Phần I ĐÁ CACBONAT
MỞ ĐẦU
Đá cacbonat là đá thuộc nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng, với nhiều
loại đá cacbonat khác nhau: đá vôi, dolomit, sét vôi, tuf vôi…Thành phần đá
cacbonat là nhân tố quyết định giá trị sử dụng của chúng. Phần lớn các lĩnh vực
công nghiệp đều ưu sử dụng đá cacbonat có thành phần đồng nhất. Và được sử
dụng nhiều trong các lĩnh vực khác nhau như: dùng làm sản xuất chất dính kết,
làm vật liệu xây dựng… Cacbonat được thành tạo trong các kiểu mỏ:
cacbonatit, nhiệt dịch, phong hóa, trầm tích, biến chất.
Ở Việt Nam đá vôi khá phổ biến song phân bố không đều, phần lớn đá
vôi công nghiệp phân bố ở phía Bắc còn ở phía Nam thì đá vôi hiếm chất lượng
kém. Đá cacbonat có các phân vị địa tầng có tuổi từ cổ đến trẻ. Sau đây sẽ đi
tìm hiểu kỹ về đá cacbonat.
Chương 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM
ĐỊA HÓA KHOÁNG VẬT
I. Lịch sử nghiên cứu
Đá cacbonat là một trong những loại đá được loài người sử dụng sớm
nhất. Người ta đã sử dụng các tảng đá to làm các tường thành vững trãi ( tường
thành nhà Hồ - Thanh Hóa), các tiểu quách hay các lăng mộ cổ.
Việc nghiên cứu lịch sử của đá cacbonat hiện tại vẫn khá ít tài liệu về lịch
sử liên quan đến chúng. Có thể nói đá cacbonat đã được sử dụng rất lâu đời
II. Đặc điểm địa hóa khoáng vật
Đá cacbonat là một nhóm gồm nhiều loại đá: đá vôi, đolomit, đá phấn, đá
macnơ, đá hoa ( đá trắng) đá cẩm thạch và một số loại đá khác.
1. Đá vôi.
Đá vôi là 1 loại đá có nguồn gốc trầm tích và chủ yếu có thành phần
CaCO
3
>95% ngoài ra còn có lẫn 1 số tạp chất khác như dolomit, thạch anh,
opal, siderit, casedoan, kaolin và apatit.
Trong 95% CaCO
Ngoài ra chúng ta còn gặp đá ôi có nguồn gốc hữu cơ cơ màu trắng, xám
trắng, đôi khi có màu xanh đỏ.
2. Đá đolomit
Cũng là loại đá có nguồn gốc trầm tích là chủ yếu, trong thành phần cơ
bản của chúng chủ yếu là dolomit CaMg(CO
3
)
2
> 95% trong đó ( Hàm lương
MgO = 21 -42%) ngoài ra trong dolomit thường lớn manhetit, sidesit, ankenit,
opan, canxedoan, halit, thạch cao ngòa ra còn lẫn thêm photphorit.
Đặc điểm khác biệt giữa dolomit với đá vôi là khó sủi bọt với axit và
chúng thường có màu hồng cứng hơn vôi.
3. Đá phấn
Là loại đá vôi màu trắng mềm CaCO
3
>= 95% ngoài ra trong thành phần
còn chứa ít rong tảo
4. Đá trắng ( đá vôi trắng)
Đá trắng hay là đá vôi trắng đây là loại đá của nhóm đá cacbonat màu
trắng. Thành phần chủ yếu canxi (CaCO
3
) độ trắng tự nhiên >= 85%. Đá trắng
không riêng gì có màu trắng toàn phần mà còn nhiều khi trên thị trường hiện
nay chúng ta không ghép vào nhóm này độ cứng 3, tỷ trọng 2,6 – 2,8 khi phân
tích hóa hàm lượng CaO =56%, CO
2
= 44%.
ở Việt Nam đá trắng chủ yếu gọi cho đá hoa thành phần khá tinh khiết.
