TẬP HUẤN CHUẨN KTKN MÔN ĐỊA LÝ 2010 ( NQT 1 ) - Pdf 23

1

Ngoõ Quang Tuaỏn

Nm hc : 2010 - 2011

2NéI DUNG TËP HUÊN

1. Trao đổi về thực trạng Đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lý.
2. Trao đổi về việc dạy học theo chuẩn chuẩn kiến thức kỹ năng.
3. Trao đổi những vấn đề còn vướng mắc trong dạy học Địa lý cấp THPT.
4. Trao đổi vể bồi dưỡng HSG giỏi tỉnh, về thi Giáo viên giỏi tỉnh. CHUYÊN ĐỀ
THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI PHUƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ

I. VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC :
Trong những năm gần đây, cùng với chuyển biến bước đầu về chất lượng giáo dục, hiệu quả đổi mới
phương pháp dạy học (ĐMPPDH) đang từng bước được ghi nhận. Tuy nhiên, về PPDH còn nhiều vấn đề
cần bàn.
Một bộ phận không nhỏ học sinh thụ động học tập do không được làm việc hoặc không chịu làm vịêc
trong các giờ học. Trong hầu hết các giờ lên lớp, cả giờ thực tập, thao giảng và thi dạy giỏi vì giới hạn thời
gian tiết học, giáo viên chỉ cùng làm việc với một số học sinh khá giỏi để hoàn thành bài dạy, số còn lại
trong lớp im lặng, nghe và ghi chép thực chất đó là những bài độc diễn của giáo viên có học sinh khá giỏi
phụ hoạ, giáo viên không cần biết đến đối tượng học tập và lao động học tập là gì, kết quả giờ dạy vẫn
“tốt”, giáo viên dạy vẫn “giỏi”.
Xét cả về nhận thức và hành động nhìêu giáo viên không chuyển hoa được mục tiêu tích cực hoá hoạt
động của học sinh vào việc thiết kế và thi công bài dạy, cụ thể hơn là việc định hướng và tổ chức các hành

tổ chức làm việc học HS theo các yêu cầu cụ thể:
- Giao việc rõ ràng cho mọi HS và dành đủ thời gian để HS suy nghĩ, làm việc trong mọi thời điểm
thuộc tiến trình giờ dạy.
- HS phải thực sự rèn kỹ năng lao động học tập tích cực, tự giác, chủ động.
- Kiểm soát tình hình làm việc của HS để biêt và can thiệp đúng lúc trong những trường hợp cụ thể,
(với nội dung, công việc cụ thể, từng HS và nhóm đối tượng HS cụ thể trong thời điểm cụ thể) làm nổi
lên vai trò điều hành, tổ chức và trọng tài của GV.
Trong mỗi nội dung hoặc tình huống sư phạm có thể thiết kế nhiều hình thức tổ chức hoạt động khác
nhau, lựa chọn hình thức tối ưu nhất, sát với từng đối tượng.
Để tổ chức HĐHT cho HS, GV cần đặc biệt lưu ý các biện pháp kĩ thuật dạy học (KTDH) trên cơ sở
lựa chọn, sử dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học có được. Chúng tôi nhấn mạnh và
coi KTHD là cáh thức thể hiện, là nghệ thuật sử dụng các PPDH. Đó là nghệ thuật lao động sư phạm của
nhà giáo.
Trong quy trình bài dạy, thường diễn ra các biện pháp kỹ thuật như: Kiểm tra ôn tập kiến thức cũ, kỹ
thuật nêu vấn đề, giải quyết vấn đề để hình thành khái niệm kiến thức mới, kỹ thuật hỏi –đáp (bằng hệ
thống lôgic các câu hỏi) , kiểm tra hoặc xử lý các tình huống SP không mẫu mực. Những biện pháp
KTDH đáng lưu ý:
- Tổ chức HS làm việc với SGK bao gồm: Chuyển từ ngôn ngữ đọc thành ngôn ngữ nói sao cho HS
phát biểu nhận thức bài học bằng ngôn ngữ riêng của chính mình, không lệ thuộc vào SGK. Mặt khác, GV
có thể nghiên cứu để thiết kế các mẫu “phiếu học tập” tự làm tiện lợi từ SGK để HS chuyển từ ngôn ngữ
viết của mình mà không sao chép lại SGK.
- Trong luyện tập, GV chú ý việc giao nhiệm vụ, rồi hướng dẫn hoặc chữa bài khoá thật cần thiếtm
tăng cường kiểm soát HS, san bằng cường độ và ý thức làm việc với mọi đối tượng.
Sự tác động đúng lúc của GV trong luyện tập vừa mang lại hiệu quả dạy học cao, vừa điều hoà không
khí sư phạm trong mối quan hệ giữa GV với HS, HS với HĐHT của chính mình, giữa HS với nhau và với
các phương tiện công cụ học tập.
Để tổ chức HĐHT cho HS, GV cần tạo hết cơ hội cho HS và hướng dẫn HS làm việc; suy nghĩ để thiết
kế HĐHT sáng tạo (cùng một nội dung, tình huống học tập có thể thiết kế nhiều KTDH khác nhau và lựa
chọn tối ưu sao cho sát đối tượng); không nên gọi HS trả lời ngay sau khi nêu câu hỏi hoặc giao việc, GV
không nên chỉ làm việc với vài HS, không nhất tiết phải gọi HS lên bảng kiểm tra, đặc biệt chú ý không để

