BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN HẢI THANH
NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG BÀO TỬ SỢI (MYXOSPOREA).
TRÊN CÁ CHÉP (CYPRINUS CARPIO) Ở HÀ NỘI VÀ VÙNG
PHỤ CẬN, ðỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÒNG BỆNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Bắc Ninh
ñã tạo ñiều kiện cho tôi tham gia và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Bộ môn Ký sinh trùng, Khoa Thú Y và các
Thầy Cô giáo Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã tạo mọi ñiều kiện
thuận lợi ñể giúp ñỡ tôi trong quá trình học tập tại trường.
ðể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc ñến thầy giáo hướng dẫn:
- PGS.TS Nguyễn Văn Thọ Trưởng bộ môn ký sinh trùng khoa Thú y
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Bùi Quang Tề Hội nghề cá Việt
Nam ñã giúp ñỡ tôi trong quá trình lấy mẫu và phân loại
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ñến gia ñình, bạn bè ñã luôn giúp
ñỡ, ủng hộ và ñộng viên tôi trong suốt thời gian học tập cũng như hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày tháng 2 năm 2014
Tác giả khóa luận
Trần Hải Thanh
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iii
MỤC LỤC
3. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1. Mục tiêu nghiên cứu của ñề tài 25
3.2. Nội dung nghiên cứu. 25
3.3. ðịa ñiểm, thời gian, ñối tượng nghiên cứu 25
3.3.1. ðịa ñiểm nghiên cứu 25
3.3.2. Thời gian nghiên cứu 25
3.3.3. ðối tượng nghiên cứu 25
3.4. Vật liệu nghiên cứu 26
3.5. Phương pháp nghiên cứu 26
3.5.1. Phương pháp thu mẫu cá 26
3.5.2. Thứ tự tiến hành nghiên cứu 27
3.5.3. Phương pháp làm tiêu bản. 30
3.6. ðo ñếm ký sinh trùng 31
3.6.1. Tỷ lệ nhiễm (TLN). 31
3.6.2. Cường ñộ nhiễm (CðN). 31
3.6.3. ðo kích thước 32
3.7. Phương pháp xử lý số liệu. 32
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1. Thành phần giống loài bào tử sợi ký sinh trên cá chép giống. 33
4.2. Vị trí phân loại và một số ñặc ñiểm hình thái của các loài bào tử sợi
ký sinh trên cá chép. 35
4.2.1. Loài Myxobolus toyamai Kudo, 1915 35
4.2.2. Loài Myxobolus koi Kudo, 1919 37
4.2.3. Loài Myxobolus achmerovi Schulman, 1966 39
4.2.4 Loài Myxobolus anisocapsularis Schulman, 1966 41
4.2.5 Loài Myxobolus cyprini Doflein, 1898 42
4.2.6. Loài Myxobolus artus Achmervo, 1960 44
4.2.7. Loài Thelohanellus catlae Chakvawartyet Basu, 1958 45
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Từ gốc
CðN Cường ñộ nhiễm
CðNTB Cường ñộ nhiễm trung bình
KST Ký sinh trùng
M. Myxobolus
NTTS Nuôi trồng thủy sản
TB Trung bình
Th. Thelohanellus
TLN Tỷ lệ nhiễm Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
1
1. ðẶT VẤN ðỀ
Xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày càng tăng cao, kéo theo nhu cầu
về lương thực, thực phẩm cũng ngày một gia tăng. Các sản phẩm thực phẩm
có giá trị dinh dưỡng cao như thịt, trứng, sữa, cá…ñang là những nhu cầu
thiết yếu của cuộc sống. ðể giải quyết vấn ñề này, ngành chăn nuôi ñã không
ngừng phát triển và có ñóng góp không nhỏ vào việc giải quyết an ninh lương
thực thế giới.
Tuy nhiên, nhắc ñến những thành tựu trong ngành chăn nuôi người ta
không thể phủ nhận ñược vai trò ñóng góp to lớn mà ngành thủy sản ñem lại.
