Luận văn thạc sĩ giáo dục học một số giải pháp bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn huyện đức hoà tỉnh long an - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
-----------------------------

Trương Liên Phong

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ
CHO HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐỨC HOÀ - TỈNH LONG AN

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS.TRẦN THỊ QUỐC MINH

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2006


2

KÝ HIỆU VIẾT TẮT
QL
GD
TW
CBQL
QLGD
CNH
HĐH

:
:

Quản lý
Giáo dục
Trung ương
Cán bộ quản lý
Quản lý giáo dục
Công nghiệp hoá
Hiện đại hoá
Giáo dục và đào tạo
Giáo viên - học sinh
Giáo viên Tổng phụ trách
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Giáo dục thường xuyên
Phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ
Cao đẳng sư phạm
Xã hội
Văn hoá
Kinh tế
Ngoài giờ lên lớp

KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG BIỂU BẢNG
PGD
GV

:
:


thống giáo dục quốc dân. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Tiểu học cần thiết
phải tăng cường xây dựng đội ngũ Hiệu trưởng quản lý giáo dục Tiểu học một cách
toàn diện. Trong nhà trường, Hiệu trưởng có vai trò quan trọng, vai trò này lại có ý
nghĩa khi có sự đổi mới giáo dục. Đổi mới giáo dục liên quan đến tất cả các lĩnh vực
của hệ thống giáo dục: chức năng của nhà trường , chương trình, kế hoạch dạy học,


4

tổ chức nhân sự, tâm lý…Nhà trường thực hiện nhiệm vụ của mình có hiệu quả hay
không một phần quyết định là do hoạt động quản lý của người Hiệu trưởng. Quản lý
ở trường tiểu học là cấp quản lý cơ sở, đòi hỏi người Hiệu trưởng sự phát triển cao
về năng lực quản lý để giải quyết được những nhiệm vụ và tình huống quản lý cụ
thể. Chất lượng hoạt động giáo dục ở trường tiểu học phụ thuộc nhiều vào năng lực,
kinh nghiệm quản lý của người Hiệu trưởng. Vì họ là người đại diện chức trách
hành chính nhà trường, người tổ chức phát triển nhà trường như một cộng đồng giáo
dục, người nòng cốt điều khiển quá trình đào tạo của nhà trường và là người khích
lệ mọi sự canh tân của tập thể sư phạm. Thực tiễn trong hoạt động giáo dục Tiểu
học huyện Đức Hoà cũng đặt ra những yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực
quản lý của Hiệu trưởng các trường tiểu học.
Ngày nay, nền kinh tế tri thức mở ra vô số cơ hội cho mọi người có thể tiếp
cận tức thời với thông tin và liên hệ với nhau trên một quy mô lớn chưa từng có.
Điều đó đặt ra yêu cầu mới đối với năng lực chuyên môn sâu, rộng của người Hiệu
trưởng quản lý trường tiểu học.
Trình độ của đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường ngày càng được nâng cao,
sự hiểu biết và thông tin phong phú của học sinh gia tăng, sự mở rộng giao lưu xã
hội của nhà trường ngày càng phát triển…Đòi hỏi người Hiệu trưởng phải thể hiện
được sứ mệnh của mình. Phải là người được đơn vị tin cậy, quý trọng. Sự tin cậy
chủ yếu là tin cậy vào những quyết định đúng đắn trong chủ trương cũng như trong
điều hành. Sự quý trọng chủ yếu là sự quý trọng về nhân cách trong công việc cũng

-

Đề tài này đựơc thực hiện tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện Đức

Hoà - tỉnh Long An.
-

Các năng lực quản lý cần bồi dưỡng là:

• Năng lực hoạch định kế hoạch.
• Năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch.
• Năng lực tổ chức quản lý nhân sự.
• Năng lực ra quyết định.
• Năng lực chỉ đạo chuyên môn.


