nghiên cứu một số chỉ tiêu lâm sàng, sinh sản và bệnh ở nhím nuôi trong các nông hộ tại hà nội, thử nghiệm điều trị - Pdf 23

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI PHẠM VĂN THỜI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU LÂM SÀNG,
SINH SẢN VÀ BỆNH Ở NHÍM NUÔI TRONG CÁC NÔNG
HỘ TẠI HÀ NỘI, THỬ NGHIỆM ðIỀU TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HÀ NỘI, NĂM 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

i

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực và chưa hề ñược công bố và sử dụng trong bất
cứ công trình nghiên cứu bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam ñoạn mọi thông tin sử dụng trong luận văn ñược chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Phạm Văn Thời
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

ii

LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này tôi ñã nhận
ñược sự hướng dẫn, giúp ñỡ và góp ý nhiệt tình của Thầy giáo hướng dẫn
khoa học TS. Vũ Như Quán cùng với sự ñóng góp quý báu của các Thầy
Cô trong bộ môn Ngoại - Sản, Khoa Thú y, Trường ðại học Nông nghiệp

1.1.2 Một số giống nhím trên thế giới 3
1.2. ðặc ñiểm sinh học của nhím 5
1.2.1. ðặc ñiểm sống 5
1.2.2. Tập tính ñối phó với kẻ thù 7
1.2.3. Tập tính kiếm ăn 7
1.2.4. Thức ăn cho nhím 7
1.3. Một số chi tiêu sinh lý lâm sàng của nhím 8
1.3.1. Thân nhiệt 8
1.3.2. Tần số tim mạch 10
1.3.3. Tần số hô hấp 10
1.4. ðặc ñiểm sinh lý sinh sản của nhím 12
1.4.1. Sự thành thục về tính và thể vóc của nhím 12
1.4.2. Chu kỳ tính 14
1.4.3. Quá trình mang thai 17
* Quá trình phát triển của thai 17
1.4.4. Quá trình sinh ñẻ 18
1.4.5. Sinh lý tiết sữa của nhím cái 18
1.4.5.1. Quá trình tổng hợp sữa 19
1.4.5.2. Quá trình thải sữa 19
1.4.6. Một số chỉ tiêu ñánh giá sức sản xuất của nhím cái 20
1.4.7. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản 21
1.5. Những bệnh thường gặp ở nhím 22
1.5.1. Bệnh sảy thai 22
1.5.2. Bệnh ở ñường tiêu hóa 23
1.5.3. Bệnh ở ñường hô hấp 24
1.6. Giá trị của nhím ở Việt Nam 25
1.7. Nghề nuôi nhím 26
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. ðối tượng và ñịa ñiểm nghiên cứu 28
* ðối tượng nghiên cứu 28

3.3.2. Thời gian mang thai 45
3.3.3. Tuổi ñẻ lứa ñầu 46
3.3.4. Khoảng cách lứa ñẻ 47
3.3.5. Số con ñẻ /lứa 48
3.3.6. Trọng lượng sơ sinh/lứa 49
3.3.7. Trọng lượng cai sữa/lứa 50
3.4. Kết quả nghiên cứu các bệnh thường gặp trên nhím 51
3.4.1. Phác ñồ thử nghiệm ñiều trị với các bệnh thường gặp ở nhím. 55
3.4.2. Kết quả ñiều trị các bệnh thường gặp ở nhím nuôi trong các nông hộ tại Hà
Nội 56
3.5. Công tác vệ sinh phòng bệnh cho nhím 58
3.5.1. Vệ sinh thức ăn 58
3.5.2. Sát trùng chuồng trại 58
3.5.3. Vệ sinh nhân lực 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
* KIẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT
1
2
3
4
5

Bảng 3.2. Cơ cấu ñàn nhím tại một số nông hộ trên ñịa bàn Hà Nội năm 2013 35
Bảng 3.3. Khẩu phần thức ăn theo trọng lượng cơ thể nhím nuôi trong các nông
hộ tại Hà Nội 37
Bảng 3.4. Nhu cầu dinh dưỡng của nhím tại một số nông hộ tại Hà Nội 38
Bảng 3.4. Kiểm tra thân nhiệt của nhím ở các lứa tuổi nuôi trong nông trại 39
Bảng 3.6. Kết quả kiểm tra tần số mạch của nhím nuôi trong các nông hộ tại Hà
Nội 41
Bảng 3.7. Kết quả kiểm tra tần số hô hấp của nhím nuôi trong các nông hộ tại Hà
Nội 42
Bảng 3.8. Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản của nhím nuôi trong các nông hộ tại
Hà Nội 45
Bảng 3.9. Số con/ lứa ở nhím nuôi trong nông hộ tại Hà Nội 48
Bảng 3.10. Trọng lượng của nhím nuôi trong các nông hộ tại Hà Nội từ lúc sơ
sinh tới cai sữa 50
Bảng 3.11. Những bệnh thường gặp ở nhím nuôi trong các nông hộ tại Hà Nội.52
Bảng 3.12. Kết quả ñiều trị các bệnh thường gặp trên nhím 56