Trong thành phần của nó đặc trăng là CaO=>55% ngoài ra trong thành phần còn
chảy, độ chịu lạnh, đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sử dụng của chúng cũng
là 1 trong những chỉ tiêu quyết định đến giá trị của nguyên liệu khoáng
Là nguyên liệu khoáng của cacbonat khi sử dụng chủ yếu được gia công
cơ học: đập, nghiền
Ít bị ra công bằng các phương pháp nhiệt, hóa học.
Chương II. CÔNG DỤNG VÀ YÊU CẦU CÔNG
NGHIỆP
Nhóm đá cacbonat được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực chính sau
- Sản xuất vật liệu xây dựng
- Sản xuất chất kết dính
- Sản xuất bột cacbonatcanxi
- Phục vụ cho công nghiệp luyện kim ngoài ra còn phục vụ rất nhiều
cho lĩnh vực khác nhau trong công nghiệp,
1. Phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng ( chiếm 60%)
Trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng các nguyên liệu của nhóm này
được sử dụng nhiều nhất là đá vôi, đá dolomit và đá cẩm thạch. Vì thế, khi
nghiên cứu nhất thiết phải đánh giá độ bền cơ học của chúng. Tùy theo từng
lĩnh vực sử dụng mà người ta đưa ra các tiêu chuẩn tương đương theo yêu cầu
của lĩnh vực đó.
Đặc biêt về đá ốp lát thì chúng ta phải nghiên cứu thêm tính trang trí của chúng
đó là máu sắc, ánh, khả năng đánh bóng và độ thu hồi nguyên liệu đó
*) Việt Nam
- Tiêu chuẩn cho các đá phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng
a) Sản xuất vật liệu xây dựng
Hình ảnh đá vôi dùng làm đá đổ bê tông
- Cường độ kháng nén >= 300kg/cm
2
. Trong đó đối với bê tông max 300-
400 và bê t ông có độ kháng nén 4000-5000kg/cm
2. Sản xuất chất kết dinh
Chủ yếu sử dụng dá vôi, đá phấn và đá macno, đôi khi người ta cũng sử
dụng đá dolomit nhưng rất ít.
Trong nung vôi chủ yếu dùng đá vôi, đá phấn
Trong xi măng được dùng chủ yếu : đá vôi, đá macno, cùng có thể người
ta dùng đến đá phấn, nếu trong đá macno có thành phần đủ theo yêu cầu công
nghiệp – macno vôi
Trong sản xuất xi măng nhất thiết phải tính modun silic, hệ số bão hòa
*) Trong công nghiệp sản xuất vôi
Trong sản xuất vôi chủ yếu người ta dùng đá vôi và đá phán ngoài ra
cũng sử dụng đến đá dolomit đây là các loại đá có hàm lượng của canxit cao >=
80-90% các tạp chất khác có nhưng hàm lượng rất nhỏ 5-20%.
*) Trong công nghiệp sản xuất xi măng
Đây là ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu của nhóm đá cacbonat
nhiều nhất chủ yếu sử dụng đá vôi, macno, phấn, các đá sử dụng trong công
nghiệp xi măng yêu cầu:
- Hàm lượng CaO=40%
- Hàm lượng MgO <=3,5%
Ngoài 2 hợp phần này trong đá có thể lẫn Al
2
O
3
; SiO
2
; FeO và các hợp
phần có hại quy định
Đối với đá vôi: Na
2
OH
2
Chú ý: trong quá trình sản xuất xi măng người ta phải tính đến mudun
silic hệ số bão hòa.
Trong clanke thì có phương pháp ướt và phương pháp khô
+) Yêu cầu chất lượng công nghiệp đá nhóm cacbonat đối với một số ngành sử
dụng nguyên liệu này.