Việc phát triển ñánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản không chỉ giúp cung
cấp các sản phẩm thủy sản có giá trị dinh dưỡng cao cho tiêu dùng trong nước
mà còn là nguồn thu nhập ngoại tệ khá cao cho ngân sách nhà nước do xuất
khẩu ñem lại. Theo tin từ Tổng cục thủy sản: xuất khẩu thủy sản Việt Nam
năm 2012 ñạt 6,25 tỷ USD. Năm 2012 tổng sản lượng thủy sản cả năm ñạt 5,8
triệu tấn, trong ñó sản lượng khai thác ñạt 2,6 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng
ñạt 3,2 triệu tấn.
Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tổng kết và kết luận: Ngành
Thủy sản nước ta ñóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế ñất
nước. Quy mô của ngành Thủy sản ngày càng ñược mở rộng và vai trò của
ngành cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân. Từ cuối thập
kỷ 80 ñến nay, tốc ñộ tăng GDP của ngành Thủy sản cao hơn các ngành kinh
tế khác. Giai ñoạn 5 năm 1995-2000, GDP của ngành Thủy sản tăng từ 6.664
tỷ ñồng lên 14.906 tỷ ñồng. Tỷ trọng của ngành Thủy sản trong GDP của toàn
bộ nền kinh tế năm 1990 chưa ñến 3%. Nhưng ñến năm 2000 tỷ lệ ñó là 4%
và hiện tại vẫn giữ vững.
3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số ñặc ñiểm sinh học của cá chép
2.1.1 Vị trí phân loại
Thành phần loài trong họ cá chép ở nước ta rất phong phú, ña dạng và ñộc
ñáo, rất ñặc trưng cho vùng nhiệt ñới gió mùa. Cho tới nay họ cá chép ở nước ta
có 306 loài, 9 phân loài thuộc 103 giống và 11 phân họ (chiếm 38,5%) số loài cá
nước ngọt của Việt Nam (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2011).
Theo tài liệu phân loại của FAO (1974), cá chép thuộc hệ thống phân loại sau:
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Cypriniformes
Họ: Cyprinidae
Giống: Cyprinus
Loài: Cyprinus carpio Linnaeus, 1758
2.1.2 ðặc ñiểm về hình thái của cá Chép
Cá chép có hình dạng cơ thể hình thoi, mình dây, dẹp bên, bụng khá tròn.
Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng. ðầu cá thuôn, cân ñối. mõm tù. Chiều dài
cơ thể gấp 2,8 - 3,5 lần chiều cao và 3,4 – 4,3 chiều dài ñầu. Mầu từ phía trước
vây lưng hơi xẫm. Cá Chép có hai ñôi râu: Râu mõm ngắn hơn ñường kính mắt,
râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn ñường kính mắt. Mắt vừa phải ở hai bên, thiên
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4
về phía trên của ñầu. Khoảng cách hai mắt rộng và lồi. Miệng ở mút mõm,
hướng ra phía trước, hình cung khá rộng; rạch miệng chưa tới viền trước mắt.
Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên. Môi dưới phát triển hơn môi trên. Màng mang
thức ăn ñáy và cỏ nước; rất hiếm khi cá chép bơi lên tầng mặt. Cá chép ăn tạp,
thiên về ăn ñộng vật không xương sống ở ñáy. Thức ăn của cá khá ña dạng như
mảnh vụn thực vật, rễ cây, các loài giáp xác ( Copeporda, Decaporda,
Gatstropoda), ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm. Tùy theo kích cỡ cá
và mùa vụ dinh dưỡng mà thành phần thức ăn có sự thay ñổi nhất ñịnh. Ngoài
thức ăn tự nhiên trong thủy vực thì cá còn sử dụng tốt các thức ăn bổ sung như
phụ phẩm nông nghiệp và thức ăn công nghiệp như: khô dầu, cám gạo, mì, bột
ngũ cốc, nhộng tằm, bột ñậu nành (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân,2001).