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

vii

DANH MỤC HÌNH ẢNH

STT TÊN HÌNH TRANG

Hình 3.1: Biểu ñồ biểu diễn quy mô ñàn nhím tại các nông hộ ñược
ñiều tra 32

Hình 3.2. Trại nhím Quang Trung, Thọ An, ðan Phượng, Hà Nội 34


ñể thu hồi vốn chuyển sang ngành nghề khác. ðây là một thực trạng rất ñáng
buồn mà ngành nông nghiệp gặp phải không riêng gì người chăn nuôi nhím.
Nguyên nhân của thực trạng trên là do thời gian mới xuất hiện mô hình
nuôi nhím ñã cho hiệu quả kinh tế cao mà không tốn công nuôi nên hàng loạt các
hộ ñã ñầu tư nuôi nhím ồ ạt mà không ñịnh hướng ñược ñầu ra. Suy thoái kinh tế,
thu nhập giảm nên người dân thắt chặt chi tiêu, dẫn ñến tình trạng cung vượt quá
cầu. Một số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vì không có ñầu ra và ñiều kiện kinh tế ñể duy
trì ñã phải “bán tống, bán tháo” ñể vớt vát ñồng vốn chuyển sang sản xuất ngành
nghề khác.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

2

Tuy nhiên, cho ñến nay các tài liệu công trình nghiên cứu về nhím chưa
nhiều, và không phải người dân nào muốn nuôi nhím cũng có ñiều kiện tiếp cận,
hiểu ñược những kỹ thuật chăn nuôi và cách phòng trị bệnh cho nhím.
Việc nghiên cứu các ñặc ñiểm sinh học, sinh lý, sinh hóa các bệnh trên
nhím nuôi có vai trò quan trọng giúp nâng cao hiểu biết, bổ sung thêm nguồn tài
liệu giúp người chăn nuôi có hiệu quả hơn. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu ñề tài: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu lâm sàng, sinh sản và bệnh ở nhím
nuôi trong các nông hộ tại Hà Nội, thử nghiệm ñiều trị.”
* Mục ñích của ñề tài
- Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi nhím ở một số nông hộ tại ñịa bàn Hà
Nội.
- Xác ñịnh một số chỉ tiêu sinh lý, sinh sản của nhím.
- Nghiên cứu một số bệnh thường gặp trên nhím, thử nghiệm ñiều trị.
* Ý nghĩa của ñề tài
- Khái quát tình hình chăn nuôi và hiệu quả mô hình chăn nuôi nhím nông
hộ tại Hà Nội.
- Bổ sung thêm nguồn thông tin, tài liệu chăn nuôi nhím về một số ñặc

1.1.2.1. Nhóm nhím Nam Phi
Theo “Quỹ ðộng vật hoang dã Nam Phi” - African Wildlife Foundation,
Nhóm nhím Nam Phi có 3 giống, ñó là: nhím bờm (Crested porcupine) khá phổ
biến, tiếp theo là nhím Nam Phi - South African porcupine (Hystrix
africaeaustralis) và cuối cùng là nhím ñuôi lông chổi nhỏ hơn, thon thả hơn và
sống cách biệt ở Kenya.
Tên Swahili: Nungunungu.
Tên khoa học: Crested porcupine (Hystrix cristata).
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

