MỤC LỤC:
Lý do chọn đề tài:
Thời gian gần đây, chúng ta thường nghe trên đài báo một vấn đề được nhắc
tới nhiều nhất và nổi cộm nhất đó là vấn đề “Lạm phát”. Lạm phát đang xảy ra
không chỉ ở trong nước ta, mà là vấn đề của cả thế giới hiện nay. Trước tình trạng
gi nhiên liệu, đặc biệt là giá dầu thô và giá lương thực không ngừng leo thang,
cùng với đó là sự suy giảm mạnh của nền kinh tế Mỹ đã đẩy nền kinh tế thế giới đi
vào một cuộc khủng hoảng. Rất nhiều nước nghèo mà đồng tiền của họ bị trượt giá
quá nhanh, người dân ở đó đang phải sống rất khó khăn và nghèo đói luôn bao
trùm lấy họ. Giá lương thực tăng cao làm cho người dân phải hứng chịu rất nhiều
khó khăn. Theo một số chuyên gia kinh tế thì “kỷ nguyên của giá rẻ đã kết thúc,
chúng ta phải đối mặt với tình trạng giá cả leo thang”.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở
Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với
sự phát triển kinh tế. Nghiên cứu lạm phát, kiềm chế và chống lạm phát được ở
nhiều quốc gia trên thế giới. Càng ngày cùng lúc với sự phát triển đa dạng và
phong phú của nền kinh tế, và nguyên nhân của lạm phát cũng ngày phức tạp.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ
nghĩa có sự điếu tiết của nhà nước, việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên
nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự phát triển
của đất nước.
Mục đích:
Nêu được thực trạng của lạm phát ở nước ta hiện nay đồng thời đưa ra được
một số biện pháp hạn chế để đẩy lùi lạm phát.
2
Chương I: Lịch sử của đề tài.
Đổi tiền và lạm phát năm 1986
Gọi là lạm phát năm 1986 vì đó là năm có tỉ lệ tăng cao nhất, nhưng lạm
phát thực sự đã xuất hiện từ nhiều năm trước đó. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ
1981-1985 lần lượt tăng là: 70%, 95%, 50%, 65% và 92%. Chỉ có điều lúc đó
không ai thừa nhận có lạm phát trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, không ai dám
1989 0,8%
1990 2,5%
1991 3,2%
Đến cơn sốt tín dụng đầu thập kỷ 1990
Năm 1989, với cơ chế rất thoáng trong việc thành lập quỹ tín dụng, hàng
loạt quỹ tín dụng ra đời để huy động vốn, cho vay lòng vòng, sau một thời gian thì
đổ bể. Lãi suất tiết kiệm năm 1989 cực kỳ cao, có lúc lên đến hơn 12%/tháng cùng
với cơ chế rất thoáng. Lãi suất cho vay đầu năm 1989 là 10,5%/tháng, cuối năm
giảm xuống còn xấp xỉ 4%/tháng và duy trì ở mức trên dưới 3%/tháng trong các
năm từ 90 đến 92.
Tình hình kinh tế xã hội vào lúc đó cũng còn hết sức gay gắt, mặc dù lạm
phát đã giảm mạnh so các năm 86-88. Tỷ giá VND/USD tăng vọt lên trên 13.000
VND/USD trong tháng cuối năm 1991, giảm đột ngột còn 11.000 VND/USD đến
năm 1992, sau đó và được neo giữ ở mức thấp trong suốt nhiều năm từ 1992 đến
1996 trong khoảng từ 10.500 đến 11.000 VND/USD.
Tình trạng lỗ lãi, nợ nần mà không có cơ chế phá sản làm cho hàng loạt công
ty đang hoạt động hết sức khốn đốn. Chính phủ đã ra quyết định lập Ban thanh
toán công nợ quốc gia để thanh toán chéo nhưng kết quả không đáng kể.
Nội lực của nền kinh tế bị thương tổn nghiêm trọng. Tăng trưởng kinh tế của
VN từ 1992 đến 1996 đạt đến 9% năm, nhưng từ 1997 thì giảm dần. Một số báo
4
cáo cho rằng do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế châu Á. Đó là cách lý giải mà
ngay từ lúc đó cũng không có sức thuyết phục. Dấu ấn của chính sách tỷ giá, tiền
tệ các năm đó lớn hơn là ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Chính là
cơ chế cứng nhắc cùng với tỷ giá đồng nội tệ cao đã làm mất đi cơ hội của đất
nước khi mà dòng FDI thế giới đang hướng mạnh vào.
Thâm hụt thương mại do tỷ giá và cũng được giải quyết bởi tỷ giá (Số liệu
do tác giả tính toán).
Kết quả kỳ diệu của cơ chế tỷ giá năm 1997
Đồng nội tệ đã bị đánh giá cao cùng với tỷ giá bị cố định cứng trong khoảng
Chương II: Khái niệm, nguyên nhân
và tác động của lạm phát.