lớn hơn, HS càng thụ động hơn trong giờ học. Đã đến lúc chúng ta cần thay đổi nhận thức để nhận ra rằng
các kỹ năng sư phạm cốt lõi của GV là cầu nối hàng ngàn trang lý thuyết xa xăm với hàng triệu HS thân
yêu trong mỗi bài học, tiết học. Và rèn luyện các KNSP thực sự là một thông điệp cần được cập nhạt với
bao điều phải làm để độngũ nhà giáo chúng ta ĐMPPDH tiến bộ hơn, hiệu quả hơn.

IV. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI PPDH ĐỊA LÝ Ở THPT HIỆN NAY :
- Xuất phát từ mục tiêu giáo dục… giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện cả về trí
tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, các kỹ năng phát triển cá nhân… hình thành các kỹ năng hoạt động độc lập từ đó
vừa trang bị kiến thức, kỹ năng để vào đời.
- Sự thay đổi nội dung, chương trình sách giáo khoa đó là sự thay đổi theo hướng hiện đại, toàn diện,
cập nhật kiến thức đáp ứng nhu cầu CNH,HĐH.
- Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh phổ thông hiện nay với điều kiện tiếp thu kiến
thức nhiều chiều( sgk, báo chí, Internet, truyền hình )
- Xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ dạy học( đồ dùng, phương tiện trực quan phong
phú, ứng dụng công nghệ thông tin )
- Tính hiệu quả, phù hợp của phương pháp dạy học mới
V. ĐỔI MỚI PPDH CẦN THỤC HIỆN CÁC YÊU CẦU SAU :
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông.
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể.
- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS.
- Phù hợp với CSVC, các điều kiện dạy học của nhà trường.
- Phù hợp với việc đổi mới KTĐG kết quả học tập.
- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các PPDH tiên tiến, hiện đại với việc
khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống.
- Tăng cường sử dụng PTDH, TBDH và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của CNTT.
VI. QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI PPDH ĐỊA LÝ Ở THPT :
1. Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí (PPDHĐL) theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập
của HS không có nghĩa là loại bỏ các PPDH hiện có (hay còn gọi là các PPDH truyền thống) và thay vào
đó là các PPDH mới (hay còn gọi là PPDH hiện đại).
2. Đổi mới PPDH không chỉ là đổi mới PP dạy (cách dạy) của thầy mà còn phải quan tâm đến PP học

- Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng, TTC là sự biểu hiện nỗ lực cá nhân
(bằng thái độ, tình cảm, ý chí…) trong quá trình tác động đến đối tượng nhằm thu được kết
quả cao trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn.

2. Khái niệm tích cực nhận thức
- Theo I.F.Kharlamụp: TTC nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập,
cố gắng trí tuệ và nghị lực trong quá trỡnh nắm vững kiến thức.
- I.I.Samôva: TTC nhận thức là mục đích, PT và kết quả của hoạt động học tập, là phẩm chất của HS.
Nó xuất hiện trong mối quan hệ của HS với nội dung, với quỏ trỡnh học tập, với sự nỗ lực để nắm được tri
thức và PP trong một thời gian ngắn nhất với việc huy động ý chí để đạt được kết quả học tập. TTC nhận
thức được biểu hiện bằng sự sẵn sàng về mặt tâm lí cũng như việc xác định rừ mục đích dạy học, tình
huống và những hành động để đạt được mục đích đó.
- Theo Nguyễn Ngọc Bảo, TTC nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự
huy động ở mức độ cao của các chức năng tâm lí nhằm giải quyết vấn đề học tập - nhận thức. Nó vừa là
mục đích học tập, vừa là PT, là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động. Nó là phẩm
chất hoạt động của cá nhân.
- Giáo sư Trần Bá Hoành lại cho rằng, TTC học tập thực chất là TTC nhận thức. Biểu hiện của nó là cố
gắng cao trong học tập, khát khao hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri
thức.
Từ những quan niệm trên ta có thể hiểu một cách khái quát: TTC nhận thức là một khái niệm biểu thị
sự nỗ lực, chủ động của chủ thể trong quá trình học tập và nghiên cứu, là sự biểu hiện mức độ huy động
cao của các chức năng tâm lí nhằm giải quyết nhiệm vụ nhận thức, góp phần làm cho nhân cách của chủ
thể phát triển .
Trong quá trình dạy học, TTC nhận thức được biểu hiện ở những dấu hiệu: hăng hái trả lời các câu hỏi
của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc
mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa ra; chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đó được học
để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản
lòng trước những tình huống khó khăn.