4

Nhím bờm Nam Phi là một trong loại gặm nhấm to (thân dài 30 inch, gần
75 cm) và nặng nhất châu Phi (44 bảng, tương ñương 20 kg); tuy nhiên, khá khác
nhau về kích thước. ðầu hơi tròn, mũi ngắn, mắt và tai nhỏ. Chân nhím bờm
ngắn, khoẻ. Bàn chân có 5 ngón và ñuợc bọc bằng các móng sắc, khoẻ mạnh.
Lông tất nhiên cũng như nhím khác: sắc nhọn, chia thành các ñoạn ñen, nâu, hơi
vàng và trắng. Lông lưng, hai sườn, và ñuôi có lẫn với các loại lông mềm khác.
ðộ dài của lông thay ñổi theo bộ phận trên thân, lông lưng giao ñộng từ 2,5 cm
ñến 30 cm. Lông thường nằm bẹp úp với thân, chỉ có khi nào gặp kẻ thù nó mới
dựng và xù lên. Lông cũng dễ bứt ra khỏi da.
1.1.2.2. Nhóm nhím Băc Mỹ
Theo các tư liệu của Trường ðại học Michigan, Viện bảo tàng ñộng vật
(2003) và Bộ môn ñộng vật hoang dã Colorado (2003) thì vùng Bắc Mỹ cũng có
nhím với tên thường gọi là: nhím, nhím Bắc Mỹ, nhím Châu Mỹ (American
Porcupines). Loài nhím này thuộc:
- Bộ phụ (Suborder): Hystricognathi.
- Họ: Erethizontidae.
- Chi (Genus) Erethizon.
- Loài: Erethizon dorsatum.

cái xua ñuổi nhím ñực. Thời gian chửa là 205 –217 ngày và con sinh ra vào tháng
4 ñến tháng 6.
Nhím thường ñẻ một hoặc hai con.
Nhím con nặng 0,5 kg. Sau khi ñẻ 10 ngày nhím con mới mở mắt.
Nhím mẹ nuôi con ñến 6 tháng. Tại phòng thí nghiệm người ta nuôi nhím
con trong vài tháng, nhưng trong cuộc sống hoang dã nhím con có thể tồn tại
ñuợc vài tuần sau khi sinh với thức ăn cây cỏ. Sau 2 tuần nhím con có thể ăn thức
ăn cứng.
Từ 16 ñến 24 tháng tuổi nhím ñạt ñộ thành dục. Nhím có thể sống ñược 10
năm, trong ñiều kiện hoang dã ñược khoảng 5 – 6 năm.
1.2. ðặc ñiểm sinh học của nhím
1.2.1. ðặc ñiểm sống
Nhím là loài ñộng vật có tính gia ñình rất cao, con ñực chỉ chấp nhận ở
cùng những nhím con mà chính do chúng ñẻ ra. Những con nhím cái mà ñã mang
thai với ñực khác khi ghép ñôi với ñực mới thì khi ñẻ ra con ñực sẽ cắn chết ngay
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

6

những con con này. Nhưng ở lứa ñẻ sau thì chúng lại sống với nhau bình thường,
nhím con ñẻ ra phát triển tốt.
Với nhím nuôi thả theo lô tập trung thì nhím khó có khả năng thân thiết
nhau, chúng hay ñánh nhau gặm cụt lông của nhau thậm chí chúng còn giết chết
nhau, những lô nhím ghép một ñực với vài con cái thì chưa thấy nhím cái sinh
sản. Do ñó trong chăn nuôi nhím ñể tránh hiện tượng ñánh nhau, không sinh sản;
nên ghép chúng thành từng ñôi nuôi riêng từng ô, và có thể ñổi ñực giống.
Chính vì thế, trong các chuồng nuôi, nếu ñược quây bằng lưới sắt thưa,
chân chuồng phải ñược xây kín, ñể nhím con không thể tiếp xúc với chuồng bên
ñể ñề phòng con khác cắn.
Ngủ – nghỉ ngơi