6

5) Giả thuyết khoa học:
Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực trạng, nếu có được các giải
pháp bồi dưỡng năng lực quản lý cho Hiệu trưởng trường tiểu học thì kết quả hoạt
động quản lý của họ sẽ tăng lên.
6) Nhiệm vụ nghiên cứu :
6.1 Nghiên cứu những cơ sở lý luận của đề tài.
6.2 Nghiên cứu thực trạng về năng lực quản lý và việc bồi dưỡng năng lực
quản lý cho Hiệu trưởng trường tiểu học trên địa bàn huyện Đức Hoà-tỉnh Long An.
6.3 Đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý của Hiệu
trưởng các trường tiểu học.
6.4 Thử nghiệm tính khả thi của một số giải pháp bồi dưỡng năng lực quản lý
cho Hiệu trưởng trường tiểu học.

nghiên cứu. Đối với hệ thống giáo dục tiểu học, các nhà khoa học đã dành cho một
sự quan tâm đặc biệt, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển giáo dục tiểu
học, về đổi mới phương thức đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý trường học…
Trên thế giới, ở Vương quốc Anh cũng như ở Mỹ việc nghiên cứu năng lực
quản lý đã được quan tâm ngay từ những năm 1970 và phát triển cho đến ngày nay.
Có nhiều công trình nghiên cứu phát triển quản lý giáo dục, quản lý trường học hiệu
quả đã đề cập vấn đề năng lực quản lý ở nhiều cách tiếp cận khác nhau như: năng
lực, thẩm quyền và ảnh hưởng; tính hiệu quả trường học, khả năng, hành vi quản
lý…để quản lý thay đổi trong giáo dục cùng với cải thiện, nâng cao hiệu quả
trường học.
Ở nước ta, từ sau Cách mạng Tháng Tám(1945) đến nay, chính sách giáo dục
Việt Nam đã nhiều lần được điều chỉnh do ảnh hưởng của các sự kiện quan trọng.
Trong hơn nửa thế kỷ qua hệ thống giáo dục đã trải qua ba cuộc cải cách lớn: Tháng
7/19950, “ Cải cách giáo dục” lần I, đây là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân.
Cùng với cơ cấu này hệ thống quản lý các cấp đã ra đời với các chức vụ Hiệu
trưởng các cấp. Ở giai đoạn này, hệ thống cán bộ quảnl ý giáo dục mới được hình
thành tuy chưa có điều kiện nâng cao nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán bộ, nhưng
việc lựa chọn những nhà giáo có đức, có tài làm công tác quản lý giáo dục đã được
cả nước quan tâm. Tháng 3/1956, “ Cải cách giáo dục” lần thứ II, lúc này Đảng và
Nhà nước đã quan tâm đến việc đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán
bộ. Tuy nhiên, ở giai đoạn này chương trình chuyên biệt nâng cao năng lực cán bộ
quản lý giáo dục chưa được xây dựng. Tháng 1/1979, “ Cải cách giáo dục” lần thứ
III, lúc này hệ thống các trường cán bộ quản lý giáo dục ở trung ương và địa


8

phương mới được thành lập khi đó chương trình bồi dưỡng có tính chuyên ngành
mới được xác định rõ mục đích, nội dung cụ thể. Ở trung ương, trường sư phạm,
chương trình bồi dưỡng được thành lập với nội dung phong phú.

một ai đó có khả năng làm cho người khác phải làm việc gì đó mà họ cũng muốn
làm.
Phân tích hành vi quản lý đối việc nâng cao năng lực cá nhân, Nigel Bennett
nghiên cứu qua so sánh mô hình năng lực quản lý MCI ( Sáng kiến hiến chương
quản lý trong khuôn khổ xác định tư cách huấn nghiệp toàn quốc của Vương quốc
Anh) và mô hình năng lực McBer ( Công ty MCBer của Mỹ) được tóm tắt trong
bảng 1.1.
Bảng 1.1 So sánh mô hình năng lực quản lý MCI và MCber
Năng lực MCI

Năng lực MCBer

1. Năng lực được xác định như cơ sở Năng lực được xác định như cơ sở hoạt
hoạt động thoả mãn.

động cao cấp.

2. Năng lực được sở hữu hoặc không Năng lực được một nhà quản lý sở hữu ở
được sở hữu: được sở hữu một phần.

nhiều mức độ: họ biểu thị hành vi không
ý thức ( như đặc điểm hay động cơ) hay ý
thức (như tự nhận thức về bản thân hay
vai trò xã hội) như được thể hiện như kĩ
năng.

3. Mọi năng lực nhận dạng ở mức độ Một số năng lực cần thiết như năng lực “
nhất dịnh phải được thể hiện hoạt động ngưỡng” đối với hoạt động cao cấp: nghĩa
thoả mãn được nhất trí.


Năng lực về tri thức và kỹ thuật.

-

Năng lực tạo quan hệ.

