MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
TCTD
Tổ chức tín dụng
TSĐB
Tài sản đảm bảo
BIDV
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu từ và phát triển Việt Nam
TDH
Trung dài hạn
NH
Ngân hàng
DN
Doanh nghiệp
Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3. Kết cấu chuyên đề 2
CHƯƠNG 1
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
Công tác huy động vốn 22
Công nghệ ngân hàng 22
Trình độ và phẩm chất của cán bộ tín dụng 23
NH Ngân hàng
DN Doanh nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
TCTD
Tổ chức tín dụng
TSĐB
Tài sản đảm bảo
BIDV
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu từ và phát triển Việt Nam
TDH
Trung dài hạn
NH
Ngân hàng
DN
Doanh nghiệp
Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3. Kết cấu chuyên đề 2
CHƯƠNG 1
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
3.3.2. Trong lĩnh vực công nghệ 58
KẾT LUẬN
Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã phải đối mặt với biết bao khó khăn,
thử thách: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới và lan
đến khu vực Đông Nam Á trong đó Việt Nam; những thiên tai nặng nề liên tiếp xảy
ra. Vượt lên trên mọi khó khăn thử thách đó, Việt Nam vẫn đang từng bước phát
triển kinh tế- xã hội, vững bước đưa Việt Nam trở thành con rồng Châu Á.
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu
vốn và đang là một nhu cầu vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng,
trang thiết bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tín dụng trung- dài hạn là công
cụ đắc lực để đáp ứng nhu cầu đó. Hệ thống NHTM Việt Nam chiếm một vị trí
chiến lược trong việc đáp ứng nhu cầu vốn đối với nền kinh tế. Nhận thấy tầm quan
trọng của tín dụng trung- dài hạn đối với việc phát triển kinh tế- xã hội, các NHTM
cũng đang triển khai nhiều biện pháp để có những bước chuyển dịch về cơ cấu tín
dụng, tăng dần tỷ trọng cho vay trung- dài hạn với phương châm: “Đầu tư chiều sâu
cho DN cũng chính là đầu tư cho tương lai của ngành NH”. Việc phát triển tín dụng
NH không những chỉ mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế mà nó còn trực tiếp
mang lại lợi ích thiết thực cho ngành NH.
Tuy nhiên, thực tế hoạt động tín dụng trung-dài hạn còn đang gặp nhiều khó
khăn, nổi cộm vẫn là vấn đề hiệu quả tín dụng trung- dài hạn còn thấp rủi ro cao, dư
nợ tín dụng trung- dài hạn trong các NHTM vẫn thường chiếm tỷ lệ không cao lắm
so với yêu cầu. Điều đó nói lên rằng vốn đầu tư cho chiều sâu chưa đáp ứng được
đòi hỏi bức thiết ngày càng tăng của nền kinh tế. Ngoài ra, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao
cho vay ra nhưng không thu hồi được cả gốc và lãi nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới
sự phát triển kinh tế nói chung và của hệ thống NH nói riêng.
Chính vì vậy vấn đề chất lượng tín dụng trung- dài hạn đang là một vấn đề
được mọi người trong và ngoài ngành quan tâm, giải quyết. Và đây cũng đang là đề
tài của nhiều cuộc trao đổi, thảo luận tại các hội thảo, diễn đàn nghiên cứu.
khuyết. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo và ý kiến đóng góp của cô giáo, cùng
các Cô Chú, Anh Chị ở phòng Quan hệ khách hàng Doanh nghiệp để khoá luận của
em được hoàn thiện và sâu sắc hơn.
Qua đây, em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo Khoa KT-QTKD
đã chuyền đạt cho em những kiến thức cơ bản và vô cùng quan trọng về Tài Chính
và ngân hàng.
Em cũng xin cảm ơn các cán bộ của Chi nhánh BIDV tỉnh Tuyên Quang đã
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian thực tập tại Ngân hàng.
3
CHƯƠNG 1
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.1. Khái niệm.
• Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và bên kia
là các chủ thể khác trong nền kinh tế. Theo Luật các Tổ chức tín dụng thì Cấp tín
dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng sử dụng một khoản tiền với
nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bảo lãnh ngân hàng, các nghiệp vụ khác.
Hoạt động tín dụng của NHTM là một phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ lợi
ích vật chất dưới hình thức tiền tệ giữa hai chủ thể người cho vay là NHTM và
người đi vay là khách hàng(cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội,…). Quan hệ lợi
ích này được ràng buộc chặt chẽ bởi thoả thuận quy định sử dụng tiền vay có mục
đích, có thời hạn, hoàn trả cả gốc và lãi.
Xét về bản chất, tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tiền tệ trên cơ sở hoàn
trả với các đặc trưng:
- Giao dịch giữa ngân hàng và người đi vay là giao dịch tiền tệ hoá. Khi ngân
hàng chấp thuận cho khách hàng vay, tiền được chuyển từ ngân hàng sang người đi
vay và sau một thời gian nhất định, tiền lại được chuyển từ người đi vay sang ngân
không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn thẩm định lại các vấn đề: Chi phí sản xuất ,
giá thành thị trường tiêu thụ, quy trình công nghệ. Bởi vì việc cấp quyết định một
khoản tín dụng sẽ dàng buộc NH với người vay một khoảng thời gian quá dài 3 đến
5 năm hoặc 7 năm tuỳ theo từng dự án cho nên cần phải nghiên cứu một cách
nghiêm túc và xem xét kỹ các rủi ro xảy ra. Hình thức cho vay theo dự án gồm:
0 Tín dụng hợp vốn (Cho vay đồng tài trợ):
Trong hoạt động thực tiễn của các NHTM trong lĩnh vực tín dụng, không ít các
trường hợp mức cho vay hoặc mức rủi ro mà bản thân một NH không thể đảm
đương nổi, do đó dẫn đến sự liên kết phối hợp giữa các NH cùng tham gia tài trợ
cho một dự án.
5
Cho vay đồng tài trợ là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng cho
một dự án do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên tài trợ để
thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của DN và tổ chức tín dụng.
Quan hệ tín dụng dưới hình thức đồng tài trợ gồm hai bên tham gia: Bên đồng
tài trợ và bên nhận tài trợ
- Bên đồng tài trợ: Tối thiểu phải có từ hai NH thành viên trở lên, mỗi NH
thành viên là một tổ chức tín dụng hoặc nhiều khi cũng có thể là một chi nhánh của
một tổ chức tín dụng được uỷ quyền. Các NH thành viên sẽ bàn bạc cùng nhau chọn
ra một tổ chức tín dụng làm đầu mối. Nhìn chung, mọi quan hệ về tín dụng giữa bên
đồng tài trợ và bên nhận tài trợ đều được thực hiện thông qua tổ chức tín dụng làm
đầu mối.
- Bên nhận tài trợ: Thường là một pháp nhân hoặc cá nhân có nhu cầu vay
vốn đầu tư cho dự án.
1 Tín dụng trực tiếp
Đây là hình thức tín dụng trung- dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
NHTM tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm đối với từng dự án đầu tư
của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ. Thực tế cho thấy việc lựa chọn dự án
tốt là yếu tố quyết định nhất của hình thức tín dụng này.
sắm thiết bị nhưng vẫn có thiết bị sử dụng, có thể tiếp nhận được công nghệ tiên
tiến đồng thời hạn chế được sự lỗi thời nhanh chóng của thiết bị. Mô hình tín dụng
dịch vụ thuê, mua có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển đất nước, tạo điều kiện
giúp đỡ các DN không đủ vốn nhưng vẫn có thể thuê được máy móc, thiết bị hiện
đại, thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.