Ăn – uống
Nhím rất hay uống nước và ñi tiểu nhiều lần trong ngày. Nước tiểu rất hôi
và có hiện tượng là ít ruồi nhặng gần nơi ở của nhím. ðối với thức ăn chứa nhiều
nước như củ, quả thì việc cho uống nước sẽ giảm ñi. Tuy nhiên với thức ăn thô,
khô như: khoai, ngô, sắn thì cần phải cung cấp ñầy ñủ nước cho nhím.
Sau khi sinh 5 ngày nhím con ñã tập nhấm nháp thức ăn. Nhím nhặt nhạnh
tất cả các loại thức ăn rơi vãi trên nền. Là loài gặm nhấm, nên nhím ăn ñủ thứ
thức ăn, các loại rau, củ quả, gặm cả xương, thân cây khô.
1.2.2. Tập tính ñối phó với kẻ thù
Là một loài vật ñược vũ trang tốt, nguy hiểm, nhím luôn cảnh báo với các
kẻ thù tiềm ẩn khác.
Khi có báo ñộng, nhím dẫm mạnh chân, nghiến răng, dựng và xù ra bộ
lông ñiển hình của loài này. Khi gặp kẻ thù thì nhím rung ñuôi, những lông
chuông này tạo thành một tiếng kêu “lách cách”, “lè xè” ñể doạ nạt kẻ thù và
thông báo với những con vật cùng ñàn. Nếu kẻ thù cứ tiếp tục tấn công thì nó sẽ
lùi lại và chọc lông vào kẻ thù.
1.2.3. Tập tính kiếm ăn
Nhím thích ñi dọc ñường, lối mòn và ban ñêm chúng có thể có thể ñi xa
ñến 9 dặm ñể kiếm ăn. Thức ăn chính của nó chủ yếu là rễ cây, củ quả, hoa quả
tự nhiên nhưng cũng rất thích ăn các loại củ quả do ngiười trồng như sắn, khoai
lang và cà rốt. Mặc dù là ñộng vật ăn chay, nhưng chúng cũng thích ăn cả xương
ñộng vật, có thể do thiếu can xi, và các loại khoáng chất khác.
1.2.4. Thức ăn cho nhím
Thức ăn cho nhím rất ña dạng và phong phú như: các loại củ, quả, rễ cây,
lá cây, các loại rau, cỏ; các loại côn trùng, sâu bọ, giun ñất; xương ñộng vật,…
Nhím thích ăn và ăn nhiều là: bí ñỏ, chuối tây, củ dong riềng, ñậu tương,
ñu ñủ, khoai lang, khoai tây, ñậu phộng, Mía cây, bắp hạt, khoai mì, sắn dây củ,
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

8

khác như: tuổi, giới tính, trạng thái cơ thể, Ở gia súc non bao giờ thân nhiệt
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

9

cũng cao hơn gia súc già do ở gia súc non quá trình trao ñổi chất diễn ra mạnh
hơn ở gia súc già. Gia súc ñực có thân nhiệt cao hơn gia súc cái. Cùng ở một gia
súc nhưng trạng thái cơ thể khác nhau cũng có thân nhiệt khác nhau: khi ăn no
thân nhiệt cao hơn khi gia súc ñói, khi gia suc mang thai thân nhiệt cao hơn khi
gia súc ở trạng thái bình thường không mang thai. Bên cạnh ñó, thời gian trong
ngày, chế ñộ làm việc cũng gây ảnh hưởng lớn thân nhiệt của mỗi gia súc. Thân
nhiệt của gia súc thường cao hơn vào buổi chiều sau ñó giảm dần và thấp nhất vào
nửa ñêm. Thân nhiệt của gia súc bắt ñầu tăng vào buổi sáng. Ví dụ thân nhiệt của
trâu: Buổi sáng là 38,3
0
C, buổi trưa là 38,7
0
C, buổi chiều là 38,8
0
C. Gia súc làm
việc mệt nhọc hoặc làm việc dưới trời nắng nóng thì thân nhiệt cao hơn bình
thường. Nhiệt ñộ ở từng bộ phận của cơ thể gia súc cũng có sự khác nhau. Nhiệt
ñộ ño ở trực tràng bao giờ cũng thấp hơn nhiệt ñộ của máu. Nhiệt ñộ ở những vùng
xa tim luôn thấp hơn những vùng gần tim. Nhưng thông thường ñể xác ñịnh thân
nhiệt của một gia súc ta thường xác ñịnh nhiệt ñộ ở trực tràng của gia súc ñó.
Nhiệt ñộ của cơ thể chủ yếu ñược sinh ra ở cơ bắp chiếm 70% tổng lượng
nhiệt. Ngoài ra gan, thận và các tuyến cũng có tác dụng sinh nhiệt (6 -7%). Các
mô xương, sụn và các mô liên kết ít sinh nhiệt. Trong ñiều kiện cơ hoạt ñộng
mạnh, lượng nhiệt nó sinh ra cao gấp 4-5 lần bình thường. Còn sự tỏa nhiệt nhờ
một số cơ quan như: da (75-85%); phổi (9-10%); phần còn lại nhờ ñường tiêu