Ngành
Thành
Phần
%
Luyện
kim
Nhôm Niken Bột
canxi
Sx sô
đa
Sx đất
đèn
CN
đường
CN
Giấy
Công
nghiệp
xmăng
CaO>= 49-52 50 52 54 50 53 53,2 52 51
MgO<= 3,5-10 1,5-5 2
0,56,8
1,36 0,8-1 1 1 3,5
SiO
2
NGHIỆP
Đá cacbonat xuất hiện ở nhiều loại hình mỏ ngốc trong vỏ trái đất từ nội
ngoại cho đến biến chất sinh.
Những mỏ của đá cacbonat xuất hiện trong mỏ trầm tích là chủ yếu ít hơn
là mỗi cacbonattit nhiệt dịch.
1. Mỏ cacbonatit
Đây là loại hình mỏ mà sự thành tạo của chúng khá phức tạp về thành
phần chúng liên quan đất các đá xâm nhập siêu bazo, kiềm, xong các tích tụ
cacbonat thành tạo theo kiểu cacbonatit khối lượng khá lớn, chất lượng khá tốt.
2. Mỏ đá cacbonat nhiệt dịch
Kiểu mỏ này gồm các thành hệ dolomit vôi bị biến đổi, thành hệ canxit
mạch và thành hệ tradin. Thành phần hóa học của dolomit trong thành hệ
dolomit vôi bị biến đổi thường không ổn định và chúng được dùng sản xuất đá
hộc, dăm…
Thân quặng dạng biếu, thấy kính, vỉa phức tạp. Loại hình mỏ này ít có giá
trị công nghiệp. Các mro travectin bao gồm các vỉ travectin và đá hộc dạng dải
dùng sản xiaats vật liệu xây dựng, đá ốp lát, phôi liệu xi măng, thành phần của
travectin: ankinit – aragonit
3. Kiểu mỏ phong hóa
Thuộc nhóm này có các mỏ dolomit dạng bột hình thành do kết quả
phong hóa các đá dolomit đặc sit. Nguyên liệu ở dạng bở xốp dùng bón ruộng
trực tiếp không cần nghiền ít phổ biến.
4. Mỏ cacbonat trầm tích
Mỏ trầm tích của các đá nhóm cacbonat có ý nghĩa và phổ biến hơn cả, từ
mỏ này người ta có thể khai thác các loại đá khác nhau để phục vụ công nghiệp.
Mỏ hình thành bằng các con đường khác nhau: trầm tích cơ học, hóa học,
sinh hóa. Dù trầm tích bằng con đường nào đá có giá trị: đá vôi, dolomit,
macno
*) Điều kiện kết tủa CaCO
3
hủy hợp chất hữu cơ đưa ra biển tạo ra NH
3
sau đó tác dụng CaCO
2
tạo nên
cacbonat amoni rồi kết hợp sunfat canxi tạo nên cho ta cacbonat canxi
NH
3
+H
2
O=NH
4
(OH)
NH
2
(OH) +CO
2
= (NH)
4
)
2
CO
3.
+ H
2
O
[NH
4
]
2
trong đá phiến thạch anh – biotit – silimanit… thuộc hệ tầng Daklo phân bố với
diện tích không lớn ở phía tây BÌnh Định và Gia Lai. Đây là trầm tích biến chất
chứa đá caarrbonat cổ nhất ở nước ta.
- Thành tạo Paleo – Meso Proterozoi: Phân bố rải rác ở vùng Đông Bắc
và Tây Nguyên với kiểu mặt cắt trầm tích biến chất chứa đá hoa tremolit. ĐIển
hình cho các thành tạo này là hệ tầng Chiêm Hóa, hệ tầng Núi Con Voi, hệ tầng
Thạch Khoán phân bố ở phú thộ, tuyên quang, Yên Bái, Lào Cai, Hòa BÌnh, hệ
tầng Tắc Pỏ ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
- Các thành tạo Neo Ptrerozoi – Cambri dưới: thường gặp đá hoa đi cùng
với đá phiến sét tạo nên các phân vị địa tầng như hệ tầng An Phú ở Tuyên
Quang, Yên Bái, Hà Giang, hệ tầng Sa Pa ở Lào Cai, Yên Bái, hệ tầng Đá Đinh
ở Lào Cai hệ tầng Chư Sê ở Gia Lai.