1.1.3. Kết quả của hoạt động tín dụng trung dài hạn.
Đối với doanh nghiệp: Tín dụng trung và dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh
nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Các doanh
nghiệp thường gặp phải là thiếu vốn đặc biệt là thiếu vốn trung- dài hạn để phát
triển sản xuất. Nền kinh tế không ngừng vận động, hàng hoá sản xuất ngày càng
nhiều và nhu cầu con người không ngừng nâng cao. Một doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển thì phải biết nắm bắt nhu cầu và thoả mãn nhu cầu đó. Như vậy, doanh
7
nghiệp phải không ngừng đổi mới, mạnh dạn đầu tư để nâng cao chất lượng sản
phẩm, mở rộng sản xuất hay để xâm nhập vào thị trường mới. Tuy nhiên, để làm
được điều này, cần huy động một khối lượng vốn nhất định, hoặc doanh nghiệp có
thể tự tích lũy qua lợi nhuận để lại nhưng thời gian tích luỹ có thể quá lâu, làm mất
thời cơ kinh doanh. Hơn nữa, khi chậm đổi mới có nghĩa là lợi nhuận không còn.
Doanh nghiệp có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn NH.
Đối với NH, việc vay vốn trung- dài hạn từ NH đôi khi đem lại nhiều thuận lợi hơn
so với việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Về mặt kỳ hạn, doanh
nghiệp có thể vay vốn NH theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh. Về thủ tục
thời gian thì nhanh chóng và ít phức tạp, hơn nữa không phải công ty nào cũng
được quyền bán trái phiếu, cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khoán, nhất là
công ty mới thành lập hay quá nhỏ, chưa có tiếng tăm. Ngoài ra với các khoản vay
trung- dài hạn tại NH, vừa giúp NH thực hiện chiến lược kinh doanh đem lại lợi tức
cho doanh nghiệp mà không gia tăng sự kiểm soát của người bên ngoài đối với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp như trong trường hợp phát hành cổ phiếu. Mặc
dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất trung- dài hạn của NH là chi phí khá
cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc các doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư,
Đối với chính phủ: Hoạt động tín dụng trung dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn
cho nền kinh tế quốc dân, điều hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt
động tín dụng làm nhiệm vụ chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ
những nhà tiết kiệm sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế.
Do tập trung được vốn và điều hoà cung cầu vốn trong nền kinh tế, tín dụng
trung- dài hạn góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu tư phát triển
kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp- nông
nghiệp- dịch vụ. Các khoản cho vay cung cấp cho các ngành được thực hiện theo cả
chiều sâu và chiều rộng, đầu tư có trọng điểm, hình thành các ngành sản xuất mũi
nhọn, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, khai thác triệt để các nguồn lực, tập trung
phục vụ sản xuất. Nắm trong tay nguồn vốn lớn, lâu dài đã thúc đẩy tiến độ phát
9
triển các công trình, các dự án, tạo được hiệu quả kinh tế bền vững, lâu dài góp
phần thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã định hướng công nghiệp hoá-
hiện đại hoá.
Bên cạnh đó, các khoản cho vay trung- dài hạn có vai trò tạo nguồn vốn để
thực hiện xây dựng mới, hiện đại hoá từng bước nền sản xuất trong nước, thúc đẩy
sản xuất, nâng cao chất lượng, mẫu mã, đa dạng về tính năng của sản phẩm để tiêu
thụ trong nước và xuất khẩu. Hàng hoá có tính chất cạnh tranh trên thị trường quốc
tế sẽ thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán cân thương
mại và cán cân thanh toán quốc tế.