3. Hoạt động của GV và HS trong dạy học tích cực

đạo hướng dẫn của GV, mặt khác phải tự tỡm kiếm, tự chỉ đạo hoạt động học của mình, đồng thời cần sử
dụng vốn kinh nghiệm của bản thân để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Hai hoạt động, dạy và học là không thể tách rời. Cho nên, người GV cần phải thường xuyên bảo đảm
các mối liên hệ này để hướng dẫn HS thực hiện bài học trong mỗi tiết học Địa lí nhằm để kịp thời điều
chỉnh cho phù hợp với nhau.

4. So sánh dạy học tích cực với dạy học thụ động
Bảng 1.1. So sánh cách dạy học thụ động với dạy học tích cực:

Yếu tố

Dạy học thụ động Dạy học tích cực
1.
Quan
niệm
- Học là quá trình tiếp thu và lĩnh
hội, qua đó hình thành kiến thức, kỹ
năng, tư tưởng, tình cảm.
- Học là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá,
phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin…,
tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất.
2.

Bản chất
- Là kiểu dạy học đề cao vai trò chủ
thể của GV. GV dạy những nội
dung thầy có, thầy muốn. Trong quá
trình nhận thức xảy ra diễn biến dạy
học theo một chiều, chủ yếu là từ
thầy đến trò.

- Theo lớp, đồng loạt. Ngoài ra
thỉnh thoảng có ngoại khoá, thực
hành tìm hiểu địa phương.
- Đa dạng: trên lớp: cá nhân, nhóm, lớp; ngoài lớp:
học ngoài trời, tham quan, khảo sát địa phương;
ngoại khoá: tổ Địa lí, câu lạc bộ Địa lí, đố vui, trò
chơi học tập…
6.
Phương
pháp dạy
học
- Truyền thống, theo kiểu giải thích,
minh hoạ:
+ GV: truyền thụ một chiều kiến
thức đó chuẩn bị sẵn.
+ HS: thông hiểu, ghi nhớ (nặng về
ghi nhớ máy múc), tái hiện.
- Các PP truyền thống được sử dụng linh hoạt theo
hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS (thuyết
trình có sự tham gia tích cực của HS, đàm thoại gợi
mở…).
- Áp dụng một số PPDH mới, thích hợp: giải quyết
vấn đề, thảo luận, điều tra, đóng vai, động não…
7. PTDH
- Có cả PT truyền thống, cả hiện
đại; sử dụng chủ yếu theo kiểu
minh hoạ.
- Có cả PT truyền thống lẫn hiện đại; sử dụng chủ
yếu theo hướng nguồn tri thức.
8.


- Cán bộ
quản lý
giáo dục:
- Chỉ tiếp nhận khối lượng kiến
thức thầy cho. HS học thuộc bài
nhưng ít quan tâm vận dụng kiến
thức vào tình huống mới. HS nắm
được bài qua học thuộc bài và trả
lời đúng nội dung bài thầy đó cho,
tư duy của các em ít được phát
triển.
- Tạm bằng lòng với chuyên môn,
nghiệp vụ có sẵn.
- An tâm với hoạt động dạy học
“bình thường” của nhà trường.
- Tiếp thu khối lượng kiến thức theo mức độ hiểu
biết của mình. HS nảy sinh ra nhiều vấn đề sáng tạo
trong quá trình nhận thức, tạo được hành vi mong
muốn vận dụng hiểu biết của mình vào tình huống
mới. HS nắm chắc kiến thức bài học bằng sự thông
hiểu của mình. Tư duy của các em được phát triển.

- Luôn phải nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ, tiếp cận với PPDH tiên tiến và PTDH hiện đại.
- Trăn trở, chia sẻ với suy nghĩ, việc làm của GV.
- Quan tâm, ủng hộ, khuyến khích, tạo điều kiện và
nhân rộng điển hình tốt về đổi mới PPDH.

IX. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PPDH ĐỊA LÝ Ở THPT :

+ Tiếp tục như thế cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác;
+ Con số XYZ có thể thay đổi; sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến.

- Ví dụ: Khi dạy bài : Lao động việc làm (Địa lí 12) Gv có thể sử dụng kỹ thuật : XYZ
+ Ở mục : Hướng giải quyết việc làm,giáo viên có thể thực hiện hoạt động nhóm với kỹ thuật : XYZ
+ Mỗi nhóm 6 ngưòi, yêu cầu mỗi người viết ra 2 ý kiến về giải pháp giải quyết việc làm ở nước ta
trên một tờ giấy trong vòng tối đa một phút và chuyển cho người bên cạnh, tiếp tục như vậy cho đến khi
tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình , có thể lặp lại vòng khác
+ Sau khi thu thập ý kiến thì các nhóm tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến
+ Lưu ý khi thực hiện cần chú ý đến thời gian thực hiện và các ý kiến trùng hợp nhau.