-

Năng lực phán đoán tổng hợp.
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về năng lực quản lý và bồi dưỡng năng

lực quản lý.
Khi bàn về năng lực của người quản lý, tác giả Trần Hiệp cho rằng: “để hoạt
động có kết quả. Năng lực luôn gắn với hoạt động, là điều kiện không thể thiếu của
hoạt động”. Năng lực quản lý không phải là những mẹo vặt, không phải là sự biến
hoá tinh ma. Để có năng lực quản lý, ngoài một tập hợp những phẩm chất tâm lý
cần thiết- người cán bộ quản lý phải nắm được những tri thức của khoa học quản lý
và phải vận dụng được chúng một cách linh hoạt trong thực tiễn tại đơn vị mình, cơ
quan mình. Khoa học quản lý thì rất rộng và thực tiễn lại rất sinh động. Bởi vậy,
năng lực quản lý chỉ có thể hình thành được trên cơ sở một nền học vấn vững vàng
và một quá trình được đào tạo cả về lý luận lẫn thực tiễn một cách có hệ thống.
PGS.TS Thái Duy Tuyên có viết “ Năng lực là những đặc điểm tâm lý của
nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất
định” [ 33].
Theo tác giả Nguyễn Mạnh Cường nghiên cứu về năng lực quản lý và định
hướng các giải pháp nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ quản lý trường học.
Năng lực được hiểu là khả năng và mức độ hoàn thành một hoạt động hoặc một
nhóm hoạt động có mục đích của một tổ chức với thời gian nhất định trong một môi
trường biến đổi. Năng lực quản lý của cán bộ quản lý là khả năng thực hiện và mức
độ hiệu quả của hoạt động quản lý khi họ thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của

học sự phát triển đồng bộ về nhân cách Hiệu trưởng tiểu học theo bốn đặc trưng:


Có kiến thức và thái độ đúng đắn về quan điểm đối với người thực hiện chủ

trường phát triển kinh tế xã hội đất nước,cộng đồng, phát triển giáo dục chung và


12

đặc biệt là quan điểm đối với phát triển giáo dục tiểu học trường tiểu học phục vụ
đồi mới kinh tế.


Có kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nước đối với giáo dục tiểu

học.


Có kiến thức và kỹ năng về quản lý chuyên môn trường tiểu học thực chất

là quản lý việc dạy và học ở trường tiểu học và quản lý các điều kiện phục vụ dạy
học ờ trường tiểu học.


Có kiến thức và tầm nhìn tạo ra tiềm năng để canh tân nhà trường tiểu học,

phát triển trường tiểu học phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cụ thể nội dung bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục trường tiểu học huyện Đức
Hoa như sau:

Tóm lại, các nhà nghiên cứu nước ngoài và trong nước có nhiều cách tiếp
cận khác nhau và có những ý kiến cùng xu hướng khi nghiên cứu về năng lực quản
lý. Hấp dẫn nghiên cứu ban đầu của năng lực là cung cấp mô tả cấu trúc quản lý
trong giáo dục, đưa ra cách nhìn toàn diện về việc những nhà quản lý giáo dục tốt
nên làm gì, và nghiên cứu năng lực quản lý là cơ sở đánh giá hiệu quả công tác quản
lý, phát triển lý thuyết chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục.


13

Đặc biệt, vấn đề bồi dưỡng năng lực quản lý cho Hiệu trưởng trường tiểu học
là một đề tài nhỏ trong mảng lớn về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục nói chung và trường học nói riêng. Vì vậy, đến nay chúng tôi chưa tìm
được một công trình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về đề tài này.
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài:
1.2.1 Khái niệm về giải pháp, bồi dưỡng đội ngũ Hiệu trưởng trường tiểu học.
* Khái niệm giải pháp:
-

Theo từ điển Tiếng Việt: giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ

thể nào đó [40].
-

Cần phân biệt giải pháp và biện pháp: biện pháp là cách làm, cách giải

quyết một vấn đề cụ thể.
* Khái niệm về bồi dưỡng:
-


biến thành những thành tựu của xã hội. Để nhấn mạnh tính quy luật của hệ quản lý,
Iu.A.Tikhômirôp đã đưa ra định nghĩa quản lý là tác động có hướng đích, dựa trên
nhận thức những tính quy luật khách quan của hệ quản lý, đến các quá trình đang
diễn ra nhằm đạt được một cách tối ưu mục đích đặt ra. Nếu dựa vào điều khiển
học thì quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau
nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những
chương trình, mục đích hoạt động. Có thể diễn tả định nghĩa này ở dạng khác:
Quản lý là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục
của hệ thống môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với
những hoàn cảnh mới.
Những định nghĩa trên cho thấy quản lý có một số dấu hiệu cơ bản sau:
-

Sự lựa chọn một cách có ý thức mục đích hoạt động.

