1
LỜI MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Û bất kỳ một môi trường đầu tư nào, trước khi bắt đầu một quyết
đònh đầu tư, lợi nhuận và rủi ro là hai yếu tố được nhà đầu tư
quan tâm hàng đầu . Tuy nhiên, trong đầu tư thì lợi nhuận lại luôn gắn với
rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại. Vì vậy, một
nguyên tắc chung được tất cả các nhà đầu tư đặt ra là tìm kiếm mức lợi
nhuận tối đa trên cơ sở giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất.
Đối với Thò trường chứng khoán cũng không nằm ngoài nguyên tắc
nói trên, phải thu hút được các nhà đầu tư quan tâm, tham gia và việc tạo
lòng tin để cho họ thấy được lợi ích khi đầu tư vào TTCK là điều đặc biệt
quan trọng và có ý nghóa thiết thực nhất.
Đặc biệt ở TTCK Việt Nam, sau hơn 5 năm hoạt động gặp không ít
khó khăn, nhưng vẫn là một kênh thu hút đầu tư còn rất mới mẻ, với nền
tảng điều kiện ban đầu chưa thực sự đầy đủ, với kinh nghiệm tổ chức chưa
qua nhiều thử thách, việc thu hút đầu tư qua TTCK Việt Nam đã trải qua
những bước thăng trầm và thực trạng đang gặp không ít khó khăn. Bên
cạnh đó, nhiều nhà đầu tư trên thò trường vì chưa có kinh nghiệm và thiếu
hiểu biết về kiến thức TTCK, nên đã có giai đọan thua lỗ trầm trọng, làm
nhiều nhà đầu tư thất vọng và nản lòng với thò trường. Hiện nay, mặc dù
đã tổ chức những khóa học về phân tích lựa chọn mô hình đầu tư theo các
nguyên tắc nêu trên, song mới chủ yếu dừng ở lý thuyết mà chưa có nhiều
ứng dụng trong thực tiễn.
động đầu tư trên TTCK đạt hiệu quả hơn.
4. PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này là cơ sở để nhà đầu tư cá nhân và tổ chức tham khảo để
phân tích, đánh giá, lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp và hiệu quả
nhất. Đồng thời giúp giảm thiểu rủi ro cho họ khi đầu tư cổ phiếu tập
trung trên TTCK Việt Nam.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu:
+ Phân tích
+ Tổng hợp
6. NHÓM TRIỂN KHAI ĐỀ TÀI:
TS. Trần Quốc Tuấn – Chủ nhiệm đề tài
Cử nhân Hoàng Thò Bảo Chi – Thư ký đề tài
TS. Lý Hoàng nh – Cộng tác viên
Cử nhân Tô thò Mỹ Dung – Cộng tác viên
7. KẾT CẤU ĐỀ TÀI: 3
Nội dung đề tài gồm ba chương:
Lời Mở đầu
Chương I: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả đầu tư cổ phiếu
4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU TRÊN TTCK 1.1. MỨC SINH LỜI VÀ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CỔ
PHIẾU:
1.1.1. HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
1.1.1.1 Khái niệm
Trước hết ta cần hiểu khái niệm về hiệu quảû kinh tế là gì?
Hiệu quả kinh tế là một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là
một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân
lực, tài lực, vật lực, tiền vốn ) để đạt được mục tiêu xác đònh. Từ khái
niệm khái quát này, có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát
phạm trù hiệu quả kinh tế như sau:
K
H
C
tư. Và kết quả đó có thể là lời hoặc lỗ.
1.1.1.2 Các tiêu thức đánh giá hiệu quả đầu tư.
Dưới đây xin đưa ra một số hiệu quả đầu tư trong việc sử dụng
vốn.
Thứ nhất: Số vòng quay toàn bộ vốn (
V
SV
)
V
KD
TR
SV
V
Với
V
SV
là số vòng quay của vốn. Số vòng quay vốn càng lớn
hiệu suất sử dụng vốn càng lớn.