- Các thành tạo Cambri, Cambi – Ordocvi, Cambri – Silur: phân bố rộng
rãi ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Nam Trung Bộ, gồm 9 hệ tầng chứa đá hoa,
đá vôi bị hóa và đá vôi : hệ tầng Cam Đường, Hà Giang, Sông Mã, Chang Pung,
Bến Khế, Hàm Rồng, A Vương, Đak Long và hệ tầng Phong Hanh.
- Các thành tạo Ordovic, Ordovic – Silur và silur: gồm 5 hệ tầng có thành
phần đặc trưng là trầm tích lục nguyên chứa đá vôi, đá vôi sét: hệ tầng Luxia,
Sinh Vinh, Xuân Sơn, Đại Giang và hệ tầng Bó Hiềng.
Các thành tạo Devon , Devon – Carbon: phân bố rộng rãi ở vùng Đông
Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, gồm 39 đơn vị địa tầng chứa đá vôi, đá vôi sét ,
đá vôi hữu cơ dạng trứng cá, đá vôi bitum, đá vôi silic: hệ tầng Cốc Xô, Đại
Thị, Đèo Bén, Mỏ Nhài, Mia Lé, NÀ Đon, Bản Thăng, Bó Mới, Nậm Pìa, Phia
Khao, Pia Phương, Hà Giang, Si Phai, Sông Cầu, Sông Mua, Tràn Kênh, Bản
Páp, Hạ Lang, Hồ Tam Hoa, HUổi Lôi, Khao Lộc, Mục Bài, Nà Xe Băng
Hiêng, XÓm Nha, Bản Cải, Cao Quản, Con Voi, Khe Ảng, Phong Nha, Phong
Sơn và hệ tầng Tốc Tác.
- Các thành tạo Carbon, Carbon – Permi, Permi: phân bố rộng rãi trên
lãnh thổ nước ta, gồm 15 hệ tầng chứa đá vôi, đá vôi hữu cơ, đá vôi trứng cá, đá
vôi tái kết tinh, đá vôi dolomit hóa, đá vôi sét: hệ tầng Bắc Sơn, Cát Bà, La Khê,
trung trong địa tầng Đồng Giao T
2đg
+) Vùng Đông Bắc gồm 21 mỏ với tổng trữ lượng 80 triệu tấn phân bố
trong các thành tạo địa chất có tuổi protezozoi 5 mỏ; cambri 1 mỏ; ocdovic –
silua 3 mỏ; cacbon – pecmi 23 mỏ.
+) Vùng Đồng Bằng Sông Hồng gồm 33 mỏ tổng trữ lượng là 3347 triệu
tấn nằm trong các địa tầng chính sau: địa tầng lỗ sơn các thành tạo cacbon –
pecmi hệ tầng đồng giao
+) Vùng Bắc Trung Bộ gồm 37 mỏ tổng trữ lượng 2489 triệu tấn. Tập
trung trong các địa tầng chính : Tân Lạc, Bắc Sơn, các thành tạo tuổi cacbon,
Triat, Jura
+) Vùng Nam Trung Bộ gồm 6 mỏ tổng trữ lượng 401 triệu tấn nằm trong
các thành tạo cambri – ocdovic và các thành tạo protezozoi
+) Vùng Tây Nguyên: gồm 6 mỏ tổng trữ lượng 42 triệu tấn cùng nằm
trong 2 thành tạo chính cacbon – pecmi và protezozoi
+) Vùng Đông Nam Bộ: điều tra được 34 triệu tấn nằm trong các thành
tạo khác nhau
+) Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: 12 mỏ và có 209 triệu tấn
3. Đá hoa mỏ Thung Nậm –Thung Hẹo, Qùy Hợp, Nghệ An
a. Địa tầng
Tham gia vào cấu trúc địa chất khu mỏ chỉ có mặt các đá của hệ tầng Bắc
Sơn.