2.1.5 ðặc ñiểm sinh trưởng
Cá chép là loài có kích cỡ trung bình, lớn nhất có thể ñạt tới 15 - 20 kg. Tốc
ñộ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng dần theo khối lượng (Mai
ðình Yên, 1983); cá chép lớn nhanh về chiều dài năm thứ nhất và năm thứ hai
nhưng trọng lượng tăng nhanh nhất vào năm thứ ba và thứ tư. Tốc ñộ tăng
trưởng của cá chép phụ thuộc vào rất nhiều mật ñộ và khả năng cung cấp thức
ăn. Thông thường cá cái lớn nhanh hơn cá ñực. Cá có thể sống ñược trong ñiều
kiện khó khăn khắc nghiệt, chịu ñựng ñược nhiệt ñộ từ 0-40
0
C, thích hợp ở 20-
27
0
C. Cá chịu ñựng hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu trong nước là 2mg/l, pH
khoảng 4 – 9 . Là loại cá sống trong vùng nước ngọt, tuy nhiên chúng có thể
sống trong nước lợ có ñộ mặn dưới 1,2%. Loài cá chép nuôi phổ biến hiện nay là
cá chọn giống VI, chúng có tốc ñộ tăng trưởng cao gấp 1,5 -3,0 lần so với cá
chép trắng Việt Nam thuần với cùng ñiều kiện nuôi (Nguyễn Văn Hảo và Ngô
Sỹ Vân, 2001).
Tương quan chiều dài và tuổi cá ñược thể hiện trong bảng 2.1
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
6
hợp từ 20 – 22
0
C (Nguyễn Hữu Thọ và ðỗ ðoàn Nghiệp, 2004).
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
7
2.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới
Nghiên cứu về ký sinh trùng của cá bắt ñầu từ giữa thế kỷ XX, các nhóm
giun chính ký sinh trên cá như: Monogenea, Cestoidea, Digennea, Nematoda,
Acanthocephala ñều ñã ñược mô tả. Nhưng phải ñến năm 1929, khi mà nhà ký
sinh trùng học người Nga – Dogiel (1882 – 1956) ñưa ra “Phương pháp nghiên
cứu về ký sinh trùng trên cá” thì hàng loạt các công trình nghiên cứu ở cá ñã
ñược thực hiện.
Viện sỹ Bychowsky và cộng sự năm 1962 trong cuốn sách “Bảng phân loại
KST của cá nước ngọt ở Liên Xô”, mô tả 1211 loài KST của khu hệ cá nước
ngọt ở Liên Xô. Tiếp tục năm 1984, 1985 và năm 1987 công trình nghiên cứu
khu hệ KST cá nước ngọt Liên Xô ñã xuất bản làm hai phần gồm ba tập. Công
trình ñã mô tả gồm hơn 2000 loài KST của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọt
của Liên Xô. Có thể nói Liên Xô cũ là nước có rất nhiều nhà khoa học nghiên
cứu KST ở cá sớm nhất, toàn diện nhất và ñồ sộ nhất.
Năm 1973, Chen chil – leu là chủ biên cuốn sách KST cá nước ngọt ở Hồ
Bắc, Trung Quốc, ñiều tra 50 loài cá nước ngọt và phân loại ñược 375 loài KST,
trong ñó Protozoa có 159 loài, Monogenea 116 loài, Cestoidea 10 loài,
Trematoda 33 loài, Nematoda 21 loài, Acanthocephala 7 loài, Hirudinea 2 loài,
Mollussca 1 loài, Crustacea 26 loài.
Theo Muller và Anders (1986) có khoảng 10.000 loài KST sống ký sinh
gây bệnh ở cá nước ngọt, nước lợ và nước biển. Trong ñó, 17% thuộc lớp sán lá
song chủ (Digenea) và 15% thuộc lớp sán lá ñơn chủ (Monogenea). Các ký sinh
trùng ngoại ký sinh ở cá có khoảng 4200 loài, trong ñó bao gồm Monogenea
Các nhà KST học ở các nước ðông Nam Á ñã có một số nghiên cứu về
KST ký sinh ở cá biển nuôi. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa toàn diện
thường ñi sâu vào từng nhóm ký sinh trùng như các loài sán lá song chủ
(Digenea), ñược nghiên cứu nhiều ở Philippine. Trong khi ñó, các loài sán lá ñơn
chủ lại ñược nghiên cứu nhiều ở Malaysia.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9
Tại Thái Lan có công trình nghiên cứu ñầu tiên về bệnh cá nuôi của C.B
Wilson, 1926-1927 thông báo về hiện tượng rận cá thuộc Argulus ký sinh trên
cá nước ngọt ở Thái Lan và ñến năm 1928 cũng tác giả này lại miêu tả về
bệnh lý trên cá trê Thái Lan có một loài thuộc giống Caligus ký sinh. Cho ñến
nay khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt ngày càng ñược chú ý. Qua tổng kết,
một số nguyên sinh ñộng vật, sán lá ñơn chủ là tác nhân gây bệnh ký sinh trùng
như: Chilodonella, Trichodina, Heneguya, Dactylogyrus, Gyrodactylus…theo
Tonguthai (1992), các nhà khoa học Thái Lan không chỉ dừng lại ở ñó mà còn
ñi sâu nghiên cứu một số bệnh ký sinh trùng như bệnh: Opisthorchosis do
Opisthorchis viverini ký sinh trong gan. Không những thế, khu hệ ký sinh
trùng cá Thái Lan ngày càng phong phú bổ sung cá ký sinh trùng cá nước
mặn. Năm 1981, L. Ruangpan ñã viết sách ñầu tiên về ký sinh trùng ký sinh ở
cá biển dọc theo bờ biển Thái Lan.
