GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN ĐIỀU LỆ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 23

Học viện ngân hàng Khoa tài chính
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTCK : Thị trường chứng khoán
UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nhà nước
BTC : Bộ tài chính
1
Học viện ngân hàng Khoa tài chính
NĐT : Nhà đầu tư
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DN : Doanh nghiệp
CP : Cổ phiếu
TPCĐ : Trái phiếu chuyển đổi
TGTC : Trung gian tài chính
TTLKCK : Trung tâm lưu ký chứng khoán
SGDCK : Sàn giao dịch chứng khoán
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2
Học viện ngân hàng Khoa tài chính
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay thì vốn là yếu tố vô
cùng quan trọng đối với các DN. Vì thế với việc phát triển sôi động của thị
trường chứng khoán trong nước đang là một kênh huy động vốn đầu tư rất
tiềm năng và hiệu quả cho doanh nghiệp.
Nguồn vốn mà các doanh nghiệp huy động được trên thị trường chứng
khoán là những nguồn vốn có tính chất trung và dài hạn tạo điều kiện cho
doanh nghiệp sử dụng vốn một cách lâu dài và là nguồn bổ sung vốn vô cùng
quan trọng cho các doanh nghiệp. Thị trường chứng khoán mới được thành
lập và đi vào hoạt động ở nước ta tính đến nay được hơn 11 năm nhưng nó đã
trở thành một kênh huy động vốn vô cùng quan trọng cho các doanh nghiệp,
cung cấp một lượng vốn lớn. Tuy nhiên trong một vài năm gần đây tình hình

1.1.2 Đặc điểm và chức năng của thị trường chứng khoán
1.1.2.1. Đặc điểm chủ yếu của Thị trường chứng khoán:
+ Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người
cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian
tài chính;
+ Là thị trường gần với Thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Mọi người đều tự do
tham gia vào thị trường. Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng
khoán, mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu;
+ Về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát
hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị
4
Học viện ngân hàng Khoa tài chính
trường thứ cấp. Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể
chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn.
1.1.2.2. Chức năng của thị trường chứng khoán
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
phần mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của
công ty, thị trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thông qua thị trường chứng khoán,
chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn
vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các
nhu cầu chung của xã hội.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu
tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên
thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà
đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và
sở thích của mình. Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể

Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được
chia thành 3 nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan
đến chứng khoán.
Nhà phát hành
6
Học viện ngân hàng Khoa tài chính
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán -
hàng hoá của thị trường chứng khoán.
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
chính phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ.
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị
trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá
nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
- Các nhà đầu tư cá nhân:
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia
mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tuy
nhiên, trong đầu tư thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì
rủi ro càng lớn và ngược lại. Chính vì vậy các nhà đầu tư cá nhân luôn phải
lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độ chấp
nhận rủi ro của mình.
- Các nhà đầu là có tổ chức:
Nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường
xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các tổ chức
này thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh
nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Một số nhà

Học viện ngân hàng Khoa tài chính
Các tổ chức đó liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý nhà nước:
Đầu tiên, thị trường chứng khoán hình thành một cách tự phát khi có sự
xuất hiện của cổ phiếu và trái phiếu và hầu như chưa có sự quản lý. Nhưng
nhận thấy cần có sự bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư và đảm bảo sự hoạt
động bình thường, ổn định của thị trường chứng khoán, bản thân các nhà kinh
doanh chứng khoán và các quốc gia có thị trường chứng khoán hoạt động cho
rằng cần phải có cơ quan quản lý và giám sát về hoạt động phát hành và kinh
doanh chứng khoán. Chính vì vậy, cơ quan quản lý, giám sát thị trường chứng
khoán đã ra dời.
Cơ quan quản lý, giám sát thị trường chứng khoán được hình thành
dưới nhiều mô hình hoạt động khác nhau, có nước do các tổ chức tự quản
thành lập, có nước cơ quan này trực thuộc chính phủ, nhưng có nước lại có sự
kết hợp quản lý giữa các tổ chức tự quản và nhà nước. Nhưng nhìn chung cơ
quan quản lý này do chính phủ (nhà nước) của các nước thành lập, nhằm mục
đích bảo vệ lợi ích của người đầu tư và bảo đảm cho thị trường chứng khoán
hoạt động lành mạnh, suôn sẻ và phát triển vững chắc. Cơ quan này có thể có
những tên gọi khác nhau, tuỳ thuộc từng nước và nó được thành lập để thực
hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán:
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty
chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán,
được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói
riêng và cho toàn ngành chửng khoán nói chung. Hiệp hội các nhà kinh doanh
chứng khoán thường là một tổ chức tự quản, thực hiện một số chức năng
chính như sau :
9
Học viện ngân hàng Khoa tài chính
+ Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán.

