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính
phủ chính thức" . Vì vậy, ngày 3-9-1945, tức là một ngày sau khi Nhà nước
cách mạng ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai
trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không
có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta
phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm
càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân
trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giầu, nghèo,
tôn giáo, dòng giống v.v " . Sau một thời gian chuẩn bị, đẩy mạnh "Tăng gia
sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa" để chống đói. Tiêu
diệt giặc dốt, "biết chữ để cầm lá phiếu thực hiện quyền công dân",… ngày 6-
1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc,
nhân dân ta được thực hiện quyền làm chủ, bầu những đại biểu chân chính
vào các cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước.
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc
hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời.
4.4.Chính sách cuả thực dân Pháp
4.4.1. Kinh tế
Dưới danh nghĩa “bảo hộ”, thực dân Pháp đã xâm lược nước ta và thực
hiện chính sách khai thác thuộc địa nhằm làm giàu cho nước Pháp.
“Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn,
thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày
và dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên.
Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân
chủ nào.

nước độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự mình
lựa chọn và dựng xây chế độ Cộng hoà dân chủ. Bằng cuộc Tổng tuyển cử,
tất cả mọi công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên không phân biệt gái trai, dân
tộc, tôn giáo, giàu nghèo đều có quyền dân chủ, bình đẳng, tự do lựa chọn
người đại diện cho mình vào Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử tháng 1-1946 đánh dấu mốc phát
triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam.
Bên cạnh đó, các mặt của đời sống cũng đạt được những thành tích
nhât định.
Về kinh tế, chỉ trong một thời gian ngắn – từ tháng 9 đến tháng 12-
1945, diện tích trồng hoa màu ở Bắc Bộ tăng 3 lần. năm 1946 so với năm
1944, sản lượn lúa vượt 38,8%, nhờ đó nạn đói bị chặn đứng. Công nghiệp
cũng được phục hồi, nhiều xí nghiệp đóng cửa nay đã được khôi phục như mỏ
than Làng Cẩm, Phấn Mễ, Quyết Thắng, mỏ thiếc Tĩnh Túc, nhà máy cơ khí
ở Trường Thi, nhà mát giấy Đấp Cầu,….Không chỉ có vậy, chúng ta còn khôi
phục được 50 trong số 60 chiếc cầu bị phá, sửa chữa được 500km đường bộ,
tu sửa 32 km đường sắt chỉ sau hơn một tháng sau cách mạng tháng 8.
Về văn hóa, giáo dục, từ ngày 8 -9- 1945 đến ngày 8 – 9 – 1946, có
76000 lớp học và 2,5 triệu người được xóa nạn mù chữ. Các trường phổ
thông và đại học khai giảng sớm hơn só với nội dung học và dạy đổi mới.
Giặc dốt đã bị đẩy lùi.
Về chính trị, bộ máy nhà nước được củng cố, trở nên vững mạnh hơn,
nhận được sự tín nhiệm của toàn thể nhân dân.
Tạm mượn câu nói của Người để kết thúc bài viết: “ Yêu Tổ quốc, yêu
nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã
hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mối ngày một giàu
mạnh thêm.”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status