I. Khái niệm về lạm phát:
1. Lạm phát là gì?
• Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về lạm phát thuộc các nhà kinh tế khác
nhau. Karl Marx cho rằng: “lạm phát là sự phát hành tiền mặt quá mức cần
thiết”. V.L.Lenine cũng đưa ra một ý niệm tương tự “lạm phát là sự thừa ứ tiền
giấy trong lưu thông”. Vào thập niên 1960, Milton Friedman (thuộc trường
phái trọng tiền) khẳng định rằng: “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện
tượng tiền tệ”. Theo thuyết trọng tiền (monetarism) – một trường phái lớn về
kinh tế vĩ mô cho rằng, cần phải chú ý đến tổng mức chi tiêu của xã hội và việc
cung ứng tiền cho chi tiêu đó. Thuyết trọng tiền cho rằng tiền tệ là trung tâm
của nền kinh tế, và việc cung ứng tiền là nhân tố quyết định những sự vận động
của tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa trong ngắn hạn và nó là nhân tố quyết
định đến giá cả trong dài hạn. Thực ra không nhất thiết bắt nguồn từ nguyên
nhân là tiền tệ, tức là tăng lượng tiền cung ứng quá mức đối với nền kinh tế.
Nhiều cuộc lạm phát xảy ra lại càng bắt nguồn từ giá hoặc xuất phát từ sự suy
giảm trong tổng cung của chính nền kinh tế đó. R.Dornbusch và Fisher cho
rằng:
6
Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một thời
gian nhất định.
Nếu căn cứ vào biểu hiển của nó, ta có thể đưa ra một khái miệm chung về lạm
phát như sau: lạm phát diễn ra khi mà giá cả của tư liệu sản xuất tăng lên, cùng
với việc tăng giá hàng tiêu dùng một cách liên tục và vững chắc, bên cạnh đó
tiền lương danh nghĩa biểu hiện như là giá cả sức lao động cũng có xu hướng
tăng lên. Tuy nhiên, thu nhập thực tế của người lao động nói chung có lúc tăng
tương ứng với lạm phát nhưng nhìn chung là suy giảm một cách nghiêm trọng.
Điều cần lưu ý là chúng ta sử dụng khái niệm mức giá chung (theo từng “rỗ”
hàng hóa) chứ không phải căn cứ theo mức giá đơn lẻ, bởi vì rất có thể trong
Chính điều đó làm cho lạm phát càng trầm trọng thêm, đoi khi dẫn đến
hiện tượng “xoáy trôn ốc” rất nguy hiểm. Trong tình hình đó thị trường tài
chính có nguy cơ suy sụp.
Trong thập niên năm 1980, có nhiều nước đã lâm vào tình trạng lạm
phát phi mã đến 700% như Việt Nam, Argentina, Brazil.
Mặt dù vậy, có những nước đang trong thời kì lạm phát phi mã nhưng
vẫn có khả năng phát triển nền kinh tế,điển hình như Brazil và Ixraen vào
thập niên 1970. Tuy nhiên, sự tăng trưởng đó đã bị biến dạng bởi phần lớn
vốn đầu tư được đưa ra nước ngoài, làm giảm đầu tư trong nước.
c) Siêu lạm phát: là loại lạm phát với tốc độ tăng giá trên 1000 lần/năm. Các
cuộc siêu lạm phát điển hình như ở Đức xảy ra vào tháng 11-1923 với tỷ lệ
10.000.000 lần so với 1-1922. Một tờ séc có giá trị 30.000.000 USD, sau 2
năm không mua nổi một chiếc kẹo cao su (từ 1921-1923 kho tiền của Đức
tăng 7 tỷ lần). Sau này, ở các nước khác, siêu lạm phát diễn ra như Bolivia
vào năm 1985 với tỷ lệ 50.000%. Thực tình, không thể nói bất kì điều tốt
lành nào cho các cuộc siêu lạm phát cả. Dân chúng bị chìm ngập trong khối
tiền tệ, lặng ngụp trong khối tiền tệ ấy để tìm kiếm một chút ít hàng hóa, vì
hàng hóa đều hết sức khan hiếm. Chức năng quan trọng đầu tiên của tiền là
làm phương tiện trao đổi, thì qua lạm phát, bị triệt tiêu. Có sẵn tiền không
dễ dàng gì mau được hàng vì không ai muốn bán hàng hóa để rồi nhận lấy
những đồng tiền luôn bị mất giá đến mức chống mặt. Trong bối cảnh đó,
nền tài chính hoàn toàn bị suy sụp, nhiều giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng
8
đổi hàng, và chức năng tồn trữ giá trị bằng tiền thay bằng việc tồn trữ bằng
hàng hóa.
3. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế:
Không lúc nào như thời gian từ đầu năm 2008 đến nay, vấn đề lạm phát và
tăng trưởng thu hút sự quan tâm của nhiều giới khác nhau: từ người dân thường
mỗi ngày khi ra chợ có cảm nhận như mình bị móc túi; các chủ doanh nghiệp phải
vật lộn với những toan tính từ chi phí vật tư, hàng hoá, dịch vụ, lương công nhân
đánh đổi giữa mục tiêu lạm phát và thất nghiệp.