mang nhiều mức hệ số tín nhiệm cho các phát hành nợ của nó.
Hệ số tín nhiệm được biểu hiện bằng các chữ cái hay chữ số, tuỳ theo
quy định của từng công ty xếp hạng. Ví dụ, theo hệ thống xếp hạng của
Moody's sẽ có các hệ số tín nhiệm được ký hiệu là Aaa, Aa1, Baa1, hay B1
theo hệ thống xếp hạng của S&P, có các mức xếp hạng AAA, AA+, AA, AA-,
A+, A
Các nhà đầu tư có thể dựa vào các hệ số tín nhiệm do các công ty đánh
giá hệ số tín nhiệm cung cấp để cân nhắc đưa ra quyết định đầu tư của mình.
1.1.2.4. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là các hàng hoá trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm
tra trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hoá thông thường mà phải
dựa trên cơ sở các thông tin có liên quan. Vì vậy thị trường chứng khoán phải
được xây dựng trên cơ sở hệ thung công bố thông tin tốt. Theo luật định, các
bên phát hành chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ trung thực và kịp
thời những thông tin có liên quan tới tổ chức phát hành, tới đợt phát hành.
Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu cũng như theo các
chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng, sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan
khác.
Việc công khai thông tin về thị trường chứng khoán phải thoả mãn các yêu cầu:
11
Học viện ngân hàng Khoa tài chính
Chính xác: các thông tin công khai nhưng không xác thực hoặc không
tin cậy có thể dẫn tới những quyết định đầu tư sai lầm của các nhà đầu tư, ảnh
hưởng tới quyền lợi của các nhà đầu tư, vi phạm nguyên tắc công bằng trên
thị trường chứng khoán. do đó, đòi hỏi thông tin cần phải chính xác.
Kịp thời: nếu các thông tin công khai nhưng không kịp thời, chậm trễ,
lạc hậu thì sẽ gây thiệt hại cho các nhà đầu tư.
Dễ tiếp cận: nghĩa là công khai thông tin thị trường chứng khoán

giữa máy chủ của sở giao dịch với hệ thống máy của các công ty chứng khoán
thành viên. Các lệnh mua bán được truyền đến máy chủ, máy chủ tự động khớp
các lệnh mua - bán có giá phù hợp và thông báo kết quả cho những công ty
chứng khoán có các lệnh đặt hàng được thực hiện.
Căn cứ vào phương thức đấu giá. có hình thức đấu giá định kỳ và đấu
giá liên tục.
Đấu giá đinh kỳ: là hệ thống trong đó các giao dịch chứng khoán được
tiến hành tại một mức giá duy nhất bằng cách tập hợp tất cả các đơn đặt hàng
mua và bán trong một khoảng thời gian nhất định. Đấu giá định kỳ là phương
thức xác định mức giá cân bằng giữa cung và cầu. Phương thức đâu giá này
rất có hiệu quả trong việc hạn chế biến động giá quá mức phát sinh từ việc
phối hợp những đơn đặt hàng được chuyển tới thị trường một cách bất thường
như trong trường hợp đấu giá liên tục. Tuy nhiên, phương thức này không
phản ánh kịp thời những thông tin về thị trường và hạn chế tính cấp thời của
các giao dịch. Do vậy, hình thức này chỉ thích hợp với giai đoạn đầu của thị
13
Học viện ngân hàng Khoa tài chính
trường chứng khoán khi số lượng khách hàng và khối lượng giao dịch nhỏ,
không sôi động.
Đâu giá liên tục: là hệ thống trong đó việc mua bán chứng khoán được
tiến hành liên tục bằng cách phối hợp các đơn đặt hàng của khách hàng ngay
khi có các đơn đặt hàng có thể phối hợp được. Đặc điểm của đấu giá liên tục
là giá cả được xác định qua sự phản ứng tức thời của thông tin và các nhà dầu
tư có thể nhanh chóng phản ứng lại trước những thay đổi trên thị trường. Hình
thức đấu giá này thích hợp với những thị trường có khối lượng giao dịch lớn
vả nhiều đơn đặt hàng.
Khi thực hiện nguyên tắc đấu giá bao giờ cũng tuân thủ theo các thứ tự
ưu tiên về giá (giá đặt mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất), về thời gian,
về khách hàng (ưu tiên các nhà đầu tư cá nhân trước), về quy mô lệnh (cùng
một mức giá, ưu tiên các lệnh có khối lượng lớn hơn).

- Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán
thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc
về nhà phát hành. Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người
phát hành chứng khoán mà chuyển vận giữa những người đầu tư chứng khoán
trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường
chứng khoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp.
- Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do,
giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định.
15
Học viện ngân hàng Khoa tài chính
- Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể
mua và bán các chứng khoán nhiều lân trên thị trường thứ cấp.
Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường, thị trường chứng
khoán được phân thành thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khoán)
và phi tập trung (thị trường OTC)
Cũng có thể phân loại thị trường chứng khoán theo tính chất tập trung
của thị trường (tính chất tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch
được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất). Khi đó, thị trường chứng
khoán bao gồm sở giao dịch chứng khoán (thị trường tập trung), và thị trường
OTC (thị trường phi tập trung). Tại sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch
được tật trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và
tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch. Trên thị
trường OTC, các giao dịch (cả sơ cấp lẫn thứ cấp) được tiến hành qua mạng
lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với
nhau bằng mạng điện tử. Giá cả trên thị trường này được hình thành theo
phương thức thoả thuận.
Căn cứ vào hàng hoà trên thị trường, thị trường chứng khoán cũng có
thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái
phiếu, thị trường các công cụ chứng khoản phái sinh
Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua

một lợng cổ phiếu mới và chào bán cho cổ đông và các nhà đầu t để thu lại
tiền mặt.
17
Hc vin ngõn hng Khoa ti chớnh
Để phát hành cổ phiếu mới ra công chúng, công ty phải chấp hành các
điều kiện phát hành mới do pháp luật quy định. Những quy định này là khác
nhau ở mỗi nớc tại các thời điểm khác nhau và đợc chia thành các tiêu chuẩn
định tính và định lợng.
Các tiêu chuẩn định tính thờng là : chất lợng của các báo cáo tài chính,
phơng án khả thi về sử dụng vốn thu đợc từ đợt phát hành, cơ cấu tổ chức của
công ty, uy tín và kinh nghiệm công tác cuả ban lãnh đạo công ty v.v
Các tiêu chuẩn định lợng thờng thay đổi theo tình hình hoạt động của
ttck và theo quy định cuả pháp luật. Đó thờng là các tiêu chuẩn về quy mô
vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh trong một số năm liên tục gần nhất tính đến
ngày xin phép phát hành, tổng giá trị đợt phát hành
Trờng hợp một số nớc khác, công ty khi muốn phát hành cổ phiếu ra
công chúng cần phải tiến hành một số thủ tục pháp lý nh : Xây dựng và phê
duyệt đề án huy động vốn mới, thông báo trên các bản tin về việc phát hành
cổ phiếu mới, đánh giá phát hành, quyền đặt mua, v.v
Khi công ty thực hiện phát hành thêm cổ phiếu mới thì quyền lợi của
các cổ đông cũ sẽ bị suy giảm. Để bù đắp thiệt hại này, công ty sẽ u tiên cho
các cổ đông cũ quyền đặt mua u đãi. Quyền đặt mua u đãi là quyền cho phép
cổ đông hiện tại có cơ hội mua cổ phần trong đợt phát hành mới trớc khi cổ
phần này đợc cung ứng cho ngời khác. Quyền đặt mua u đãi đợc xác định tỷ lệ
với số cổ phiếu mà cổ đông đang nắm giữ. Công ty sẽ phát hành quyền mua và
phân phối cho cổ đông theo số cổ phiếu mà họ đang nắm giữ.
Cổ đông sẽ đợc sử dụng quyền đặt mua u đãi của mình trong thời hạn
xác định để mua cổ phiếu mới nhằm duy trì tỷ lệ quyền sở hữu trong công ty
hoặc cũng có thể nhợng bán quyền này cho ngời khác.
Khi thực hiện đặt mua cổ phiếu mới có hai cách đặt mua đó là đặt mua hạn