3. Kỹ thuật “bể cá” :
- Là kĩ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó 1 nhóm HS ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn
những học sinh khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết
thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những học sinh thảo luận.
- Trong nhóm thảo luận có thể có 1 vị trí không có người ngồi. HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi
vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra 1 câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc
phát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm.
- Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau.
(Gọi là thảo luận “bể cá” vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự
như như xem những con cá trong 1 bể cá cảnh)

- Ví dụ : Khi dạy bài : Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên
+ Mục 2, Phát triển cây công nghiệp lâu năm GV có thể SD Kỹ thuật bể cá
+ B1: Giáo viên có thể chia lớp thành 4 nhóm,trong đó có 2 nhóm tham gia thảo luận và 2 nhóm quan
sát.
+ B2: Phân công - Nhóm 1 thảo luận nội dung: Điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển cây
công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên. - Nhóm 2 thảo luận nội dung : Tình hình phát triển và phân bố cây
công nghiệp lâu năm ở Tây nguyên. - 2 nhóm còn lại : nhóm 3 quan sát nhóm 1, nhóm 4 quan sát nhóm 2.
Nhóm 3,4 có nhiệm vụ quan sát nhóm 1,2 thảo luận và buộc phải đưa ra ý kiến nhận xét hoặc có thể đưa

trong khi áp dụng phương pháp đàm thoại gợi mở
+ Giáo viên có thể nêu vấn đề : Đô thị hoá có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển KTXH. Yêu
cầu từng học sinh đứng lên nêu một số ví dụ ảnh hưởng của đô thị hoá, rồi lần lượt học sinh khác ,cho đến
khi không có học sinh nào có ý kiến Lúc đó GV mới kết luận.
Ví dụ : Khi dạy bài : Lao động việc làm
+ Mục 1, Đặc điểm nguồn lao động
+ Giáo viên cũng có thể thực hiện kỹ thuật tia chớp : Yêu cầu từng học sinh lần lượt nêu các đặc điểm
nguồn lao động nước ta,cho đến khi không có học sinh nào có ý kiến,lúc đó giáo viên tổng hợp lại các ý
kiến của các học sinh và kết luận đặc điểm của nguồn lao động nước ta.

XI. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN CỤ THỂ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ :

1. Phương pháp sử dụng bản đồ/lược đồ
1.1. Vị trí của bản đồ/lược đồ trong dạy học Địa lý
- Bản đồ/lược đồ là một PTDH, một nguồn tri thức quan trọng. Nhờ thu nhỏ theo tỉ lệ và khái quát
hoá mà qua bản đồ, HS có thể nhìn một cách bao quát những khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh
thổ xa xôi trên bề mặt Trái Đất mà họ chưa có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát.
- Trong chương trình Địa lý, thời lượng các bản đồ/lược đồ được sử dụng trong mỗi bài học tương đối
nhiều. Mỗi một lược đồ/bản đồ chứa đựng một khối lượng kiến thức lớn, lớn hơn rất nhiều so với các PT
khác.
- Số lượng các câu hỏi trong bài, gồm các câu hỏi giữa bài, câu hỏi và bài tập cuối bài, các bài thực
hành gắn với bản đồ/lược đồ rất lớn. Đây là những câu hỏi có ý nghĩa định hướng, giúp HS khai thác kiến
thức.
11
- Ngoài việc cung cấp kiến thức, các bản đồ/lược đồ còn có tác dụng minh hoạ cho kiến thức. Phần
chữ của nhiều bài học cũng được minh hoạ trên bản đồ/lược đồ, đó là những kiến thức theo dạng xác định
sự phân bố đối tượng.
- Bản đồ/lược đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những mỗi quan hệ của các đối tượng địa lý trên
bề mặt Trái Đất một cách cụ thể mà không một phương tiện nào có thể làm được. Những ký hiệu, màu
sắc, cách thể hiện trên bản đồ/lược đồ là những nội dung địa lí được mã hoá, trở thành một thứ ngôn ngữ