Thứ hai: Hiệu quả sử dụng vốn
K
H
C
Với K là kết quả thu được sau quá trình đầu tư với số vốn đầu tư
ban đầu bỏ ra là C.
mặc dù thu nhập này chỉ có ý nghóa danh nghóa)
Cổ phiếu mới này phát hành kèm theo nghiệp vụ nhập dự trữ
vào vốn
Thu nhập từ chứng quyền hay quyền mua cổ phiếu mới…
- Về đầu tư dài hạn nhất là đối với những người có chiến lược kinh
doanh chứng khoán là mua và giữ thì hai nguồn thu nhập chính là mức độ
tăng giá của cổ phiếu và cổ tức có thể quy trực tiếp ra tiền.
- Những quyền lợi khác như quyền bầu cử và ứng cử, quyền được
cung cấp thông tin,… cũng có giá trò tiền tệ nhưng không thể quy trực tiếp
ra tiền. Theo một cách nào đó, những quyền này thể hiện ra giá cả của cổ
phiếu. Một tin xấu công bố cho cổ đông sẽ làm giá giảm và ngược lại.
Mọi tin tức đều được phản ánh vào giá.
- Đặc biệt đối với khoản đầu tư cổ phiếu điều quan tâm nhất đến
hiệu quả kinh doanh là mức sinh lời, mà mức sinh lời nhà đầu tư nhận
được xuất phát từ hai nguồn:
Thứ nhất: Nhà đầu tư có thể nhận được cổ tức từ việc sở hữu cổ
phiếu. Đây là khoản thu nhập đònh kỳ dưới dạng tiền mặt ( thu
nhập) của khoản đầu tư. Nó luôn luôn lớn hơn hoặc bằng không. 7
Khoản thu nhập cổ tức của cổ phiếu phổ thông thường được chi
trả một năm hoặc nửa năm một lần.
Thứ hai: Ngoài cổ tức, khi nhà đầu tư bán cổ phiếu thì có thể thu
được mức chênh lệch giữa giá bán và giá mua cổ phiếu đó. Mức
1 0
1
1
0 0
P PDIV
R
P P
Trong đó:
8
1
R
là mức sinh lời trong giai đoạn từ khi mua ( thời điểm 0) tới
thời điểm 1 năm sau
1
DIV
là cổ tức thu được trong giai đoạn này
0
P
là giá mua
- Mức sinh lời bình quân số học ( trung bình cộng) và mức sinh
lời trong một khoảng thời gian ( trung bình nhân):
Để tính mức sinh lời của một danh mục đầu tư có nhiều chứng
khoán thành phần hay để tính mức sinh lời của một chứng khoán qua
nhiều kỳ, người ta phải dùng đến các công thức tính trung bình.
Trung bình cộng ký hiệu R và bằng:
1 2 3
...
t
R R R R
R
t
Trong đó:
R
là mức sinh lời bình quân năm
1 2 3
, , ,...,
t
R R R R
là mức sinh lời từng năm trong khoảng
thời gian t năm.
1 2
(1 ) (1 ).....(1 )
t
t
R x R R
- 1
Trong khi tính trung bình nhân, người ta phải cộng mức sinh lời
thành phần với 1.
So sánh hai cách đo mức sinh lời trung bình trên đây, người ta
cho rằng:
- Trung bình cộng thường dùng để ước lượng suất sinh lời kỳ vọng
của một chứng khoán từ những dữ liệu lòch sử và dùng để tính phương sai
và độ lệch chuẩn.
- Khi đo lường hiệu quả đầu tư theo thời gian thì trung bình nhân
chính xác hơn và đáng tin cậy hơn.
- Nói chung thì
R
≥ R
t
hàng năm và khi mức độ biến động của sinh
lời càng cao thì chênh lệch giữa hai giá trò trung bình này càng lớn.
1.1.2.3 Suất sinh lời kỳ vọng
- Chúng ta cần phân biệt hai thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong
đầu tư: suất sinh lời thực hiện và suất sinh lời kỳ vọng.
1
n
k
PkRk
Trong đó: E(
R
): suất sinh lời kỳ vọng
R
k
: suất sinh lời đối với khả năng k
P
k
: xác suất xảy ra R
k
trong thực tế.