19
Hc vin ngõn hng Khoa ti chớnh
thức tăng vốn này. Hơn nữa, hình thức này sẽ làm công ty tốn một khoản chi
phí không nhỏ gọi là chi phí phát hành và các chi phí khác có liên quan.
1.2.2 Tng vn t qu
Đây là hình thức tăng vốn mà nguồn để phát hành cổ phiếu sẽ đợc lấy
từ các quỹ dự trữ nh lợi nhuận để lại, thặng d vốn cổ phần, v.v Phần vốn trích
từ quỹ dự trữ sẽ đợc nhập vào vốn điều lệ của công ty. Các cổ đông cũ sẽ đợc
cấp thêm cổ phiếu mới tơng ứng với tỷ lệ vốn góp mà không phải góp thêm
tiền.
Có hai hình thức trích quỹ dự trữ nhập vốn:
Một là, Tăng giá trị cổ phiếu cũ. Theo cách thứ nhất thì sẽ lấy phần
quỹ dự trữ cần nhập vào vốn chia cho tổng số cổ phiếu hiện có. Phần chia
thêm này coi là giá trị tăng thêm của mỗi cổ phiếu.
Hai là, Phát hành thêm cổ phiếu mới cho cổ đông. Với cách thứ hai thì
công ty sẽ chuyển một phần dự trữ cần nhập vào vốn thành một số cổ phiếu t-
ơng ứng rồi chia cho số cổ phiếu hiện có. Nh vậy mỗi cổ đông đợc chia thêm
một số lợng cổ phiếu mới tơng ứng với tỷ lệ góp vốn của họ ở công ty. Khi
tăng vốn dới hình thức này, giá trị các cổ phiếu cũ cũng bị suy giảm. Vì vậy ở
một số nớc, gắn với cổ phiếu cũ sẽ là quyền đợc cấp, nhng hiện nay ở Việt
Nam thì không phát hành quyền cấp mà cổ phiếu sẽ đợc tự chuyển vào tài
khoản của cổ đông.
Hình thức phát hành cổ phiếu từ quỹ còn đợc gọi là phát hành thêm cổ
phiếu mà không đi kèm với việc tăng nguồn tài chính. Đây là trờng hợp công
ty không thu thêm tiền của cổ đông, nguồn để phát hành cổ phiếu thởng đợc
lấy từ lợi nhuận giữ lại hoặc từ thặng d vốn cổ phần.
Nh chúng ta biết :
Vốn chủ sở hữu = Vốn điều lệ + Lợi nhuận giữ lại + các quỹ trích lập + thặng
d vốn
20