-

Luận cứ một cách khoa học cho hoạt động quản lý.

-

Sự có mặt của hệ quản lý và hệ bị quản lý.

-

Việc thực hiện những biện pháp bảo đảm hoạt động của hệ thống sao cho

luôn thích ứng với môi trường ( hoàn cảnh)
Từ những đặc điểm trên, có thể thấy, nhà quản lý phải là người có năng lực
toàn diện. Họ phải có trình độ cao về nhận thức, về tư duy, có kiến thức sâu rộng về

Tính cá thể được đề cao trong
sự tương hợp với sự toàn vẹn
của xã hội.

Là sự “ mô phỏng” “ toát yếu” Kinh nghiệm sáng tạo sẽ

Nội dung

thành tựu của nền văn minh chiếm vị trí hàng đầu.
đang tồn tại, có hướng tới
tương lai
Phương pháp

Truyền dẫn một chiều

Hợp tác, cộng tác, cá biệt hoá

Tổ chức chỉ đạo

Mô hình công xưỡng

Đa dạng, linh hoạt

Nhà trường có sứ mệnh sau:
-

Sứ mệnh của nhà trường đối với nhân cách học sinh.
• Tri thức/học thuật
• Đạo đức/thái độ


Quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường mà người
CBQL trường học sử dụng chức năng quản lý để thực hiệc các nhiệm vụ công tác
của mình.Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của
chủ thể QL tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức
năng nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học. Trường học là một hệ thống xã


17

hội nằm trong môi trường xã hội, một bộ phận cộng đồng và có tác động qua lại với
môi trường đó. Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “ Trường học là một bộ phận của
cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”
Từ những quan niệm trên, chúng ta nhận thấy:
Quản lý trường học là QLGD được thực hiện trong phạm vị xác định của một
đơn vị giáo dục – nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu
cầu của xã hội.
Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý nhà trường là cho nhà trường vận hành theo đường lối,
quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà
trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.
Quản lý nhà trường là quản lý hệ thống động, vừa có yếu tố vi mô( nhân
cách), vừa có yếu tố vĩ mô ( nhà trường là một yếu tố của cộng đồng). Trong tiến
trình quản lý, nhà trường lãnh đạo quản lý những con người với sự thay đổi nhất
định về nhân cách. Cũng trong tiến trình quản lý này, người lãnh đạo vừa đạt được
sự cân đối nhất định trong trạng thái phát triển nhà trường đáp ứng yêu cầu kinh tếxã hội…thì đã cảm thấy sự mất cân đối khác nếu tính đến yêu cầu đón đầu sự thay
đổi của kinh tế-xã hội tác động tới nhà trường.
Quản lý nhà trường là hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật
chung của sự quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng. Nét đặc thù của quản lý
nhà trường làm cho nó được phân biệt với các loại quản lý xã hội khác, được quy

được coi như khả năng của con người khi đối mặt với những vấn đề mới và những
tình huống mới, gợi tìm được những tin tức và những kỹ thuật đã được sử dụng
trong thực nghiệm trước đây” [39].
Người ta phân biệt các cấp độ của năng lực như sau:
Tài năng : Chỉ người đã tiến hành một hoạt động phức tạp, đạt kết quả xuất
sắc, ít người đạt được.
Năng khiếu : Có sự bộc lộ sớm những dấu hiệu của một tài năng nào đó.
Công tác tổ chức, quản lý cần phải phát hiện kịp thời những người có năng khiếu tổ
chức để bồi dưỡng, đào tạo họ thành những nhân tài quản lý sau này cho đất nước.


19

“ Năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một
phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hoá ra tài
to.Lãnh đạo không khéo tài to cũng hoá ra tài nhỏ”. ( Hồ Chí Minh) [38]
Theo kết luận của Hội nghị giữa hội đồng GD Australia và Bộ trưởng GDĐT - Việc làm của Australia ( 9/1992), một kiến nghị về 7 năng lực then chốt( Keycompetencies) của người lao động cần có như sau: [ 25]
1

Thu thập, phân tích và tổ chức thông tin: Năng lực tìm ra nơi có thông tin,

chọn lọc thông tin nhằm lựa ra các thông tin cần thiết và trình bày lại một cách hệ
thống. Đánh giá các thông tin về cả những nguồn và phương pháp thu nhận được
thông tin đó.
2

