MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Mục đích nghiên cứu 7
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7
4. Giả thuyết khoa học 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6. Giới hạn của đề tài 8
7. Phương pháp nghiên cứu 8
8. Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ
CHO HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
11
1.1. Lý luận về quản lý 11
1.1.1. Khái niệm quản lý 11
1.1.2. Các chức năng quản lý 13
1.2. Lý luận về quản lý giáo dục 18
1.2.1. Khái niệm về quản lý giáo dục 18
1.2.2. Quản lý trường học 20
1.2.3. Trường tiểu học 20
1.3. Năng lực quản lý và việc bồi dưỡng năng lực quản lý 25
1.3.1. Khái niệm về năng lực 25
1.3.2. Mối quan hệ giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo 26
1.3.3. Năng lực quản lý 26
1.3.4. Bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học
28
CHƯƠNG 2
3.1.2. Các quan điểm phát triển GD - ĐT của địa phương 71
3.1.3. Phương hướng chung về tăng cường bồi dưỡng năng lực
quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học tỉnh Ninh Bình 73
3.2. Các biện pháp tăng cường bồi dưỡng năng lực quản lý cho
hiệu trưởng các trường tiểu học tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn
hiện nay
74
3.2.1. Tăng cường nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công
tác bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học 74
3.2.2. Xây dựng và thực hiện tốt qui hoạch phát triển đội ngũ hiệu
trưởng trường tiểu học 77
3.2.3. Xây dựng chương trình, nội dung và các hình thức đào tạo –
bồi dưỡng hiệu trưởng trường tiểu học 80
3.2.4. Tăng cường công tác quản lý chỉ đạo – kiểm tra đánh giá đội
ngũ hiệu trưởng trường tiểu học 83
3.2.5. Xây dựng các điều kiện, môi trường cho đội ngũ hiệu trưởng
phát huy khả năng trong việc quản lý toàn diện nhà trường 86
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88
3.3.1. Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các nội dung và
hình thức đào tạo – bồi dưỡng 88
3.3.2. Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của
các biện pháp bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường
tiểu học tỉnh Ninh Bình 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
96
1. Kết luận 96
2. Kiến nghị 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
2
PHỤ LỤC 102
4
móng vững chắc cho các bậc học tiếp theo và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường tiểu học trực tiếp việc thực hiện từ lớp 1 đến lớp 5 cho trẻ em từ 6
đến 14 tuổi, nhằm hình thành ở học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện
nhân cách con người Việt Nam XHCN.
Hiệu trưởng trường tiểu học, với trọng trách là người chịu trách nhiệm trước
Nhà nước và trước nhân dân về mọi mặt hoạt động giáo dục trong trường tiểu học,
do đó yêu cầu phải hội tụ được những phẩm chất đạo đức tốt và năng lực quản lý
giỏi để thực hiện thành công mục tiêu của giáo dục tiểu học, góp phần thực hiện
mục tiêu chung của giáo dục đào tạo: "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài ".
1.3. Tỉnh Ninh Bình có hệ thống giáo dục phát triển từ mầm non đến giáo dục
cao đẳng; mạng lưới phổ thông phát triển rộng khắp ở các vùng miền. Trong Báo
cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIX (khóa 2006- 2010) có
nhấn mạnh: "Phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo theo tinh thần nghị quyết T.Ư 2
khoá VIII và chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo 2001-2010, đẩy mạnh xã hội
hoá và tăng cường đầu tư cho giáo dục, thực sự coi đó là đầu tư cho tăng trưởng và
phát triển. Thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường lớp ở tất cả các ngành học,
bậc học với mục tiêu "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài". Tiếp
tục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ
cập giáo dục THCS ở 100% số xã, phường, ".
Hiện nay, Ninh Bình đang đẩy mạnh đề án "Xây dựng trường đạt chuẩn quốc
gia" ở các cấp học và đang chỉ đạo việc thực hiện phổ cập THPT ở những địa
phương có điều kiện để tiến tới phổ cập trung học đúng độ tuổi”. Để thực hiện mục
tiêu phát triển giáo dục như trên, Đảng bộ, chính quyền và ngành Giáo dục tỉnh
Ninh Bình đã và đang rất quan tâm đến việc đổi mới đào tạo bồi dưỡng, nâng cao
năng lực đội ngũ CBQLGD nói chung và đội ngũ CBQL trường tiểu học nói riêng.
1.4. Là CBQL trực tiếp chỉ đạo chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo
viên các trường tiểu học, chúng tôi nhận thấy: Việc nghiên cứu đề xuất những biện
pháp bồi dưỡng năng lực quản lí cho đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học tỉnh
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ
sau.