sự ảnh hưởng nhất dịnh ñến nhịp tim. Trong một ngày nhịp tim buổi sáng chậm
và tăng dần vào buổi chiều. Khi nhiệt ñộ cao, thân nhiệt tăng, tinh thần hưng
phấn thì nhịp tim cũng tăng. Gia súc ở trạng thái no hoặc khi vận ñộng cũng ñều
làm nhịp tim tăng lên.
Khi tim co bóp, một lượng máu ñược ñẩy vào mạch quản làm cho mạch
quản mở rộng, thành mạch quản giãn ra, sau ñó nhờ sự ñàn hồi của thành mạch
quản, mạch quản tự co lại ñẩy máu ra khỏi lòng mạch, tiếp tục như vậy tạo thành
một chu kỳ và gây ra hiện tượng mạch ñập. Do ñó, nhịp ñộ mạch ñập tương
ñương với nhịp tim. Vì vậy, ngoài phương pháp nghe nhịp tim trực tiếp bằng ống
nghe người ta có thể bắt mạch ñể xác ñịnh nhịp tim. Tuy nhiên, không phải loài
gia súc nào cũng bắt ñược mạch như lợn chúng ta rất khó tìm ñược mạch ñập của
nó, và vị trí bắt mạch ở mỗi loài gia súc cũng khác nhau. Sự hoạt ñộng của tim,
mạch chịu sự chi phối của hai hệ thống là hệ thống thần kinh và thể dịch gọi là cơ
chế thần kinh và cơ chế thể dịch.
1.3.3. Tần số hô hấp
Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs. (2003), tần số hô hấp hay nhịp hô hấp là
số lần thở ra và hít vào trong một phút. Tần số hô hấp thể hiện quá trình trao
ñổi khí giữa phổi và môi trường bên ngoài.
Oxy là một dưỡng khí rất cần cho ñộng vật sống. Tuy nhiên chỉ có 1% oxy
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

11

qua da vào các mao mạch. Vì vậy, phần lớn nhu cầu oxy của cơ thể ñược cung
cấp bằng con ñường hô hấp qua phổi. Nhờ có quá trình hô hấp mà cơ thể lấy
ñược oxy từ môi trường bên ngoài vào cơ thể ñi nuôi các mô bào, ñồng thời thải
khí cacbonic và các sản phẩm dị hóa ra ngoài môi trường. Mặt khác, hô hấp còn
tham gia vào quá trình ñiều tiết nhiệt của cơ thể ñộng vật.
Tần số hô hấp phụ thuộc vào các yếu tố: Cường ñộ trao ñổi chất, ñặc ñiểm
sinh học của loài, giống vật nuôi, tầm vóc, tuổi, tốc ñộ sinh trưởng và phát

hô hấp:
+ Phương thức hô hấp thể ngực bụng là phương thức hô hấp có sự tham
gia của cả hai loại cơ là cơ hoành và cơ gian sườn. Phương thức hô hấp này biểu
hiện ở những gia súc khỏe mạnh bình thường.
+ Phương thức hô hấp thể bụng: là phương thức hô hấp xảy ra chủ yếu
nhờ tác ñộng của cơ hoành. Phương thức hô hấp này thường xảy ra khi gia súc
mắc bệnh ở các cơ quan trong xoang ngực như tim, phổi, hoặc do xoang ngực bị
tổn thương.
+ Phương thức hô hấp thể ngực là phương thức hô hấp chủ yếu chịu tác
ñộng của cơ gian sườn. ðây thường là phương thức hô hấp của những gia súc
mắc các bệnh ở xoang bụng như: viêm dạ dày ruột, chướng hơi, bội thực, tắc
ruột, lồng ruột, hoặc ở gia súc dang mang thai.
1.4. ðặc ñiểm sinh lý sinh sản của nhím
1.4.1. Sự thành thục về tính và thể vóc của nhím
* Sự thành thục về tính
Theo Trần Tiến Dũng và c.s (2002), Thành thục về tính ñược tính từ lúc
con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Khi ñó các bộ phận sinh
dục ñã hoàn thiện và có thể bắt ñầu hoạt ñộng sinh sản. Thành thục về tính sớm
hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các ñiều kiện ngoại cảnh cũng như
chăm sóc nuôi dưỡng.
- Một cơ thể ñộng vật ñược gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục
ñã phát triển căn bản hoàn thiện, dưới tác ñộng của thần kinh và thể dịch con vật
xuất hiện những phản xạ sinh dục. Khi ñó con cái bên trong buồng trứng có
những noãn bao chín và tế bào trứng rụng còn con ñực có tinh trùng trong dịch
hoàn và có hiện tượng phóng tinh.
Những giống có thể vóc nhỏ thường xuất hiện thành thục về tính sớm hơn
những giống có thể vóc lớn. Những giống thuần hóa sớm thì tính thành thục sớm
hơn những giống thuần hóa muộn. ðộng vật nuôi thì thành thục sớm hơn thú
rừng.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

sẽ làm ảnh hưởng ñến khả năng sinh dục, làm suy giảm ñến khả năng giao phối.
- Theo Nguyễn Lân Hùng (2009): Tuổi thành thục của nhím cái thường
sớm hơn nhím ñực. Vì vậy, nên chọn nhím ñực già tuổi hơn nhím cái là từ 3-5
tháng tuổi hoặc hơn nữa.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