Truyền bá những tư tưởng và thông tin : năng lực truyền bá một cách có

hiệu quả cho người khác, bằng cách sử dụng hàng loạt các phương tiện diễn đạt (
bằng lời, bằng chữ, bằng đồ thị và các cách khác).

thể chất và cảm xúc cần thiết để vận hành các thiết bị với sự hiểu biết đầy đủ các


20

nguyên tắc khoa học và công nghệ để triển khai và thích ứng với các hệ thống khác
nhau.
“ Trong hệ thống năng lực con người cần có để có để đáp ứng yêu cầu của
giai đoạn mới đó là năng lực phân tích, tổng hợp khi giải quyết các vấn đề đặt ra
thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống. Năng lực hợp tác và giao tiếp có
hiệu quả, năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị
trường lao động, năng lực quản lý. Những năng lực trên phải được xem là những
nội dung chủ yếu của mục tiêu giáo dục và trước hết là của nhà trường phổ thông
mà mỗi người học cần có”. [6]
Với vai trò lãnh đạo của mình người Hiệu trưởng cần có năng lực hoạch định
chiến lược, phương hướng hoạt động hơn, cần khả năng định hướng, cần vai trò chỉ
huy, hướng dẫn hơn. Hiện nay phải đặc biệt chú ý tới việc đánh giá năng lực điều
chỉnh thích ứng; năng lực hiểu biết, tác động đến người khác, ở hình thức cá nhân
hoặc tập thể và năng lực tìm tòi sáng tạo áp dụng công nghệ thông tin đóng vai trò
hết sức quan trọng trong quản lý trường học.
* Năng lực quản lý:
Chính năng lực quản lý có vai trò vô cùng quan trọng cho mọi người thành
công cho nên Rochard – Sloma ( người Mỹ có một lời khuyên đắt giá “ Người quản
lý phải biết móc chắc mình vào trục thời gian ( quá khứ, hiện tại, tương lai), biết
thanh lý cái đã qua, biết thích ứng với cái hiện tại, biết tiên liệu được tương lai”.
( Để là nhà quản lý thành công- Nhà xuất bản Lao Động).
Năng lực quản lý được hiểu là tổ hợp những thuộc tính tâm lý cá nhân nhằm
đáp ứng yêu cầu của việc giải quyết những nhiệm vụ của các hoạt động- giao
tiếp…Năng lực quản lý có thể được đem ra xem xét dưới góc độ có khả năng, tài
năng và thiêu tài. Với mức độ khả năng quản lý, ở mọi người quản lý đều có được.

lực tổ chức, năng lực chuyên môn, năng lực trí tuệ tương xứng với nhiệm vụ đựơc
giao. Một năng lực nào đó có thể gồm nhiều năng lực khác. Tóm lại năng lực quản
lý giáo dục và đào tạo là vô cùng quan trọng cho dù cấp quản lý là ở trên hay ở dưới
trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả giáo dục và
đào tạo.


22

* Khi bàn đến năng lực của Hiệu trưởng, ta hãy đề cập đến những năng
lực chung khi giải quyết các vấn đề của nhà trường. Liên quan đến điều này là các
năng lực chung sau đây:
1. Người Hiệu trưởng phải nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường, có
khả năng phân tích thông tin đã thu thập được.
2. Người Hiệu trưởng phải có năng lực làm cho tất cả mọi thành viên trong
nhà trường nắm bắt được các vấn đề chung. Điều này thể hiện phong cách dân chủ
trong công tác quản lý của Hiệu trưởng.
- Người Hiệu trưởng phải thường xuyên có ý thức về các vấn đề trọng tâm của
nàh trường và do đó phải huy động công sức của tập thể giải quyết vấn đề một cách
tập trung.
- Phải xác định rõ trách nhiệm - quyền hạn của từng thành viên trong nhà
trường để qua đó có thể xác định mức độ, phạm vi đóng góp của từng thành viên,
đồng thời có thể tiến hành bồi dưỡng nghiệp vụ cho họ một cách chủ động, phù
hợp.
- Duy trì được chế độ thông tin một cách thường xuyên, chính xác, nhanh
chóng và ứng phó kịp thời, phù hợp, đúng đắn.
- Kết quả đạt được trong mọi hoạt động của nhà trường được phản hồi chính
xác và được kiểm tra, đánh giá thường xuyên. Điều này giúp cho Hiệu trưởng đối
chiếu kết quả với mục tiêu dự kiến ban đầu và do đó có sự điều chỉnh trong công tác
quản lý.