Trái Đất.
Bước 3. Tổ chức cho các nhóm tiến hành báo cáo kết quả, nhận xét kết quả giữa các nhóm với nhau,
giải đáp những thắc mắc ở HS. GV kết luận, chuẩn kiến thức:
- Trên Trái Đất có 24 múi giờ, Việt Nam thuộc múi giờ số 7. Nếu một trận bóng đá ngoại hạng Anh
được tổ chức vào lúc 20 giờ ngày 5/9, được truyền hình trực tiếp thì ở Việt Nam chúng ta sẽ bật tivi vào
lúc 3 giờ ngày 6/9 để xem.
- Cách đánh số các múi giờ đối xứng nhau qua múi giờ số 0, là những giờ sớm hơn và muộn hơn giờ
GMT. Dựa vào cách đánh này chúng ta dễ dàng xác định giờ của các kinh tuyến trên Trái Đất tại cùng
một thời điểm.
- Đường chuyển ngày quốc tế là đường kinh tuyến 180
0
ở giữa Thái Bình Dương. Vì theo cách tính giờ
múi, Trái Đất lúc nào cũng có một múi giờ mà ở đó có hai ngày lịch khác nhau. Để tiện cho việc xếp lịch
và các hoạt động khác người ta phải chọn đường đổi ngày. Nếu đi từ phía Tây sang phía Đông qua kinh
tuyến 180
0
thì trừ đi một ngày, nếu đi từ phía Đông sang phía Tây qua kinh tuyến 180
0
thì cộng thêm một
ngày lịch.

12
1.3. Những yêu cầu khi sử dụng bản đồ/ lược đồ
- Khi sử dụng bản đồ/lược đồ cần nghiên cứu kỹ nội dung bài học, kiến thức trọng tâm của bài.
- Xác định mục tiêu của bài là gì ? Những kiến thức, kỹ năng cơ bản nào cần rèn luyện.
- Trên cơ sở mục tiêu, nội dung của bài cần xác định những bản đồ/lược đồ nào đưa vào sử dụng.
Những bản đồ/lược đồ đó có sẵn hay phải tự làm.
- Kết hợp nội dung bài học với phương tiện đó cú, GV phải xây dựng hệ thống câu hỏi bài học gắn với
bản đồ/lược đồ để HS dựa vào đó tìm ra tri thức. Hệ thống câu hỏi, bài tập gắn với bản đồ/lược đồ nên chú
ý câu hỏi rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy Địa lý. Các câu hỏi – bài tập với bản đồ/lược đồ cần chú ý

phát triển logic của nội dung bài học, nên việc ghi chép, học bài cũng trở nên nhẹ nhàng hơn.
- Sử dụng sơ đồ là điều kiện tốt để GV thu được tín hiệu ngược, kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và
học.
- Dựng sơ đồ trong dạy học Địa lý khắc phục được tính hình thức cũng như hiện tượng ghi nhớ máy
móc, chỉ thấy được mối quan hệ bên ngoài mà không hiểu được bản chất của kiến thức.
- Ngôn ngữ sơ đồ vừa trực quan, cụ thể lại vừa có tính khái quát và hệ thống cao. Sử dụng sơ đồ cho
phép tiếp cận nội dung kiến thức bằng con đường logic, phân tích tổng hợp tức là cùng một lúc vừa phân
tích đối tượng nhận thức thành các sự kiện, các yếu tố cấu thành, vừa tổng hợp hệ thống hoá các sự kiện,
các yếu tố đó thành một chỉnh thể thống nhất tạo thuận lợi cho việc phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng
địa lý.

2.2. Quy trình các bước sử dụng sơ đồ
13
Bước 1: Dẫn dắt sự tập trung chú ý của HS vào sơ đồ. Bước này được thực hiện bằng cách đưa ra những
câu hỏi, bài tập gắn với sơ đồ yêu cầu HS tự lực tìm ra tri thức.
Bước 2: Tổ chức, hướng dẫn HS nghiên cứu, thảo luận theo những vấn đề mà GV đã nêu để tìm ra
kiến thức bài học cần nắm.
Bước 3: Tổ chức HS báo cáo kết quả làm việc của mình nhóm và yêu cầu HS các nhóm khác nhận xét,
trao đổi thảo luận.
Bước 4: GV nhận xét kết quả làm việc, giải thích và chốt lại những vấn đề trọng tâm để HS chuẩn
kiến thức vào vở.
2.3. Những yêu cầu khi sử dụng sơ đồ
- Khi sử dụng sơ đồ cần nghiên cứu kỹ nội dung bài học để có sự định hướng đúng trong quá trình
trình diễn kiến thức trên phương tiện.
- Đối với các sơ đồ không có thêm phần kênh chữ minh hoạ, để tìm ra tri thức buộc HS chỉ có thể dựa
vào sơ đồ. Do vậy, đối với loại bài này GV nên dành thời gian cho HS được làm việc, bày tỏ quan điểm để
phát hiện những nhân tố tích cực và chuẩn hoá kiến thức để các em làm tư liệu học tập.
- Trong nội dung chương trình địa lý 10, sau mỗi sơ đồ thường có câu hỏi mang tính định hướng cho
nội dung bài học. Tuy nhiên, vẫn có những câu hỏi mang tính chung chung, nếu chỉ dựa vào đó HS khó có
thể hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình. Do vậy, GV cần phải xem xét, nghiên cứu đặt thêm những câu