14

* Các yếu tố ảnh hưởng ñến tính thành thục ở ñộng vật
Mỗi loài ñộng vật thành thục về tính khác nhau, giống gia súc nhỏ thành
thục về tính sớm hơn giống to, giống thuần thành thục về tính sớm hơn giống lai,
vật nuôi thành thục về tính sớm hơn thú rừng.
Giống nhím ở Việt Nam thành thục về tính sớm hơn nhím ở Châu Mỹ,
nhím ở Châu Mỹ 16-24 tháng tuổi mới ñạt ñộ thành thục.
Khí hậu và nhiệt ñộ cũng ảnh hưởng tới sự thành thục về tính của nhím.
Những giống nuôi trong khí hậu nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn
những giống nuôi ở vùng có khí hậu lạnh.
Việc chăn thả chung giữa ñực và cái cũng làm cho chúng sẽ thành thục về
tính sớm hơn so với chăn thả riêng biệt.
* Thành thục về thể vóc
Một cơ thể ñộng vật ñược gọi là thành thục về thể vóc khi toàn bộ cơ quan
ñã phát triển hoàn thiện.
Như ñã tìm hiểu ở trên thì thành thục về thể vóc luôn muộn hơn so với
thành thục về tính.
1.4.2. Chu kỳ tính
• Khái niệm
Là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể cái sau khi cơ thể ñã phát
triển hoàn hảo và cơ quan sinh dục không có quá trình bệnh lý thì bên trong
buồng trứng có xuất hiện quá trình noãn bao thành thục chín và thải trứng. ðặc
biệt là cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến ñổi và các biến ñổi ñó lập ñi

rõ nét nhất. Hormone này tác ñộng lên buồng trứng làm cho bao noãn phát dục,
thành thục, khi ñó tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa ñầy
trong xoang bao noãn. Lúc này nhím ñang hưng phấn mạnh mẽ.
Giai ñoạn này chia làm hai pha:
- Trước chịu ñực: Con vật biểu hiện hưng phấn cao ñộ, ñứng ngồi không yên,
phá chuồng, ăn uống giảm, bỏ ăn, trạng thái ngẩn ngơ, thích con khác nhảy lên.
- Chịu ñực: Con vật thích gần con ñực, khi gần con ñực thì luôn ở tư thế
sẵn sàng chịu ñực, ñuôi cong lên và lệch sang một bên, 2 chân sau dạng ra và hơi
khụy xuống sẵn sàng chịu ñực.
* Biểu hiện ñộng dục ở nhím cái.
Theo Võ Văn Sự, (2006): Những ngày ñộng dục nhím cái tiết ra chất nhờn
lẫn máu, với khối lượng ước tính 150-200cc. Khi nhím cọ vào nền chuồng hoặc
máng ăn, chất nhờn sẽ ñuợc ñẩy ra và dính vào nơi nằm. Một vài ngày chất nhờn
này khô ñi nhím lại trở lại bình thường.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

16

- Nhím cái nuôi nhốt lâu có biểu hiện ñộng dục kém. Mỗi lần ñộng dục chỉ
xuất hiện vết ướt xung quanh âm hộ.
- Thời gian ñộng dục 2-3 ngày.
- Trong thời gian nuôi con nhím không có biểu hiện ñộng dục lại sau khi
sinh. Biểu hiện ñộng dục thường diễn ra vào ban ñêm.
Những quan sát trên nhím trong thời gian ñộng dục thường có những biểu
hiện: nhím ñi lại nhiều, phá chuồng, lông dựng ñứng, chân ñạp xuống ñất, quấn
quýt con ñực.
Cuối giai ñoạn ñộng dục, tuyến yên tiết LH (Lutein Stimulin Hormone).
FSH, LH cùng kích thích làm cho trứng chín và rụng. Ở giai ñoạn này, nếu tế bào
trứng gặp tinh trùng sẽ xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử, ñến khi ñẻ xong
một thời gian nhất ñịnh thì chu kỳ sinh dục mới lại bắt ñầu. Nếu không xảy ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status