Ở Indonesia, Louis Bovien (1926,1927,1933) ñã nghiên cứu sán dây, sán lá
song chủ và giun ñầu gai trên cá nước ngọt ở Java, ông ñã mô tả một giống mới
và một loài mới ñó là Djombangia penetrans tìm thấy trên cá trê trắng (Clarias
batrachus); Isoparorchis eurytremum ở cá Wallago attu. Nhà khoa học người
ðức là Alfred L. Buschkiel (1923, 1935) ñã nghiên cứu ký sinh trùng ñơn bào
(Ichthyophtyrius multifiliis) trên một số loài cá nước ngọt ở
Ở Philippin từ năm 1947, Tubangui ñã công bố về kết quả nghiên cứu một
số loài mới thuộc sán lá ñơn chủ (Monogenea), sán lá song chủ (Trematoda),
giun tròn (Nematoda), sán lá song chủ (Digenea) và giun ñầu móc
trùng ở hơn 60 loài cá nước ngọt của vịnh Bắc Bộ, ñã công bố hơn 20 bài báo
cáo trong tạp chí và sách tham khảo. Các tác giả ñã xác ñịnh ñược 190 loài giun
ký sinh, trong ñó ñã mô tả 9 giống và 37 loài mới ñối với khoa học.
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về KST ở cá nước ngọt mới chỉ bắt
ñầu từ những năm 1960 ở miền Bắc và từ sau năm 1975 ở các tỉnh miền Trung,
Tây Nguyên, ñồng bằng sông Cửu Long.
Tác giả Hà Ký là nhà ký sinh trùng học ñầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu khu
hệ ký sinh trùng ở cá. Trong giai ñoạn 1960 – 1968, tác giả ñã nghiên cứu trên
16 loài cá kinh tế ở Bắc Bộ - Việt Nam, ñã xác ñịnh ñược 120 loài KST thuộc 48
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11
giống, 37 họ, 26 bộ và 10 lớp trong ñó có Mastigophora có 2 loài, Myxozoa có
18 loài, Ciliophora có 17 loài, Monogenea 42 loài, Cestoda 4 loài, Crustacea 15
loài. Trong ñó, ông cũng ñã mô tả 1 họ, 1 giống và 42 loài mới.
Năm 1976, Nguyễn Thị Muội và ctv ñã nghiên cứu giun ñầu gai trên cá
thuộc vùng ñồng bằng Bắc Bộ, ñã phân loại ñược 9 loài ký sinh trùng trên 12
loài cá. Tiếp theo là công trình nghiên cứu “Thành phần ký sinh trùng trên một
số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Phú Khánh (Khánh Hòa) của Nguyễn Thị
Muội và ðỗ Thị Hòa (1978-1980). Công trình này ñã phát hiện ñược hơn 80 loài
ký sinh trùng trên cá biển.