mục đích của mình trong việc phân tích bảng số liệu, GV cần cho HS nghiên cứu kỹ xem chủ đề của bảng
số liệu đó là gì, nó có phự hợp với yêu cầu đặt ra hay không hay chỉ khai thác một vài khía cạnh nào đó
trong bảng số liệu.
14
Bước 3. Hướng dẫn HS tìm các trị số lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình trong bảng và xử lý các số liệu đó
cho trong bảng theo yêu cầu mà GV đó đề ra.
Mục đích của bước này là tìm ra những số liệu điển hình để thuận tiện cho việc so sánh, phân tích giữa
các đối tượng cung cấp hoặc giữa đối tượng riêng lẻ với tổng thể các đối tượng (thông qua chỉ số trung
bình).
Các số liệu có ở hai dạng: số liệu tuyệt đối và số liệu tương đối. GV yêu cầu HS chuyển được từ số
liệu tuyệt đối sang số liệu tương đối và ngược lại.
Bước 4. Hướng dẫn HS xác lập mối quan hệ giữa các số liệu. So sánh, đối chiếu các số liệu theo hàng,
theo cột để rút ra nhận xét. So sánh số liệu ở đây nghĩa là đối chiếu các số liệu với nhau để rút ra được
những kết luận cần thiết.
Bước 5. Nêu kết luận về giá trị của các số liệu thống kê trong bảng đối với việc thực hiện nội dung bài
giảng. Đây là bước cuối cùng và quan trọng nhất của quy trình phân tích bảng số liệu. Nó giải đáp một
cách rõ ràng, tỉ mỉ và có căn cứ khoa học các vấn đề mà việc phân tích bảng số liệu cần đạt được.

3.3. Những yêu cầu khi sử dụng bảng số liệu
- Khi tiến hành phân tích bảng số liệu GV cần hướng dẫn HS phân tích tổng quát trước, sau đó mới đi
vào các số liệu cụ thể.
- GV hướng dẫn HS quan sát, không bỏ sót các số liệu, các dữ kiện trong bảng (theo hàng ngang, cột
dọc).
- Đối với những bảng được trình bày quá nhiều số liệu, nhiều thành phần, GV cần hướng dẫn HS phân
tích, nhận xét tổng quát, sau đó phân tích, nhận xét những số liệu mang tính điển hình.
- GV nên tăng cường các yêu cầu tính toán, xử lý số liệu, mô hình hoá các bảng số liệu.

XII. MỘT SỐ TIÊU CHÍ ĐỂ ĐÁNH GIÁ TIẾT DẠY CÓ ỨNG DỤNG CNTT
(Lưu ý: chỉ đánh giá trên góc độ ứng dụng CNTT, góp phần vào việc đánh giá toàn bộ tiết dạy)


không làm HS phân tán chú ý, không quá nhiều, sử dụng có cân nhắc đến ảnh hưởng bất lợi của nó, VD :
Hay cho con chữ xuất hiện lẻ tẻ, rời rạc, chuyển động bay bướm, chậm chạp - các dòng chữ chuyển động
quá cầu kỳ hoặc rời rạc, lừ đừ. Màu sắc sặc sỡ, loè loẹt; âm thanh ồn ào chối tai khi chuyển slide hoặc
đánh dấu trắc nghiệm. Phối màu không khoa học khiến các dòng chữ mờ nhạt, khó nhìn : Hình ảnh và
màu sắc làm nền sặc sỡ / chữ màu vàng nhạt; hoặc nền màu vàng nhạt / chữ màu vàng/nền đỏ Khó thấy
chữ.

3. Tiêu chí về kỹ thuật (Kỹ thuật trình chiếu và sử dụng máy)
- GV làm chủ được kỹ thuật, thao tác nhuần nhuyễn, trình chiếu không trục trặc.
- Phối hợp nhịp nhàng giữa trình chiếu với ghi bảng, ghi vở, ăn khớp giữa các slide với lời giảng, hoạt
động của thầy - trò, với tiến trình bài dạy.
- Nhịp độ trình chiếu và triển khai bài dạy vừa phải, phù hợp với sự tiếp thu của phần đông HS. HS theo
dõi kịp và ghi vở kịp.

4. Tiêu chí về hiệu quả (KT, PP, KN, đánh giá).
- Thực hiện được mục tiêu bài học - HS hiểu bài và hứng thú học tập.
- HS tích cực, chủ động tìm ra bài học.
- HS được thực hành-luyện tập (RLKN).
- Đánh giá được kết quả giờ dạy.
- Phát huy được tác dụng nổi bật của CNTT mà bảng đen và các ĐDDH khác khó đạt được.