Giới Paleozoi, hệ Carbon-Hệ Permi
Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs)
Các đá của hệ tầng Bắc Sơn phân bố chủ yếu trong diện tích nghiên cứu, tạo
thành một dải kéo dài theo phương đông bắc – tây nam. Trong khu nghiên cứu
có dạng một nếp lồi, trục nếp lồi kéo dài theo phương đông bắc – tây nam, các
đá hai bên cách có góc dốc tử 20 - 25
0
. Thành phần thạch học gồm đá hoa hạt từ
từ 0,007 đến 1,97%, trung bình 0,68%; Al
2
O
3
: 0.003-0,03%, trung bình
0,008%; độ trắng từ 87,30 đến 98,10%, trung bình 95,58%.
Nằm xen với thân đá hoa trắng là các lớp đá hoa màu trắng xám, các lớp kẹp
này kéo dài theo phương đông bắc- tây nam với chiều dài từ 120m đến 150m,
chiều rộng từ 6m đến 18m.
Trên cơ sở tài liệu thăm dò, đặc biệt là tài liệu về chất lượng cho thấy đá hoa
khu vực Thung Nậm – Thung Hẹo bảo đảm yêu cầu chất lượng của đá hoa làm
đá ốp lát và sản xuất bột carbonat calci.
c. Đặc điểm chất lượng
+. Thành phần thạch học
Kết quả phân tích 30 mẫu lát mỏng cho thấy trong khu vực thăm dò có đá
hoa màu trắng. Thành phần khoáng vật chủ yếu là calcit chiếm tới 100%, một số
mẫu có ít thạch anh (1%), hạt từ vừa đến thô, đá có kiến trúc hạt biến tinh, cấu
tạo khối.
Dưới kính hiển vi calcit dạng hạt đẳng thước tha hình, kích thước hạt khá
đều và phổ biến từ 3 – 6 mm, đôi khi 5 – 15 mm, không màu, cát khai hoàn
toàn, giao thoa trắng bậc cao, thường hay phát triển hai hệ thống song tinh đa
hợp ghép theo mặt cắt khai.
+. Thành phần hóa học và độ trắng
Thành phần hóa học và độ trắng của đá hoa được xác định theo kết quả
phân tích 80 mẫu hóa toàn diện và 728 mẫu hóa cơ bản. Dưới đây trình bày tóm
tắt các đặc trưng thống kê hàm lượng thành phần hóa học và độ trắng của đá
hoa khu vực thung Nậm – thung Hẹo.
• Kết quả phân tích mẫu hóa toàn diện.
Kết quả phân tích hóa toàn diện 80 mẫu hóa nhóm lấy trong đá hoa
màu trắng cho thấy hàm lượng trung bình các thành phần hóa học như sau:
: 0,001 – 0,003%, trung bình 0,002%
MKN: 43,13 – 43,67%, trung bình 0,007%
SO
3
: 0,010 – 0,032%, trung bình 0,017%
CKT: 0,33 – 0,81%, trung bình 0,056%
• Kết quả phân tích mẫu hóa cơ bản và độ trắng
*kết quả tính thống kê 728 mẫu hóa cơ bản và độ trắng của tập mẫu chung
được trình bày tổng hợp ở bảng II.1
Bảng tổng hợp kết quả xử lý thống kê phân tích hóa cơ bản đá hoa
Bảng II.1
Thành phần
Phân tích
Đặc trưng thống kê
Hàm lượng (%) Trung bình(%) Hệ số biến thiên(%)
CaO 53,13 – 55,95 54,71 0,77
MgO 0,10 – 1,08 0,34 64,94
T.Fe 0,000 – 0,07 0,009 54,85
SiO
2
0,007 – 1,970 0,68 54,76
Al
2
O
3
0,003 – 0,030 0,008 57,80
SO
3
0,004 – 0,065 0,018 53,08
MKN 42,52 – 43,96 43,43 0,41
dao động từ 0,003 – 0,03 %, trung bình 0,008%, mức độ
biến đổi thuộc loại không đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=57,80%.