Từ công thức trên, có thể nói suất sinh lời kỳ vọng của một chứng
khoán bằng trung bình có trọng số tất cả những suất sinh lời có thể xảy ra,
trong đó trọng số là xác suất của mỗi suất sinh lời khả năng đó.
- Thứ hai ( cách này thường dùng hơn), người ta giả đònh rằng phân
phối xác suất suất sinh lời trong quá khứ, đã thực hiện sẽ lặp lại trong
tương lai. Nếu lòch sử lặp lại, thì khi đó suất sinh lời kỳ vọng sẽ bằng trung
bình cộng suất sinh lời đã thực hiện trong thời gian trước đó.
Khi đó:
của Việt Nam hiện nay giao dòch 3 lần/ ngày). Những thò trường đã phát
triển lựa chọn giao dòch liên tục, nghóa là mỗi lần khớp lệch chỉ tốn chưa
đến 30 giây…
- Với trường hợp thứ nhất, việc ước lượng suất sinh lời theo kiểu
truyền thống là thích hợp.
- Với trường hợp giao dòch liên tục 24h/ 24h, việc lựa chọn giá tham
chiếu cũng rất khó khăn , và suất sinh lời thực sẽ phụ thuộc vào số lần (n)
gộp lợi nhuận vào vốn trong kỳ. Nếu số kỳ tăng lên vô hạn thì suất sinh
lời thực sẽ được ước lượng bằng công thức:
R
r
=e
R
– 1
Trong đó: R
r
: suất sinh lời thực
R: suất sinh lời danh nghóa
e: hằng số e tự nhiên
Theo đònh nghóa, suất sinh lời thực qua n kỳ sẽ bằng R
r
trong công thức
sau:
0
0
Trong đó: Rr: suất sinh lời thực
e: hằng số tự nhiên e
P
n
: giá tại thời diểm n
P
0
: giá tại thời điểm 0
Công thức cuối cùng Rr = ln (P
n
/ P
0
) được sử dụng rộng rãi trên thò
trường tài chính. Nó rất tiện cho việc tính toán và giảm bớt được khá
nhiều bước trong tính toán, nhất là với những thò trường giao dòch liên tục
và sôi động. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này sẽ chỉ dùng cách tính thông
thường, bởi thò trường giao dòch gián đoạn, đònh kỳ, không liên tục.
12
Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR)
Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) là lãi suất chiết khấu mà tại đó NPV
của khoản đầu tư bằng 0.
NPV được tính như sau:
NPV =
)+….+ x
n
E(R
n
) =
1
n
i
x
i
E(R
i
)
Trong đó: E (R
p
): suất sinh lời kỳ vọng của danh mục đầu tư p
x
i
: tỷ trọng của chứng khoán i trong danh mục
n: số loại chứng khoán trong danh mục
E(R
i
): suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán i
1.1.3 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu:
1.1.3.1 Khái niệm về rủi ro:
Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được đònh nghóa là khả năng xảy ra
xu hướng giảm.
Rủi ro không có hệ thống (phi hệ thống):
- Là những rủi ro do các yếu tố nội tại gây ra, nó có thể kiểm soát
được và chỉ tác động đến một ngành hay tới một công ty, một hoặc một số
chứng khoán.
- Các nhân tố như khả năng quản trò, sở thích của người tiêu dùng,
bò kiện tụng, đình công của công nhân là các nhân tố gây ra rủi ro không
hệ thống của công ty. Các nhân tố rủi ro không hệ thống hầu như độc lập
với các nhân tố ảnh hưởng đến toàn bộ thò trường chứng khoán. Vì các
nhân tố này chỉ ảnh hưởng đến một công ty hay một ngành nên chúng cần
được đánh giá trong bối cảnh cụ thể của công ty hay ngành đó.
14
1.1.3.3 Các nhân tố hình thành rủi ro trong hoạt động đầu tư
a. Nguyên nhân hình thành rủi ro hệ thống:
Rủi ro thò trường: Gía cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong
một khoảng thời gian ngắn mặc dù lợi nhuận của hoạt động kinh doanh
công ty hầu như không thay đổi . Không hiếm khi người ta thấy giá cổ
phiếu giảm trong khi lợi nhuận của công ty phát hành cổ phiếu đó lại đang
tăng lên và ngược lại giá cổ phiếu tăng trong khi lợi nhuận công ty giảm.
Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào
cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về
một nhóm các cổ phiếu nói riêng (nói cách khác là sự thay đổi tâm lý của
tăng giá là một rủi ro. Tăng giá chỉ là rủi ro đáng kể đối với
trường hợp bán khống mà thôi.
Rủi ro lãi suất thò trường: Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn đònh
trong giá trò thò trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là
dao động trong mức lãi suất chung. Những biến động về lãi suất này
thường là kết quả thay đổi chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương.
Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi
suất chuẩn ( có thể là lãi suất trái phiếu Chính phủ), khi đó sẽ
có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng
khoán khác, đó là các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty. Nói
cách khác, sự thay đổi về chi phí vay vốn đối với các loại
chứng khoán Chính phủ sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay
vốn của các loại chứng khoán công ty.
Các nhà đầu tư thường coi các chứng khoán của Chính phủ
gần như là không rủi ro. Các loại trái phiếu Chính phủ kỳ hạn
dài thì không có rủi ro thanh toán ( nhưng vẫn có rủi ro về giá
cả). Các mức lãi suất trái phiếu Chính phủ các kỳ hạn khác
nhau được dùng làm chuẩn để xác đònh lãi suất trái phiếu
công ty có thời gian đáo hạn tương tự. Do vậy, những thay đổi
trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới toàn
bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ
phiếu rủi ro nhất.
Mặt khác, thay đổi lãi suất chứng khoán chính phủ sẽ ảnh
hưởng đến cung cầu chứng khoán chính phủ. Ví dụ khi chính
phủ thâm hụt ngân sách trầm trọng sẽ đòi hỏi bổ sung, tăng
cường nguồn tài trợ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ là
Ảnh hưởng của lạm phát đối với nhà đầu tư và đối với công ty niêm
yết như sau:
Đối với nhà đầu tư: Nếu chúng ta cho rằng đầu tư là một sự trì
hoãn tiêu dùng, chúng ta sẽ thấy rằng, khi một người mua
một cổ phiếu, anh ta phải bỏ qua những cơ hội mua sắm các
hàng hóa và dòch vụ trong suốt thời gian mà anh ta nắm giữ
cổ phiếu đó. Ví dụ như trong khoảng thời gian đó, giá của
những sản phẩm và dòch vụ mà nhà đầu tư muốn mua tăng
lên, nhà đầu tư sẽ bò giảm bớt sức mua. Cả lạm phát và thiểu
phát sẽ ảnh hưởng đến sức mua, tuy nhiên nói chung khi nói
đến rủi ro sức mua người ta chỉ có ý đề cập đến lạm phát, bởi
vì ảnh hưởng của thiểu phát đối với sức mua không phổ biến
lắm.
Cũng giống như lãi suất, lạm phát ảnh hưởng đến tất cả mọi chứng
khoán. nh hưởng này thể hiện ở tỷ suất sinh lời kỳ vọng. Khi lạm phát
tăng lên thì tỷ suất sinh lời kỳ vọng cũng đòi hỏi phải tăng lên tương ứng,
sao cho tỷ suất sinh lời thực ít ra là không giảm.
17
Đối với công ty niêm yết: Rủi ro lạm phát ảnh hưởng đến các
công ty niêm yết theo những cách khác nhau và có hậu quả
cũng khác khau. Trường hợp thứ nhất, chi phí đầu vào tăng
nhanh hơn giá cả và dòch vụ tiêu thụ thì lợi nhuận công ty sẽ
giảm xuống và giá cổ phiếu sẽ giảm. Ngược lại, nếu chi phí
đầu vào tăng nhưng giá cả sản phẩm và dòch vụ còn tăng
động kinh doanh mà công ty đang tiến hành. Mỗi công ty có một hệ thống
các rủi ro kinh doanh với mức độ rủi ro khác nhau riêng của mình. Một sự
thay đổi lãnh đạo không đúng lúc và đúng người, một chính sách 18
marketing không hiệu quả, một dự báo sai lầm về tính mùa vụ của sản
phẩm dẫn đến tồn kho quá nhiều… có thể làm giảm đáng kể lợi nhuận của
công ty.