- Stagflation nghĩa là suy thoái và lạm phát, tình trạng nền kinh tế vừa có
những dấu hiệu của lạm phát, mà cơ bản nhất là giá cả leo thang, tiền mất giá
nhưng lại vừa có những biểu hiện của suy thoái như sản xuất đình trệ, thất
nghiệp gia tăng, lạm phát cao, tăng trưởng thấp.
- Lạm phát có thể tác động tiêu cực lên tăng trưởng như: dấu hiệu bất ổn
kinh tế vĩ mô; tăng sự không chắc chắn của các hoạt động đầu tư; lạm phát
làm thay đổi giá cả tương đối, làm méo mó quá trình phân bổ nguồn lực; lạm
phát còn được xem như là một loại thuế đánh vào nền kinh tế.
b) Các nghiên cứu kiểm nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng.
- Nghiên cứu ban đầu (những năm 60) không tìm thấy mối quan hệ có ý
nghĩa thống kê nào.
- Giai đoạn sau khủng hoảng dầu hỏa 1973-1974, tìm thấy quan hệ âm giữa
lạm phát và tăng trưởng (Fischer, 1993; Bruno và Easterly, 1995; Barro,
1998).
c) Lạm phát và tăng trưởng trên thế giới.
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là phi tuyến tính. Lạm phát
chỉ tác động tiêu cực lên tăng trưởng khi đạt ngưỡng nhất định nào đó
(threshold). Ở mức dưới ngưỡng, lạm phát không nhất thiết tác động tiêu cực
lên tăng trưởng, thậm chí có thể tác động dương như lý thuyết Keynes đề cập.
Kết quả kiểm nghiệm ảnh hưởng ngưỡng của lạm phát
10
- Nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001): 140 nước, giai đoạn 1960-1998. Các
nước đang phát triển, ngưỡng lạm phát từ 11-12%/năm.
- Nghiên cứu của Li (2006): Số liệu cho 90 nước đang phát triển, giai đoạn 1961-
2004, ngưỡng là 14%/năm.
- Nghiên cứu của Christoffersen và Doyle (1998) tìm ra ngưỡng là 13% cho các
(thường là một chữ số) thì lạm phát không có tác động tiêu cực lên tăng trưởng. Ở
mức lạm phát thấp, gia tăng lạm phát thường gắn liền với tăng trưởng cao hơn (giai
đoạn 1992-2007). Tuy nhiên, khi lạm phát đạt đến một ngưỡng cao nhất định, thì
lạm phát bắt đầu tác động tiêu cực lên tăng trưởng (giai đoạn trước 1992).
Tuy nhiên, thời gian gần đây, ở Việt Nam xuất hiện thêm quan điểm mới, đó
là “tỉ lệ lạm phát tốt nhất là không vượt quá tốc độ tăng trưởng”; đây là quan điểm
của ông Lê Đức Thuý, nguyên Thống đốc NHNN khi phát biểu quan điểm này
trước Quốc hội: “Tôi cho rằng một nền kinh tế phát triển bền vững thì lạm phát ở
mức thấp hơn tăng trưởng 1-2%. Chẳng hạn GDP năm 2006 là 8% thì lạm phát là
6-7%”. Theo PGS., TS. Nguyễn Ái Đoàn, quan điểm này không có cơ sở lý thuyết
rõ ràng, không được khẳng định về mặt lý thuyết, đó là cách phát biểu mang tính
ứng dụng trong những điều kiện nhất định; trên thực tế, luận điểm này đã trở thành
nền tảng cho việc thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài ở Việt Nam và hệ quả
tất yếu là lạm phát ở mức báo động; theo đó, quan điểm về một tỉ lệ lạm phát tốt
nhất là tỉ lệ lạm phát nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng, thực chất chỉ là một cách phát
biểu sai lệch, pha trộn giữa một mức lạm phát mong muốn 1-3% và một mức lạm
phát vừa phải còn kiểm soát được, tức là lạm phát dưới hai chữ số đã biến thành
mức lạm phát tốt nhất (2); tương đồng với phân tích trên của PGS., TS. Đoàn, Ông
Nguyễn Văn Phúc, Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, cũng cho rằng:
không có cơ sở khoa học, không có lý thuyết nào đề cập, không có nghiên cứu
kiểm nghiệm; ngưỡng tác động tiêu cực của lạm phát không phải là bằng tốc độ
tăng GDP.
Quan điểm về lạm phát theo ông Lê Đức Thuý “Ngay ở nước ta, trong điều
kiện bình thường, không ít nhà khoa học đã đề nghị tôi đẩy lạm phát lên cao hơn
để thúc đẩy tăng trưởng. Thậm chí họ cho rằng, nếu Việt Nam muốn tăng trưởng
cao thì lạm phát hai chữ số là bình thường. Nhưng với tôi, chừng nào còn được
giao nhiệm vụ này, sẽ tiếp tục theo đuổi quan điểm giữ cho lạm phát nằm trong
tầm kiểm soát, và tốc độ lạm phát tốt nhất là không vượt quá tốc độ tăng trưởng”.
12
Việc muốn tăng cung tiền, chấp nhận lạm phát là hệ quả trực tiếp của quan điểm về