Tín dụng trung- dài hạn có vai trò trong việc thực hiện các chính sách kinh tế
vĩ mô. NHNN luôn quản lý tín dụng trung- dài hạn bằng các quy định và chính
sách của mình. NHNN đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế,
ổn định lưu thông tiền tệ. Thông qua tín dụng trung- dài hạn, Chính Phủ cũng có thể
quản lý và thực hiện các chương trình kinh tế lớn một cách có hiệu quả. Thực tế cho
thấy, các chương trình kinh tế lớn đều được cấp vốn thông qua hệ thống các
NHTM, hiệu quả được xét đến kỹ hơn và Chính Phủ cũng quản lý dễ dàng hơn các
chương trình đầu tư này. Ngoài ra, Chính Phủ còn có thể hướng tín dụng trung- dài
hạn vào các ngành kinh tế mũi nhọn, phục vụ quá trình công nghiệp hóa- hiện đại
suất cao, thời gian dài nên lãi thu sẽ lớn và ổn định. Chuyển từ nghiệp vụ cho vay
ngắn hạn sang cho vay trung- dài hạn là sự biến chuyển có tính chiến lược của NH,
đồng thời nâng cao tính cạnh tranh trong lĩnh vực NH. Khi NH không đa dạng hoá
hoạt động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn vay tiền thì NH không thể
đứng vững trong nền kinh tế thị trường với sự chèn ép đông đảo của NH khác. Quan
hệ tín dụng trung- dài hạn cũng có thể dẫn tới các hoạt động bảo lãnh do NH thực
hiện. NH có thể thực hiện bảo lãnh vay các NH khác, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,
bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh khác cho khách hàng. Các hình thức
bảo lãnh này đem lại thêm lợi nhuận cho NH.
Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả tín dụng trung- dài hạn đang là những vấn đề
mà các NH đều quan tâm nhằm đem lại lợi nhuận cho NH cũng như phục vụ sự
11
nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NHTM
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng.
1.2.1.1. Khái niệm chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp khi
tiến hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một động nghĩa thống
nhất nào về chất lượng.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000-2000, chất lượng là toàn bộ các đặc tính của sản
phẩm, hệ thống, quá trình đáp ứng yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan.
Theo Tổ chức quốc tế về tiểu chuẩn hoá ISO, “Chất lượng là tổng thể các đặc
điểm và đặc tính của một sản phẩm hoặc dịch vụ có ảnh hưởng đến khả năng thoả
mãn được những nhu cầu được nêu ra” (trích 1087/ISO8402). Như vậy, chất lượng
được xem xét thông qua những nội dung sau:
- Thước đo chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu.
- Do nhu cầu luôn biến đổi nên chất lượng cũng biến đổi theo thời gian, không
gian và điều kiện sử dụng.
- Khi đánh giá chất lượng, ta cần phải xét mọi đặc tính của đối tượng đó có
liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu cụ thể, các nhu cầu này không phải chỉ từ
kinh doanh, các NHTM luôn tìm cách nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, để
tìm ra được giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, NHTM cần phải xác định được
hiện nay chất lượng tín dụng của bản thân ngân hàng đang ở mức độ nào. Điều đó
được phản ánh qua các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng là thước đo mức độ hoàn thành mục tiêu an toàn và sinh
lời của hoạt động tín dụng nhằm tối đa hoá lợi nhuận của chủ ngân hàng, chuyên đề
để cập đến chỉ tiêu phản ảnh mức độ an toàn và chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời.
Theo Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN và
quyết định số 18/2007/QĐ – NHNN ngày 25/4/2007 sửa đổi QĐ 493, nợ của ngân
13
hàng được phân thành 5 nhóm:
- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín
dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)
Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lí
Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời
hạn đã được cơ cấu lại
• Tỷ lệ nợ quá hạn
phía khách hàng hoặc môi trường kinh doanh, tuy nhiên một tỷ lệ nợ xấu cao tức là
có một phần lớn vốn cho vay của ngân hàng đứng trước nguy cơ không đòi lại
được, ngân hàng có thể bị tổn thất một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi, từ đó thu nhập
từ lãi giảm hoặc không có, đồng thời chi phí trích lập dự phòng tăng lên, làm lợi
nhuận ngân hàng giảm, do đó chỉ tiêu này là một trong những chỉ tiêu quan trọng
phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu này được dùng rất nhiều trong
các báo cáo xếp hạng các tổ chức tín dụng nói chung, ngân hàng nói riêng.