6
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về:
- Quản lý, quản lý giáo dục.
- Năng lực quản lý giáo dục nói chung và năng lực quản lý trường tiểu học
nói riêng.
- Vấn đề bồi dưỡng năng lực quản lý cho đội ngũ hiệu trưởng trường tiểu học.
5.2. Khảo sát đánh giá thực trạng về:
- Năng lực quản lý của hiệu trưởng các trường tiểu học.
- Công tác bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
5.3. Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng nhằm phát triển năng lực quản lý
cho hiệu trưởng các trường tiểu học tỉnh Ninh Bình.
6. Giới hạn của đề tài:
Đề tài này chỉ đi vào nghiên cứu thực trạng và một số biện pháp bồi dưỡng
nhằm phát triển năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học tại tỉnh Ninh
Bình.
7. Phương pháp nghiên cứu:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các văn bản, tài liệu có liên
quan để làm rõ các vấn đề:
- Năng lực quản lý, năng lực quản lý giáo dục và năng lực quản lý trường tiểu
học.
- Một số vấn đề về công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản
lý trường tiểu học trong giai đoạn mới.
7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1. Phương pháp điều tra:
- Xây dựng và sử dụng các mẫu điều tra cơ bản về đội ngũ hiệu trưởng các
trường tiểu học tỉnh Ninh Bình (số liệu do Sở GD - ĐT tỉnh Ninh Bình cung cấp).
Chương 2: Thực trạng về năng lực quản lý và công tác bồi dưỡng năng lực
quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu trưởng các
trường tiểu học tại tỉnh Ninh Bình.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ
CHO HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Lý luận về quản lý
1.1.1. Khái niệm "Quản lý".
Có thể nói, ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng
được hình thành. Để đương đầu với sức mạnh của tự nhiên, để tồn tại và phát triển,
con người đã phải hình thành các nhóm hợp tác lao động tập thể nhằm thực hiện
những mục tiêu mà từng cá nhân riêng lẻ không thể thực hiện được, điều này đòi
hỏi phải có sự tổ chức, phải có phân công và hợp tác lao động. Quản lý được ra đời
từ đó.
Các Mác đã nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ
đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh
từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự
mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. [8]
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về “quản lý”, dựa theo những cách tiếp
cận khác nhau, do đó dẫn đến sự phong phú trong các quan niệm về quản lý. Sau
đây là một số quan niệm về quản lý thường gặp của các tác giả trong và ngoài nước.
- “Quản lý” theo quan niệm của các tác giả nước ngoài:
+ Theo H.Koontz (nhà quản lý người Mỹ) thì quản lý là một hoạt động thiết
yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của
nhóm (tổ chức), mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con
người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất
mãn cá nhân ít nhất”. [17]
là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý (khách thể quản lý hay chủ thể bị quản lý) nhằm đảm bảo cho sự vận động,
phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan trong đó sử dụng và khai
thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã định theo ý
chí của nhà quản lý. [35]
Quá trình tác động này có thể được mô hình hoá bằng sơ đồ đơn giản sau:
10
Sơ đồ 2.1: Mô hình về quản lý.
CCông
1.1.2. Các chức năng quản lý.
Qua việc tìm hiểu về các khái niệm “quản lý ở trên, có thể nói: Quản lý là
nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển hay trì trệ hoặc diệt vong của một tổ
chức.
Quản lý là hoạt động sống còn của con người trong thời đại ngày nay, thể
hiện thông qua các chức năng vốn có của nó.
Chức năng quản lý là hình thức biểu thị sự tác động có chủ đích của chủ thể
quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý . Là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau
mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Như vậy thực chất của
chức năng quản lý là lý do tồn tại của hoạt động quản lý.
Fayol – nhà quản lý Pháp đã nói: “Quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, phối hợp
và kiểm tra”. [33]
Hay theo TayLor (1856-1915) – người được thế giới phương Tây gọi là “Cha
đẻ của thuyết quản lý khoa học”; người mở ra “một kỷ nguyên vàng” trong quản lý
của nước Mỹ đã nói: “Nhà quản lý là nhà tư tưởng, nhà kế hoạch. Trách nhiệm của
họ là lập kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức công việc, ở chỗ khác họ phải tập trung vào
việc lên kế hoạch sản xuất, kiểm soát nguyên vật liệu, thủ tục hành chính và mọi chi
tiết nhỏ nhặt có liên quan tới công việc này” [33].