là, kế hoạch là toàn bộ nội dung , nói chung những điều vạch ra một cách có hệ
thống về những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với mục tiêu,
cách thức , trình tự, thời gian tiến hành. Như vậy, năng lực hoạch định kế hoạch thể
hiện việc vạch rõ con đường, xác định những biện pháp để đi tới mục tiêu đã đặt ra.
Năng lực tổ chức chính là tài điều khiển con người, điều khiển công việc của
người lãnh đạo, khả năng sử dụng đúng người của người lãnh đạo, có biện pháp tốt
tác động đến cấp dưới và nậhn ra những mặt mạnh, mặt yếu từ đó có kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ. Năng lực tổ chức giữ vai trò quan trọng trong bất


24

kỳ một công tác quản lý nào. Đặc biệt góp phần nâng cao uy tín cho ngươi lãnh đạo,
quản lý.
Năng lực tổ chức quản lý nhân sự thể hiện ở việc điều hành, phân công và
phối hợp lao động trong tập thể. Trình độ và năng lực của người quản lý thể hiện
trước ở khả năng làm việc với con người có những tính cách đa dạng khác nhau.
Mục đích của quản lý là tạo điều kiện cho bộ máy hoạt động, phát huy tối đa những
năng lực sẵn có của bản thân để hoàn thành tốt công việc được giao. Biết tổ chức
guồng máy hoạt động theo một quy trình khoa học, trong đó mỗi thành viên là một
mắt xích vận hành thuận chiều, đồng bộ với nâng suất cao nhất của từng cá thể.
Năng lực ra quyết định quản lý là tổ hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân đáp
ứng yêu cầu của hoạt động ra quyết định quản lý và đảm bảo cho chủ thể đề ra được
những quyết định đắn, kịp thời và có hiệu quả. Năng lực ra quyết định quản lý được
hình thành và phát triển trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của giám đốc doanh
nghiệp, có quan hệ biện chứng, tác động qua lại với các yếu tố tâm lý cá nhân khác
của chủ thể quản lý như : năng lực tổ chức, phong cách lãnh đạo, uy tín của người
lãnh đạo, quản lý, những kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm quản lý, ý thức trách
nhiệm, những quan điểm, động cơ, mục đích quản lý…Năng lực ra quyết định quản
lý được thể hiện ở một dấu hiệu cơ bản như :

phương thức tác động của chủ thể quản lý. Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ
với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt mục tiêu của tổ chức.
Năng lực kiểm tra, đánh giá là một nổ lực có hệ thống nhằm thiết lập những
tiêu chuẩn, những hệ thống phản hồi thông tin, nhằm so sánh những thành tựu thực
hiện với định mức đã đề ra, và để đảm bảo rằng những nguồn lực đã và đang được
sử dụng có hiệu quả nhất, để đạt mục tiêu của đơn vị.
1.3 Trường tiểu học và Hiệu trưởng trường tiểu học:
1.3.1 Sứ mệnh nhà trường tiểu học :
Trường tiểu học thuộc ngành giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Trường tiểu học hiện nay được thành lập nhằm thực hiện Điều 59 của
Hiến pháp năm 1992, thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và mục tiêu do
bậc học đề ra. Nhiệm vụ là với mục tiêu nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực phục
vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế và xã hội của từng địa phương, phải huy động cho
được hầu hết trẻ từ 6 -11 tuổi vào nhà trường, thực hiện giáo dục toàn diện, đảm bảo
đủ điều kiện để các địa phương phấn đấu thực hiện mục tiêu phổ cập THCS.
-

Trường tiểu học phải từng bước phấn đấu dạy 2 buổi/ngày và dạy đủ các

môn học.
-

Hiệu trưởng là thủ trưởng của đơn vị, chịu trách nhiệm hoàn toàn về các mặt

hoạt động của nhà trường. Hiệu trưởng có thẩm quyền cao nhất về các mặt hành
chính và chuyên môn, thay mặt nhà trường xây dựng mối liên kết giữa nhà trường
với cộng đồng, với các lực lượng xã hội nói chung để tạo môi trường giáo dục lành
mạnh, giáo dục toàn diện cho trẻ [3].
1.3.2 Đặc điểm quản lý trường tiểu học hiện nay:
Trong tình hình đổi mới hiện nay, quản lý trường tiểu học có đặc điểm cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status