• Chỉ tiêu tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ trích lập Dự phòng RRTD =
15
Nợ xấu TDH
Tổng dư nợ TDH
x 100%
Dự phòng RRTD trích lập
Tổng dư nợ TDH
x 100%
Theo Quyết định 493/2005/QĐ –NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN và quyết
định số 18/2007/QĐ – NHNN ngày 25/4/2007 sửa đổi QĐ 493, nợ của ngân hàng
được phân loại thành 5 nhóm nợ, theo đó, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
cho các nhóm cũng khác nhau. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể cho
các nhóm từ 1 đến 5 lần lượt 0%, 5%, 20%, 50% và 100%. Ngoài ra ngân hàng còn
phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chung bằng 0.75% tổng dư nợ các nhóm từ
nhóm 1 đến nhóm 4.
Chỉ số này phản ánh trong 1 đồng dư nợ cho vay, ngân hàng cần trích lập chi
phí dự phòng rủi ro tín dụng là bao nhiêu. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ các khoản
nợ thuộc nhóm nợ xấu chiếm phần ít trong tổng dư nợ, do đó dự phòng RRTD trích
lập thấp, lợi nhuận của ngân hàng cao hơn, do đó chỉ tiêu này phản ánh chất lượng
tín dụng của ngân hàng.
• Thu nhập từ hoạt động tín dụng trung dài hạn.
Chất lượng tín dụng tốt giúp cho doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh tốt, kinh
chất lượng.
Quá trình thẩm định dự án đầu tư bao giờ cũng phải được tiến hành theo một
trình tự nhất định gồm 2 bước: thẩm định sơ bộ và thẩm định chính.
• Bước thẩm định sơ bộ.
- Khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính hợp pháp và tính đầy
đủ của hồ sơ dự án để có thể yêu cầu chủ đầu tư bổ sung, hoàn tất, kịp thời.
- Sau đó cán bộ tìm hiểu uy tín người lập dự án, nếu là đơn vị thiết kế thì cần
tìm hiểu kinh nghiệm của họ trong việc luận chứng kinh tế của các dự án cùng loại,
còn đối với doanh nghiệp sản xuất thì phải xem họ có phải là những nhà sản xuất có
uy tín và thành công trên thị trường hay không?
- Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiếp xúc với chủ dự án và các đơn vị
giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất dự án.
- Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanh nghiệp, từ
đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh
ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời (nếu cần).
17
• Bước thẩm định chính thức.
Thẩm định về doanh nghiệp vay vốn
- Thẩm định phi tài chính
- Phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của
doanh nghiệp
Thẩm định dự án đầu tư
- Thẩm định khía cạnh thị trường.
- Thẩm định khía cạnh công nghệ kỹ thuật.
- Thẩm định khía cạnh tổ chức, quản lý.
- Thẩm định kinh tế - xã hội
- Thẩm định khía cạnh tài chính:
Thứ nhất:
+ Xác định tổng nhu cầu về vốn đầu tư bao gồm về vốn cố định và vốn lưu động.
+ Xác định phần vốn mà Ngân hàng cần tài trợ.
Thứ tư: Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi.
Thứ năm: Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cáo thẩm định trình
lãnh đạo.
Chính vì vậy việc thẩm định đúng đắn dự án đầu tư có ý nghĩa cực kì quan
trọng đối với các tổ chức tín dụng nó thể hiện: Giúp các tổ chức tín dụng nhìn nhận
một cách logic tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá
khứ cũng như hiện tại, dự án xu hướng phải triển của doanh nghiệp trong tương lai,
trên cơ sở đánh giá chính xác đối tượng được đầu tư để có đối sách thích hợp nhằm
nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh
nghiệp để xem xét xu hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Đây
là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế, khả năng thu nợ,
những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng
đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn.
1.2.3.2. Kiểm tra - kiểm soát.
Với những nhiệm vụ như: Ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống, xử lý nghiệp
vụ, Bảo vệ ngân hàng trước những thất thoát tài sản có thể tránh, Đảm bảo việc
19