Như vậy nội hàm của các khái niệm quản lý cũng như những cách hiểu về công
việc của nhà quản lý rõ ràng là sự khái quát tác dụng của những chức năng quản lý,
và thực chất nó cũng nói rằng: “Chức năng quản lý không phải là cái gì khác ngoài
đó và mọi bộ phận của nó sẽ tuân theo.
Cụ thể, “lập kế hoạch có nghĩa là xác định trước xem phải làm cái gì, làm
12
Lập kế hoạch
Thông tinKiểm tra Tổ chức
Chỉ đạo
như thế nào, làm vào khi nào và ai sẽ làm. Việc lập kế hoạch bắc một nhịp cầu từ
trạng thái hiện tại của chúng ta tới chỗ mà chúng ta muốn có trong tương lai dự
định… Nếu không có kế hoạch thì hoạt động của con người sẽ đi đến chỗ vô mục
đích và phó thác cho may rủi”. [17]
Như vậy có hai điểm cốt lõi trong việc lập kế hoạch đó là: vạch ra mục tiêu
cho bộ máy và tìm con đường, những bước đi chắc chắn để tiếp cận mục tiêu đã đề
ra.
Tuy nhiên kế hoạch đã lập ra không phải là bất di bất dịch mà trong thực tế
khách quan đang từng ngày từng giờ vận động và phát triển thì kế hoạch cũng phải
mang tính linh hoạt, thích ứng với những thay đổi của thực tiễn.
Để chỉ đạo thực hiện một kế hoạch thành công, nhà quản lý cần chú ý:
+ Phối hợp các kế hoach ngắn hạn và dài hạn.
+ Đảm bảo tính linh hoạt trong xây dựng kế hoạch.
+ Xem xét lại các kế hoạch một cách thường xuyên, để có những bổ sung,
điều chỉnh kịp thời.
1.1.2.2. Chức năng tổ chức.
Khoa học về tổ chức quản lý đã chỉ ra rằng: “Công tác tổ chức có thể xem xét
với tư cách là một chức năng quan trọng của hoạt động lãnh đạo, quản lý. Có thể
chia công tác này thành hai nội dung cơ bản: Xây dựng tổ chức và bố trí sử dụng
con người. Hai công tác này có mối quan hệ mật thiết với nhau vì chúng ta tạo dựng
một tổ chức từ những con người và bố trí họ vào những công việc nhất định để rồi
điều khiển, kiểm tra hoạt động của họ.
Như vậy, công tác tổ chức (hay hoạt động tổ chức) có thể hiểu là hoạt động
nhằm thiết lập, vận hành một tập thể, một tổ chức thông qua việc bố trí, sắp đặt con
uy tín); Phải có khả năng tác động vào con người (Khả năng sai khiến người khác
bằng quyền uy của mình); Có khả năng khuyến khích, kích thích con người làm
điều tốt và khả năng ngăn chặn, răn đe con người làm điều xấu…
Điều cốt lõi của chức năng chỉ đạo là dẫn dắt bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác
định.
Về chức năng này, Harold Koontz đã nói một cách đầy ấn tượng rằng: “Một
trong những hoạt động quan trọng nhất của các nhà quản lý là làm cho các nhu cầu
14
của mọi người hài hoà với yêu cầu của toàn bộ doanh nghiệp. Sự lãnh đạo bắc một
nhịp cầu giữa một bên là các kế hoạch logíc và được cân nhắc kỹ, các cơ cấu tổ
chức được thiết kế cẩn thận, các chương trình biên chế cán bộ tốt, các kỹ thuật kiểm
tra hữu hiệu với bên kia là nhu cầu của con người để hiểu biết, để được thúc đẩy và
đóng góp toàn bộ những cái mà họ có khả năng vào các mục tiêu của bộ phận và
toàn bộ doanh nghiệp” [17].
1.1.2.4. Chức năng kiểm tra.
Chức năng kiểm tra nằm ngay trong lòng quá trình điều hành, đó là công việc
đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận phối thuộc để tin chắc rằng
các sự kiện phù hợp với kế hoạch. Như vậy, nó đo lường sự thực hiện nhiệm vụ so
với các mục tiêu và kế hoạch, nó chỉ ra những tồn tại, những lệch lạc, tiêu cực… và
đưa ra những tác động để điều chỉnh các sai lệch, giúp đảm bảo hoàn thành kế
hoạch đề ra.
Bên cạnh đó, kiểm tra còn nhằm giám sát kế hoạch của cấp trên, tìm ra những
sai sót, những hạn chế để điều chỉnh và xem kế hoạch của cấp trên có tính khả thi
hay không.