=============================================================
* Chuẩn kiến thức, kỹ năng được coi là cơ sở để:
- Biên soạn sách giáo khoa và các tài liệu hướng dẫn dạy học, kiểm tra đánh giá.
- Chỉ đạo, quản lý, thanh kiểm tra việc thực hiện dạy học, kiểm tra, đào tạo bồi dưỡng giáo viên.
- Xác định mục tiêu của quá trình dạy học nói chung và mỗi tiết học nói riêng.
- Xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá đối với mỗi loại bài kiểm tra, bài thi cụ thể.
b) Góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
- Đảm bảo được các yêu cầu sơ bản về kiến thức, kỹ năng, tránh quá tải và quá lệ thuộc vào SGK, phù
hợp với khả năng tiếp thu của học sinh.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác học tập của học
sinh. Đồng thời thông qua chuẩn kiến thức, kỹ năng góp phần rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự
học, tự nghiên cứu vói nhu cầu hành động và tự tin trong học tập cho học sinh.
- Tăng cường mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh thông qua
các hoạt động học tập hợp tác, làm việc theo nhóm.
- Góp phần rèn luyện các kỹ năng, năng lực thực hành; gắn nội dung bài học với thực tiễn sinh động
của cuộc sống.
- Sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
c) Là thước đo cho khâu kiểm tra, đánh giá.
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh thực chất là xem xét mức độ đạt được so với yêu cầu đề ra dựa
trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng.Vì thế, có thể coi chuẩn kiến thức, kỹ năng là thước đo cho khâu kiểm
tra, đánh giá, nghĩa là có điểm để mà so sánh.
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ là kết quả cuối cùng, mà còn phải chú ý cả quá trình
học tập. Việc đánh giá phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng; chứ không phải đơn thuần vào SGK để
từ đó khắc phục được các bài mà giáo viên thường phàn nàn là dài.
- Các tiêu chí kiểm tra, đánh giá phải đảm báo tính toàn diện, độ tin cậy, tính khả thi, sự phân hoá có
hiệu quả.

3. Các mức độ đạt được.
- Trong “ hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông môn Địa
lý” đã chỉ rõ, theo cách phân loại của Bloom có 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng
17

biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết
sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn dề nào đó.
- Yêu cầu áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định lý, định lụât, công thức
để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn.
- Có thể cụ thể hoá mức độ vận dụng bằng các yêu cầu:
+ So sánh các phương án giải quyết vấn đề
+ Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được.
+ Giải quyết được tình húông mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định lý, định luật, tính chất đã
biết.
+ Khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống quen thuộc, tình huống đơn lẻ sang tình huống phức
tạp hơn.
d) Phân tích.
Đó là khả năng phân chia một thông tin ra thành nhiều thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu
trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.
- Yêu cầu chỉ ra được các bộ phận cấu thành, xác định được mối quan hệ giữa các bô phận, nhận biết
và hiểu được nguyên lý cấu trúc của các bộ phận cấu thành. Đây là mức độ cao hơn vận dụng vì nó đòi hỏi
sự thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật, hiện tượng.
- Có thể cụ thể hoá mức độ phân tích bằng các yêu cầu:
+ Phân tích các sự kiện đủ để giải quyết được vấn đề.
+ Xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận trong toàn thể.
+ Cụ thể hoá được những vấn đề trừu tượng.
18
+ Nhận biết và hiểu được cấu trúc các bộ phận cấu thành.
e) Tổng hợp.
Đó là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo nên
một hình mẫu mới.
- Yêu cầu tạo ra được một chủ đề mới, một vấn đề mới, một dạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ
phân lớp thông tin). Kết quả trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi sáng tạo, đặc biệt tỏng việc
hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới.
- Có thể cụ thể hoá mức độ tổng hợp bằng các yêu cầu:

- Kỹ năng học tập và nghiên cứu địa lý: Quan sát, nhận xét, phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật
hiện tượng địa lý; vẽ lược đồ, phân tích, sử dụng bản đồ, atlat, biều đồ, lát cắt, số liệu thống kê…
- Kỹ năng thu thập, xử lý , tổng hợp và thông báo thông tin địa lý.
- Kỹ năng vận dụng tri thức địa lý để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lý và bước đầu tham gia
giải quyết những vấn đề của cuộc sống phù hợp với khả năng của học sinh.
c) Về thái độ, hành vi:
- Có tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước và tôn trọng các thành quả của nhân dân Vịêt Nam
cũng như nhân loại;
- Có niềm tin vào khoa học, ham học hỏi, hứng thú tìm hiểu và giải thích các sự vật, hiện tượng địa
lý;
- Có ý chí tự cường dân tộc, niềm tin vào tương lai đất nước, sẵn sàng tham gia vào các hoạt động sử
dụng hợp lý, bảo vệ, cải tạo môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình và cộng đồng dân
tộc.
19