Rủi ro kinh doanh bên ngoài là kết quả của những ảnh hưởng môi
trường kinh doanh đến lợi nhuận của công ty. Mỗi công ty phải đối mặt
với một hệ thống yếu tố rủi ro bên ngoài khá riêng biệt, phụ thuộc vào
môi trường hoạt động riêng biệt của chính họ. Chẳng hạn như:
Sự cạnh tranh của các đối thủ cùng ngành trên thò trường làm
công ty mất thò phần đáng kể.
Sự thay đổi trong chính sách thuế của chính phủ cũng ảnh
hưởng đến lợi nhuận của công ty. Ví dụ chính phủ nâng thuế
tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng xe hơi và rượu… Những chính sách tiền tệ của chính phủ có ảnh hưởng rất lớn
đến thu nhập của các công ty cũng như mức độ sẵn sàng của
các nguồn vốn. Chẳng hạn nếu lãi suất tăng cao thì một số
người tiêu dùng mua trả chậm sẽ không mua nữa, những nhà
bán lẻ cũng như sản xuất bò ảnh hưởng
Chất lượng hàng hóa và dòch vụ của công ty rất kém không
nghóa vụ theo hợp đồng cố đònh, làm tăng rủi ro tài chính và
nguy cơ mất khả năng thanh toán cao hơn
Để xác đònh rủi ro tài chính của một công ty, người ta thường
sử dụng hai loại hệ số:
Loại thứ nhất: Là các hệ số của bảng cân đối kế toán, những hệ số
này cho biết tỷ lệ vốn nợ so với vốn cổ phần, nợ dài hạn so với tổng vốn.
Loại thứ hai: Là nhóm các hệ số về các dòng thu nhập hoặc dòng
tiền sẵn có để thanh toán các chi phí tài chính cố đònh.
Việc tính toán và phân tích các hệ số này sẽ đem lại một đánh giá
khái quát về hai vấn đề cơ bản:
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Cơ cấu vốn và khả năng thanh toán nợ dài hạn.
Trên đây là một số rủi ro chính mà nhà đầu tư cổ phiếu gặp phải.
Việc phân loại cũng chỉ là tương đối. Các rủi ro tác động qua lại với nhau,
là nguyên nhân và là kết quả của nhau. Cũng khó đònh lượng tác động của
từng loại rủi ro. Vậy nên, người ta thường tìm cách đo lường một cách gần
đúng rủi ro tổng thể ( toàn bộ rủi ro) mà không đo, và cũng không thể đo
chúng một cách riêng lẻ, từng rủi ro một.
1.1.3.4 Đo lường rủi ro:
20
a. Đo lường rủi ro theo phương pháp tính phương sai và độ
i
p
i
(R
i
– R )
2δ = δ
2
Trong đó:
R : Trung bình suất sinh lời
δ
2
( R) : Phương sai của suất sinh lời kỳ vọng
δ : Độ lệch chuẩn của suất sinh lời kỳ vọng
p
i
: Xác suất gán cho suất sinh lời Ri có thể xảy ra trong thực
tế, do vậy ∑p
i
= 1
R
i
: Suất sinh lời trường hợp i
n :Số trường hợp suất sinh lời khác nhau .
R
i
: Suất sinh lời trong từng năm
n: Số năm trong kỳ tính toán
Mức độ biến động của suất sinh lời thực tế xung quanh suất sinh lời
trung bình kỳ vọng được đo bằng phương sai và được coi là mức độ rủi ro
tổng thể ( bằng rủi ro hệ thống + rủi ro phi hệ thống). Phương sai hay độ
lệch chuẩn càng thấp chứng tỏ rằng đại đa số suất sinh lời thực tế tập
trung xung quanh suất sinh lời kỳ vọng, và ngược lại nếu phương sai và độ
lệch chuẩn càng cao chứng tỏ có nhiều suất sinh lời thực tế của các kỳ
nằm xa suất sinh lời kỳ vọng, và như vậy rủi ro sẽ cao hơn.