Có thể nói, kiểm tra là chức năng làm cho hoạt động của quản lý đảm bảo
tính phù hợp, thích ứng với môi trường, đảm bảo tính khả thi và tính thực tiễn của
kế hoạch, tiến tới hoàn thiện mục tiêu, mục đích của tổ chức trong môi trường luôn
biến đổi. Chức năng kiểm tra có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình quản lý. Các
nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đã khẳng định: Quản lý lãnh đạo mà không có
kiểm tra thì coi như không có quản lý, không có lãnh đạo.
luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển
tâm lý và thể lực của trẻ em”. [21].
+ Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ
vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính
chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học,
giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng
thái mới về chất”. [32].
Theo Đặng Quốc Bảo: “QLGD là sự điều hành phối hợp các lực lượng xã hội
16
nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
Những khái niệm về quản lý giáo dục nói trên tuy có những cách diễn đạt
khác nhau nhưng tựu chung lại, có thể được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định
hướng, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối
tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống
giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.
Trong QLGD, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy QLGD từ trung
ương đến cơ sở; và đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất-kỹ
thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của GD-ĐT.
Nội dung của QLGD gồm một số vấn đề cơ bản sau:
- Xây dựng và thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển giáo dục.
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về GD, ban
hành Điều lệ nhà trường.
- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, cơ
sở vật chất, trang thiết bị trường học.
- Tổ chức bộ máy QLGD.
- Tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng CBQL và giáo viên.
- Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực cho giáo dục.
Quản lý giáo dục được phân công, phân cấp từ trung ương đến cơ sở cả
trọng trong sự nghiệp “trăm năm trồng người”.
Trong điều 2 của Điều lệ trường Tiểu học xác định rõ: “Trường tiểu học là cơ sở
giáo dục của cấp tiểu học, cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường tiểu
học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng”. [4]
Trong cuốn chuyên khảo “Công tác quản lý hành chính và sư phạm của trường
tiểu học” Jean Valerien có ghi ý kiến của UNESCO như sau: “Tiểu học không cần phải
bàn cãi gì nữa, là cấp đào tạo chính để cung cấp nền giáo dục cơ bản mà mọi trẻ em có
quyền được hưởng”. [42]
Điều 26 của Luật Giáo dục còn ghi rõ: “Giáo dục tiểu học là được thực hiện
trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu
tuổi”. [26]
18
Phạm Tất Dong đã từng khẳng định: “Giáo dục tiểu học là một bộ phận nền tảng
để trên đó chúng ta xây dựng toà nhà học vấn cho toàn dân”.
Như vậy, với tư cách là cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo
dục tiểu học có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ xây dựng toàn bộ nền móng
không những chỉ cho giáo dục phổ thông mà còn cho cả sự hình thành và phát triển nhân
cách con người.
1.2.3.2. Mục tiêu và nội dung của giáo dục tiểu học.
Mục tiêu chung của giáo dục tiểu học trong giai đoạn mới đó là: “Xây dựng cấp
tiểu học lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển bền vững và về cơ bản đạt trình
độ tiên tiến”. [7]
Trong điều 27 Luật Giáo dục cũng đã ghi rõ: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học
sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp trung học cơ sở”.
[26]
Như vậy, mục tiêu của giáo dục tiểu học đã khẳng định:
+ Phát triển toàn diện con người là mục tiêu chung và lâu dài của giáo dục phổ
thông. Giáo dục tiểu học chỉ hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đó.
+ Con người phát triển toàn diện phải có đầy đủ các phẩm chất và năng lực về
nhân cách con người Việt Nam XHCN”. Cụ thể: “GD tiểu học đảm bảo cho học
sinh nắm vững các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần
thiết về tự nhiên, xã hội, con người, có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà cha mẹ,
yêu quý anh chị em, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp đỡ bạn
bè, các em nhỏ, yêu lao động, có kỷ luật, có nếp sống văn hoá, có thói quen rèn
luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh, yêu quê hương đất nước, yêu hoà bình” [27]
1.2.3.3.2. Nhiệm vụ cụ thể của trường tiểu học.
Điều 3, Điều lệ trường tiểu học có ghi rõ trường tiểu học có những nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Tổ chức giảng dạy học tập và các hoạt động GD khác theo chương trình GD
tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo quyết định ban hành;
20
- Huy động trẻ em đúng độ tuổi vào lớp một, vận động trẻ em bỏ học đến
trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học và tham gia xoá mù chữ trong
phạm vi cộng đồng;
- Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh;
- Quản lý sử dụng đất đai trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định
của pháp luật;
- Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực
hiện các hoạt động giáo dục;
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội
trong phạm vi cộng đồng;
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.2.3.4. Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng trường tiểu học.