+ Hàm lượng MKN dao động từ 42,52 – 43,96 %, trung bình 43,43%, mức độ
biến đổi thuộc loại rất đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=0,41%
+ Độ trắng dao động từ 87,3 – 98,1 %, trung bình 95,58%, mức độ biến đổi
thuộc loại rất đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=1,61%.
*Kết quả tính thống kê 704 mẫu hóa cơ bản và độ trắng của tập mẫu đã loại
thô được trình bày tổng hợp ở bảng II.2
Bảng tổng hợp kết quả xử lý thống kê phân tích hóa cơ bản đá hoa loại thô
Bảng II.2
Thành phần
Phân tích
Đặc trưng thống kê
Hàm lượng (%) Trung bình(%) Hệ số biến thiên(%)
CaO 53,49 – 55,95 54,73 0,74
MgO 0,10 – 1,08 0,34 64,58
T.Fe 0,000 – 0,07 0,009 55,38
SiO
2
0,10 – 1,32 0,64 51,54
Al
2
O
3
biến đổi thuộc loại không đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=58,17%.
+ Hàm lượng SO
3
dao động từ 0,004 – 0,065 %, trung bình 0,018%, mức độ
biến đổi thuộc loại không đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=53,13%
+ Hàm lượng MKN dao động từ 42,87 – 43,96 %, trung bình 43,43%, mức độ
biến đổi thuộc loại rất đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=0,40%
+ Độ trắng dao động từ 87,3 – 98,1 %, trung bình 95,54%, mức độ biến đổi
thuộc loại rất đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=1,62%.
*Kết quả xử lý thống kê 485 mẫu hóa cơ bản và độ trắng lấy ở các tuyến trên
mặt được trình bày tổng hợp ở bảng II.3
Bảng tổng hợp kết quả xử lý thống kê phân tích hóa cơ bản đá hoa trên
mặt
Bảng II.3
Thành phần
Phân tích
Đặc trưng thống kê
Hàm lượng (%) Trung bình(%) Hệ số biến thiên(%)
CaO 53,49 – 55,95 54,73 0,84
MgO 0,10 – 1,08 0,40 59,75
T.Fe 0,000 – 0,07 0,007 55,18
SiO
=54,05%.
+ Hàm lượng Al
2
O
3
dao động từ 0,003 – 0,03 %, trung bình 0,007%, mức độ
biến đổi thuộc loại không đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=55,70%.
+ Hàm lượng SO
3
dao động từ 0,004 – 0,065 %, trung bình 0,018%, mức độ
biến đổi thuộc loại không đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=55,70%
+ Hàm lượng MKN dao động từ 43,10 – 43,84 %, trung bình 43,48%, mức độ
biến đổi thuộc loại rất đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=0,30%
+ Độ trắng dao động từ 87,3 – 98,1 %, trung bình 95,32%, mức độ biến đổi
thuộc loại rất đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=1,68%.
*Kết quả xử lý thống kê 219 mẫu hóa cơ bản và độ trắng lấy ở dưới sâu lấy từ
các lỗ khoan được trình bày tổng hợp ở bảng II.4
Bảng tổng hợp kết quả xử lý thống kê phân tích hóa cơ bản đá hoa dưới
sâu
Bảng II.4
Thành phần
Phân tích
=55,18%
+ Hàm lượng SiO
2
dao động từ 0,008 – 1,32 %, trung bình 0,68%, mức độ biến
đổi thuộc loại không đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=46,85%.
+ Hàm lượng Al
2
O
3
dao động từ 0,004 – 0,029 %, trung bình 0,008%, mức độ
biến đổi thuộc loại không đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=52,76%.
+ Hàm lượng SO
3
dao động từ 0,006 – 0,038 %, trung bình 0,017%, mức độ
biến đổi thuộc loại không đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=46,26%
+ Hàm lượng MKN dao động từ 42,87 – 43,96 %, trung bình 43,34%, mức độ
biến đổi thuộc loại rất đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=0,50%
+ Độ trắng dao động từ 92,0 – 98,1 %, trung bình 96,05%, mức độ biến đổi
thuộc loại rất đồng đều với hệ số biến thiên V
c
=1,32%.