Từ năm 1981-1985 có công trình nghiên cứu “Khu hệ ký sinh trùng ở 20
loài cá nước ngọt ở miền Trung và Tây Nguyên” của Nguyễn Thị Muội và ðỗ
Thị Hòa. Kết quả nghiên cứu ñã phát hiện ñược 117 loài ký sinh trùng, trong ñó
lớp sán lá ñơn chủ (Monogenea) chiếm số lượng loài ñáng kể. Cũng trong thời
gian này ( năm 1984), Bùi Quang Tề ñã ñiều tra khu hệ ký sinh trùng của 6 loại
hình cá chép ở ñồng bằng Bắc Bộ.
Bùi Quang Tề, 2001 ñã nghiên cứu ký sinh trùng của một số loài cá nước
ngọt ở ñồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu trên 41 loài cá kinh tế
nước ngọt ở ñồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị bệnh do chúng
Nhiều loài ký sinh trùng là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho cá ở giai
ñoạn sớm (cá hương, cá giống). Nguyên nhân gây bệnh cho cá do ký sinh trùng
ñã ñược nhiều tác giả trên thế giới thông báo. Nhiều loài ký sinh trùng ñã gây
thiệt hại cho nghề nuôi cá, như các nhóm ñơn bào ngoại ký sinh, sán lá ñơn chủ
(Monogenea), giun sán và giáp xác (Crustace).
Bệnh Argulosis là bệnh phổ biến của cá của nhiều nước trên thế giới. Ở
Ucraina năm 1960, bệnh rận cá làm chết gần 2 triệu cá chép con, 3 triệu con
khác bị thương và chết dần (Bùi Quang Tề, 2001).
Theo Chen Chin leu (1973) nghiên cứu KST trên cá Chép (Cyprinus carpio)
ñã xác ñịnh ñược 61 loài KST gồm: Protozoa có 30 loài, Monogenea có 9 loài,
Cestoidea có 4 loài, Trematoda có 7 loài, Nematoda có 4 loài, Acanthocephala
có 2 loài, Bivavia có 2 loài , Crustacea có 4 loài.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13
Laboratorio (1999) giới thiệu và cảnh báo về sự nhiễm Centrocestus
fomosanus trên cá nuôi trồng thủy sản ở Mexico. Tác giả cho biết ký chủ ñầu
tiên của Centrocestus fomosanus là ốc Melanoides tubercularus châu Á ñã ñược
giới thiệu ở nước ông từ năm 1979 ñến năm 1985 khi người ta nhập cá Chép từ
Trung Quốc. Centrocestus fomosanus ñã ñược phát hiện ở cá hương tại tất cả các
loài cá khác ở một trang trại ở Mexico. Từ thời ñiểm ñó, sán lá song chủ
Centrocestus fomosanus ñã nhanh chóng phát triển khắp ñất nước Mexico và lan
ra cả những vùng lân cận như ðại Tây Dương, Thái Bình Dương. Cũng tại ñây,
tác giả ñã nghiên cứu và phát hiện loài Diệc Butoridae stritus là ký chủ cuối
cùng của sán lá song chủ Centrocestus fomosanus.
Mellisa Harvey (2000) làm thí nghiệm sử dụng tia cực tím ñể tiêu diệt ấu
trùng Centrocetus fomosanus sống tự do trong môi trường nước. Trong thí
nghiệm này, khoảng 21 nghìn ấu trùng ñược xử lý bằng tia cực tím trong thời
gian khác nhau từ 10, 100, 1000, 10000 giây. Cường ñộ tia cực tím trung bình/
giây là 28,34mW/cm
thấp cá trở thành vật mang bệnh (Paperna, 1961).
Tại Bangladet, 5 loài cá chép (Hypophthalmichthys molitrix, Cyprinus
carpio var. specularis, Cyprinus idellus, Cyprinus carpio var. communis và
Puntinus gonionotus) ñược kiểm tra bệnh ký sinh tùng ñã cho thấy 793 loài cá bị
nhiễm bệnh do 3 loài ñơn bào(Trichodina sp, Ichthyophthirius sp và
Chilodonelle sp), 2loài ñơn chủ Monogenean (Gyrodactylus sp, Dactylogyrus
sp), 2 loài sán lá Trematoda (Gorgotrema sp, Metadena sp), 4 loài sán dây
Cestoda (Rhopalothyrax sp, Marsipometra sp, Lytocestus sp và Senga sp), 2 loài
giun tròn Nematoda (Camallanus sp, Procamallamus sp), 3loài giáp xác
(Argulus sp, Alitropus sp và Lamproglena sp) và 1loài côn trùng (ấu trùng
Dipteran) ký sinh. Những ký sinh trùng ñược phân lập từ nhớt trên cơ thể, mang
và ruột của cá bị nhiễm bệnh. Trong các loài ký sinh, nói chung tỷ lệ nhiễm
trung bình cao nhất là Argulus sp. (20,07%) ở H.molitrix và thấp nhất là
Metadena sp. (2,85%) ở Cyprinus carpio var.communis. Mật ñộ trung bình
nhiễm cao nhất là Chilodonella sp. (10,00%) trong ñó Cyprinus carpio var.