cổ phiếu lu hành tăng lên gấp đôi. Điều này dẫn đến giá trị cổ phiếu bị pha
loãng, làm cho giá thị trờng của cổ phiếu đó sụt giảm.
Quan điểm chuẩn về cổ phiếu thởng là nó không làm thay đổi giá trị tài
sản của nhà đầu t cũng nh cuả doanh nghiệp. Theo ví dụ sau, giá trị thị trờng
của ACB là 660.000 $. Sau khi chia cổ phiếu thởng, số cổ phiếu lu hành là
110.000 cổ phiếu. Nh vậy, giá trị mỗi cổ phiếu bây giờ sẽ là 660.000 : 110.000
= 6 $. Trờng hợp cổ đông nắm giữ 1000 cổ phiếu trớc khi chia, có giá
6.600$. Sau khi chia cổ phiếu thởng, cổ đông đó có 1.100 cổ phiếu và tổng
giá trị của nó có thể sẽ là 1.100 x 6$ 6.600$.
Nh vậy, cổ phiếu thởng thực chất không làm ảnh hởng về mặt kinh tế.
Và trên lý thuyết việc xác định tỷ lệ chia càng cao thì giá trị cổ phiếu càng
giảm và sẽ ảnh hởng đến giá trị thị trờng của số cổ phiếu ban đầu mà cổ đông
nắm giữ.
Với hình thức tăng vốn này, công ty cổ phần sẽ có đợc nhiều cái lợi
hơn. Cái lợi đầu tiên đó là không phải chia sẻ quyền sở hữu công ty, hơn nữa
chi phí cho đợt tăng vốn này thấp hơn so với hình thức tăng vốn thu bằng tiền
mặt do công ty không phải phụ thuộc vào thị trờng vốn nên tránh đợc chi phí
huy động vốn.
Bên cạnh những u điểm của mình thì hình thức này cũng không tránh
khỏi đợc những nhợc điểm vốn có. Đó là hình thức tăng vốn này chỉ áp dụng
đối với các công ty lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn. Hình thức này không
thể áp dụng thờng xuyên vì nó làm ảnh hởng tới quyền lợi của cổ động
1.2.3 Tng vn bng cỏch phỏt hnh trỏi phiu chuyn i
Hình thức tăng vốn thứ ba là một hình thức tăng vốn đặc biệt hơn, bở vì
nó cũng gắn với việc phát hành thêm cổ phiếu nhng không phải ngay tại thời
điểm hiện tại.
22
Hc vin ngõn hng Khoa ti chớnh
Với hình thức tăng vốn này thì công ty sẽ phát hành một lợng trái phiếu
chuyển đổi cho các cổ đông và nhà đầu t, tới một thời điểm nhất định, số lợng

ví dụ trên tỷ lệ chuyển đổi là 1/10.
Giá chuyển đổi và tỷ lệ chuyển đổi phụ thuộc vào các yếu tố sau :
- Giá chứng khoán tại thời điểm phát hành.
- Triển vọng và tình hình lợi nhuận của công ty.
- Xu hớng vận động của thị trờng.
- Số tiền công ty trả lãi.
Khi chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, mức vốn điều lệ của công ty
sẽ tăng lên tơng ứng.
Ưu điểm mà hình thức tăng vốn này mang lại đó là tạo ra thế chủ động
cho công ty trong điều hành kế hoạch kinh doanh, chủ động trong công tác
nguồn vốn, đặc biệt là giúp cho ban lãnh đạo công ty có đợc một kế hoạch sử
dụng vốn hiệu quả trớc khi chuyển đổi. Thêm vào đó, một u điểm lớn của hình
thức này đó là giúp cho doanh nghiệp huy động một lợng vốn rất lớn mà các
hình thức huy động khác không thực hiện đợc.
Khi sử dụng hình thức này, nhà đầu t cần cân nhắc tới mức giá chuyển
đổi và thời gian chuyển đổi. Về mức giá, ngời đầu t sẽ so sánh mức giá
chuyển đổi với giá cổ phiếu hiện hành cũng nh mức giá cổ phiếu dự kiến trong
tơng lai ( thời điểm đợc chuyển đổi ) để quyết định đầu t. Và cũng cần quan
tâm tới tỷ lệ chuyển đổi có đợc công ty công bố rõ ràng hay không. Bởi sự
không minh bạch của những yếu tố này sẽ tạo ra rủi ro rất lớn cho nhà đầu t
khi quyết định đầu t vào trái phiếu chuyển đổi.
24
Hc vin ngõn hng Khoa ti chớnh
1.2.4 Tng vn bng cỏch tr c tc bng c phiu.
Lợi nhuận của công ty đợc chuyển thành cổ tức dới dạng cổ phiếu và trả
cho các cổ đông hiện hữu. Cổ tức cổ phiếu có đợc là tuỳ thuộc vào tỷ lệ phân
bổ chứng khoán sở hữu của doanh nghiệp tới các cổ đông.Ngợc lại với việc
chi trả cổ tức bằng tiền mặt, các công ty sẽ phát hành một lợng cổ phiếu mới
để trả cổ tức bằng cổ phiếu cho cổ đông.
Hình thức tăng vốn này cũng gần giống với hình thức tăng vốn bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status