Từ kết quả phân tích hóa cơ bản thống kê ở bảng III.1, III.2 và III.3 cho thấy
có chất lượng đạt tiêu chuẩn để sản xuất bột carbonat calci.
+ Đặc điểm các nguyên tố vi lượng
-Kết quả phân tích mẫu quang phổ
Kết quả phân tích 20 mẫu quang phổ định lượng gần đúng cho thấy các
nguyên tố kim loại trong đá rất nhỏ: 0,001 – 0,007%; Ti: 0,001 – 0,003%; Zr: ≤
0,001%, các nguyên tố quý hiếm hoàn toàn vắng mặt, các nguyên tố phóng xạ
và đất hiếm không xuất hiện trong tập mẫu phân tích.
Kết quả đo xạ phổ Gamma tự nhiên
Kết quả phân tích 3 mẫu tham số xạ cho thấy tổng xạ từ 1,3 – 1,7 MR/h, hàm
lượng K: 1,3 – 2,8%; U: 0,3 – 3,2 ppm, Th: 4,7 – 8,8 ppm.
+. Tính chất cơ lý và đặc tính kỹ thuật
Tính chất cơ lý
Kết quả phân tích 40 mẫu cơ lý đá trong khu vực thăm dò được tổng hợp
ở bảng II.6
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý của đá hoa
bảng II.6
TT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình
1 Khối lượng riêng g/cm
3
2,71 2,73 2,72
2 Thể trọng tự nhiên g/cm
3
2,69 2,71 2,70
3 Độ hút nước % 0,13 0,28 0,23
4 Độ rỗng % 0,37 1,10 0,81
5 Cường độ nén bão
hòa
KG/cm
2
490 740 530
- Với loại đá hoa trắng trong khu mỏ có độ trắng tự nhiên theo mẫu đơn
từ 87,3 – 98,1 % trung bình 95,54%; hàm lượng CaO theo mẫu đơn từ 53,49
đến 55,95% trung bình 54,73%; hàm lượng MgO theo mẫu đơn từ 0,10 đến
1,08%, trung bình 0,34%; hàm lượng T.Fe theo mẫu đơn 0,000 đến 0,07% trung
bình 0,001%; hàm lượng SiO
2
theo mẫu đơn từ 0,007 đến 1,320%, trung bình
0,64%; hàm lượng Al
2
O
3
theo mẫu đơn từ 0,003 đến 0,30%, trung bình 0,008%
sau tuyển thô bằng tay loại bỏ phần màu xám và phần chứa khoáng vật màu
hoàn toàn đáp ứng yêu cầu cho sản xuất bột carbonat calci mịn và siêu mịn.
- Loại sản phẩm MSH2, MSH3, MSH4, MSH 37A và MSH 50B sản xuất
thử nghiệm hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn hiện nay của thị trường trong nước và
xuất khẩu và thực tế loại sản phẩm này hiện đang được Công ty Cổ phần Mông
Sơn sản xuất để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
KẾT LUẬN
Như vậy đá carbonat được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực khác nhau
như: dùng làm sản xuất chất dính kết, làm vật liệu xây dựng… Cacbonat được
thành tạo trong các kiểu mỏ: cacbonatit, nhiệt dịch, phong hóa, trầm tích, biến
chất.
Ở Việt Nam đá vôi khá phổ biến song phân bố không đều, phần lớn đá
vôi công nghiệp phân bố ở phía Bắc còn ở phía Nam thì đá vôi hiếm chất lượng
kém. Đá cacbonat có các phân vị địa tầng có tuổi từ cổ đến trẻ.
Để hoàn thành báo cáo này ngoài sự nỗ lực của bản thân ,chúng tôi còn
nhận được sự giúp đỡ của các thầy Nguyễn Quang Luật.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình đó đã giúp
chúng tôi hoàn thành tốt báo cáo này.