specularis và thấp nhất là Procamallanus sp. (2,08%) trong ñó Cyprinus carpio
var. communis (Ahmed A.T.A và M.T.Ezaz, 1997).
Theo Arthur J.Richard (1997) cá Chép ở Phillipin gặp 20 loài ký sinh trùng
trong ñó có 4 loài bào tử sợi.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15
2.3.2. Nghiên cứu ký sinh trùng cá chép ở Việt Nam
Khi nghiên cứu thành phần giống loài ký sinh trùng trên 6 loại hình cá chép
ở Việt Nam, tác giả Bùi Quang Tề ñã phát hiện 41 loài ký sinh trùng thuộc 23
giống, 21 họ, 14 bộ, 9 lớp ở cá chép trắng Việt Nam, cá chép vàng, cá chép kính
hung, cá chép vảy hung, chép lai 1, chép lai 2. Hầu hết các loài ký sinh trùng có
chu kỳ phát triển trực tiếp không qua vật chủ trung gian (32 loài chiếm 75%).
Trong ñó chú ý nhất là lớp bào tử trùng (Chidosporidia) 10 loại và lớp sán lá ñơn
các cung mang làm cá không khép nổi nắp mang.
Theo Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), trùng bánh xe phân bố rộng với
tỷ lệ cảm nhiễm và cường ñộ nhiễm cao gây tác hại lớn cho cá hương và cá
giống ở Việt Nam. Tại ðông Nam Á, người ta phát hiện một số loài trùng
bánh xe như Trichodina acuta, Trichodina nobilis, Trichodina nigra,
Trichodina pediculus, Trichodina domerguei, Tripartiella bulbosa,
Trichodinella epizootica ký sinh trên da, vây, mang 2 loài cá chép Ấn ðộ.
Bệnh sán lá ñơn chủ 16 móc Dactylogyrosis ñược phát hiện lần ñầu năm
1961 tại một số ao cá giống nuôi ở Bắc Ninh và Hà Nội. Tác nhân gây bệnh là
sán lá ñơn chủ 16 móc thuộc giống Dactylogyrosis. Ở nước ta ñã phát hiện ñược
hơn 60 loài thuộc giống này ký sinh ở cá nước ngọt. Cá chép cũng bị cảm nhiễm
với loại trùng này. Sán lá ñơn chủ 16 móc ký sinh chủ yếu ở mang cá, hút máu
và niêm dịch cá, song giai ñoạn nguy hiểm nhất là cá hương và cá giống. Tỷ lệ
cảm nhiễm có thể lên ñến 100 %. Tỷ lệ tử vong bệnh này có thể lên ñến 90% ở
một vài loài cá nuôi trong ao tại một số trại cá (ðỗ Thị Hòa, ctv, 2004).
Ở cá, ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus fomosanus ký sinh chủ yếu
trên mang. Số lượng các loài cá nhiễm ấu trùng sán lá song chủ khá ña dạng, hầu
hết là các loài cá nước ngọt, phổ biến là cá chép (Cyprinus carpio), cá mè trắng
Việt Nam (Hypophthalmichthys harmandi), cá chim trắng (Colossoma
macroponum) nuôi ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên,
Thái Nguyên, Bắc Cạn, ñồng bằng sông Cửu Long. Theo Bùi Quang Tề ñiều tra
ký sinh trùng trên cá rô hu và Mrigal cho thấy tỷ lệ nhiễm: 22,88% (Hà Ký – Bùi
Quang Tề, 2007).