Một cách cực đoan, khi phương sai và độ lệch chuẩn suất sinh lời
của một chứng khoán bằng 0 thì chứng khoán đó không có rủi ro. Tuy
nhiên trên thực tế, hầu như không bao giờ có trường hợp này.
Các tổ chức tài chính và các công ty tư vấn tài chính rất hay đo
lường rủi ro tổng thể của các thò trường và so sánh chúng với nhau. Độ
lệch chuẩn suất sinh lời các thò trường mới nổi thường cao hơn nhiều so
với các thò trường phát triển
Phương pháp đo rủi ro bằng phương sai cũng chỉ là một trong các
cách đo rủi ro một cách gần đúng mà thôi, bởi vì còn có những phương
pháp khác có thể được sử dụng để đo lường sự rủi ro.
b. Đo lường rủi ro hiện đại ( đo lường hệ số β):
Đã có rất nhiều cố gắng tìm kiếm cách đo lường rủi ro. Một trong
các hướng quan trọng nhất là đo lường hệ số β, cũng như việc áp dụng nó
thức hoặc một đồ thò, còn gọi là đường thò trường chứng khoán ( Security
Market Line – SML).
- Coi bêta là phương tiện để đo rủi ro không phân tán được, mô hình
đònh giá tài sản vốn tính suất sinh lời kỳ vọng của một chứng khoán theo
công thức sau:
R
s
= R
f
+ β
s
( R
m
– R
f
)
Trong đó:
R
s
: suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán s
R
f
: suất sinh lời của đầu tư phi rủi ro ( thường là suất sinh lời
của tín phiếu kho bạc) 23
khoán i. Tại các nước, vì thò trường chứng khoán bao gồm rất nhiều chứng
khoán khác nhau nên người ta coi danh mục thò trường đồng nghóa với
danh mục cổ phiếu lập chỉ số chính của thò trường cổ phiếu. Công thức của
mô hình thò trường như sau:
R
it
= α
i
+ β
i
R
Mt
+ e
itTrong đó: R
it
: suất sinh lời của chứng khoán i tại kỳ t
α
i
: hằng số. Hằng số nàylà suất sinh lời của chứng khoán i khi
suất sinh lời của thò trường bằng 0. 24
β
i
: Độ dốc của đường hồi quy. Hệ số này cho thấy mức độ nhạy
s
là suất sinh lời của chứng khoán s
R
M
là suất sinh lời của thò trường
Theo mô hình thò trường kể trên ta có:
R
it
= α
i
+ β
i
R
Mt
+ e
itDo vậy rủi ro tổng thể của chứng khoán i sẽ là:
Var (R
it
) = Var (α
i
+ β
i
R
Mt
+ e
it
)
+ Var (e
it
)
Mặt khác, Var (β
i
R
Mt
)= β
2
Var (R
Mt
) nên
Var (R
it
)= βi
2
Var (R
Mt
)+ Var (e
it
)
Var (e
it
Khi đề cập đến phương pháp đo độ thanh khoản người ta phân biệt
4 loại thanh khoản sau đây: thanh khoản của một tài sản, thanh khoản của
thò trường của một tài sản, thanh khoản của thò trường tài chính, thanh
khoản của một tổ chức tài chính.
Đo lường độ thanh khoản: Việc đo lường độ thanh khỏan chia làm
các nhóm phương pháp:
Các phương pháp đo tác động thò trường:
Mô hình CAPM cho phép giải thích những biến động của thò trường.
Rủi ro hệ thống không thể phân tán được vì chúng ảnh hưởng đến tất cả
mọi chứng khoán một cách hệ thống. Hệ số bêta của cổ phiếu dùng để chỉ
tương quan biến động suất sinh lời của cổ phiếu so với thò trường. Bêta
càng cao thì rủi ro hệ thống càng lớn. Rủi ro phi hệ thống là rủi ro chỉ liên
quan đến duy nhất một chứng khoán, có thể nói đó là phần rủi ro còn lại
với chứng khoán đó khi đã loại bỏ rủi ro thò trường .
R
i
= α + βRm + u
i
(*)
Trong đó: α: suất sinh lời phi rủi ro
R
i
: suất sinh lời tính theo ngày của chứng khoán i