Tại khoản 3, điều 8, Điều lệ trường tiểu học ghi rõ:
Hiệu trưởng trường tiểu học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
“- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học;
- Tổ chức bộ máy của trường; thành lập và cử tổ trưởng chuyên môn, tổ hành
chính-quản trị; thành lập và cử chủ tịch các hội đồng trong nhà trường;
- Phân công, quản lý, kiểm tra công tác của giáo viên, nhân viên; đề nghị với
định đối với việc thực hiện các mục tiêu quản lý khác của nhà trường.
1.3. Năng lực quản lý và việc bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu
trưởng các trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay.
1.3.1. Khái niệm về năng lực.
Năng lực là một trong những vấn đề của tâm lý học có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn to lớn trong chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của Đảng ta
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Vậy năng lực là gì?
Theo A.G Kôvaliốp: “ Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc
tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho
hoạt động đạt được những kết quả cao”. [1]
Theo Thái Duy Tuyên: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý của nhân cách, là
điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định. Năng lực
22
có liên quan với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu,
tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động, ở tính sáng tạo, tính
độc đáo của phương pháp hoạt động”. [34]
Theo Đỗ Hoàng Toàn: “Năng lực là những thuộc tính tâm lý của cá nhân giúp
cho việc con người lĩnh hội một lĩnh vực kiến thức hoặc hoạt động nào đấy được dễ
dàng và nếu họ tiến hành hoạt động trong lĩnh vực đó thì sẽ có kết quả cao.
Năng lực được hình thành, thể hiện và hoàn thiện trong hoạt động. Ngay cả
những năng lực rất yếu cũng có thể được phát triển, nâng cao bằng con đường kiên
trì luyện tập một cách có hệ thống. Con người không phải ngay từ khi sinh ra đã có
những năng lực đối với một hoạt động nhất định. Năng lực chỉ có thể được phát
hiện và nâng cao trong những hoàn cảnh thuận lợi”. [15]
1.3.2. Mối quan hệ giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Theo Nguyễn Quang Uẩn: “Cùng với năng lực thì tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
thích hợp cũng rất cần thiết cho việc thực hiện có kết quả một hoạt động. Có tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để có năng
lực trong lĩnh vực này. Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo không đồng nhất với năng lực,
hơn.
Năng lực quản lý còn gọi là chất sám quản lý, trong xã hội hiện đại nó được
đánh giá rất cao - Là một trong năm yếu tố để phát triển một quốc gia giàu mạnh, đó
là: Lao động, công nghệ, tài nguyên, tiền vốn và chất sám quản lý. Trong đó yếu tố
chất sám quản lý (Năng lực quản lý) được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu.
Sơ đồ 4: Vị trí năng lực quản lý trong các yếu tố phát triển quốc gia
Năng lực quản lý
Lao động Tài nguyên
Công nghệ Vốn
24
Trong lĩnh vực giáo dục, năng lực quản lý được thể hiện cụ thể bằng:
- Năng lực chuyên môn nghiệp vụ: Am hiểu quá trình GD-ĐT và tổ chức điều
khiển quá trình này đi đến mục tiêu đã xác định, trong phạm vi chức trách và nhiệm
vụ cụ thể của chủ thể quản lý.
- Năng lực tổ chức, hợp tác tập thể sư phạm, điều hành và kiểm tra giám sát
mọi hoạt động giáo dục.
- Năng lực giao tiếp ứng xử trước các tình huống sư phạm và các tình huống
xã hội nói chung.
Đối với hiệu trưởng trường tiểu học, một số nhà nghiên cứu về QLGD cho
rằng:
- Năng lực chuyên môn của người hiệu trưởng thể hiện ở trình độ hiểu biết về
chuyên môn; nắm vững nội dung chương trình, phương pháp đặc trưng các môn học
ở bậc tiểu học để quản lý chỉ đạo hoạt động chuyên môn trong nhà trường. Hiệu
trưởng tiểu học cần có khả năng tự học, tự bồi dưỡng nhằm không ngừng nâng cao
trình độ mọi mặt; Phải nhạy bén và tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy
học nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của cấp học trong từng giai đoạn, từng thời
kỳ; Phải có khả năng bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ giáo viên, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Năng lực quản lý của hiệu trưởng tiểu học thể hiện ở khả năng dự báo, thiết
kế và tổ chức thực hiện kế hoạch; năng lực quản lý hành chính, tài chính; năng lực