1.2. Học xong chương trình Địa lí 11 (chương trình chuẩn) học sinh đạt được:
a) Về kiến thức
Hiểu và trình bày được các kiến thức phổ thông, cơ bản về:
- Một số đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại và một số vấn đề đang được nhân loại quan tâm.
- Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới.
b) Về kĩ năng
Củng cố và phát triển các kỹ năng:
- Nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng địa lí, xây dựng biểu đồ, sử dụng và khai
thác bản đồ, số liệu thống kê liên quan đến địa lí kinh tế - xã hội thế giới, khu vực và một số quốc gia tiêu
biểu.
- Thu thập, trình bày các thông tin địa lí về một số khu cực hay quốc gia tiêu biểu trên thế giới.
- Vận dụng kiến thức ở mức độ nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí đang diễn ra trên thế
giới.
c) Về thái độ, hành vi
- Có ý chí vươn lên để đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

riêng, cái mà chúng ta dùng để làm một việc gì (ví dụ: bản đồ, sơ đồ, tranh ảnh…) để đạt một mục đích
nào đó (ví dụ: minh hoạ cho lời giáo viên vừa nói hay cho học sinh khai thác tri thức…) thì đều được gọi
là phương tiện.

2. Khái niệm phương tiện dạy học
20
Khi nói về PTDH thì có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này:
- PTDH: (đồ dùng, thiết bị dạy học), một vật thể hoặc một tập hợp các vật thể mà GV sử dụng trong
quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp HS lĩnh hội khái niệm, định luật…vv, hình
thành các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ cần thiết.
- PTDH là tất cả các PT vật chất cần thiết giúp GV hay HS tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá
trình giáo dục và giáo dưỡng ở các cấp học, các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiện được những yêu
cầu của chương trình giảng dạy.
- PTDH là chỉ một vật thể hoặc một tập hợp những đối tượng vật chất mà người GV sử dụng với tư
cách là PT điều khiển hoạt động nhận thức của HS, còn đối với HS thì đây là các nguồn tri thức, là PT
giúp HS lĩnh hội các khái niệm, định luật, học thuyết khoa học, hình thành ở hs các kỹ năng, kỹ xảo, đảm
bảo việc giáo dục, phục vụ các mục đích dạy học và giáo dục .
- PTDH bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để
làm dẽ dàng cho sự truyền đạt và sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
- PTDH là một tập hợp những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư cách là những PT điều khiển
hoạt động nhận thức của HS. Đối với HS đó là nguồn tri thức phong phú sinh động, là các phương tiện
giúp cho các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo .
Từ những cách hiểu như trên, ta có thể hiểu một cách khái quát: PTDH là một tập hợp tất cả các PT
vật chất cần thiết mà người GV và HS sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học.
Đó là những công cụ giúp người GV tổ chức, điều khiển quá trình dạy học (thông báo thông tin, tổ chức –
kích thích hoạt động nhận thức, kiểm tra, đánh giá…) và những công cụ giúp người HS lĩnh hội tri thức
cũng như tổ chức hoạt động nhận thức của mình có hiệu quả.

3. Khái niệm phương tiện dạy học Địa lí
Theo Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phúc: “Trong bộ môn Địa lí, các PT và thiết bị gồm có một phần

gắn liền với thực tiễn. Hơn nữa, đứng trước vật thật hay các hình ảnh của chúng, HS sẽ học tập hứng thú
hơn, tăng cường sức chú ý đối với các đối tượng nghiên cứu, dễ dàng tiến hành các quá trình phân tích,
tổng hợp các hiện tượng để rút ra những kết luận đúng đắn.
- PTDH được xem là “điểm tựa” cho hoạt động trí tuệ của HS, góp phần nâng cao năng lực tư duy của
các em. Khi thực hiện các nhiệm vụ do GV yêu cầu trên cơ sở quan sát, phân tích PTDH, bằng hoạt động,
hứng thú của HS được kích thích, tư duy của HS luôn luôn được đặt trước những tình huống mới, buộc
HS phải suy nghĩ, tìm tòi, phát triển trí sáng tạo. Sử dụng PTDH còn cho phép gia tăng khối lượng công
tác tự lập của HS trong giờ học.
Như vậy, có thể nói rằng PTDH nếu được sử dụng đúng đắn sẽ có những khả năng to lớn trong việc
phát huy TTC, tự lực học tập của HS, góp phần quan trọng trong việc đổi mới PPDH hiện nay.

5. Các loại phương tiện trong dạy học Địa lí
5.1. Cơ sở phân loại PTDH Địa lí
Trong một thời gian dài PTDH thường được dùng dưới nhiều tên gọi khác nhau, trong đó có tên gọi
phổ biến là PT trực quan (phù hợp với chức năng minh hoạ tri thức). Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật và sự biến chuyển không ngừng của các PPDH đó làm biến chuyển đến các PTDH, làm cho số lượng
PTDH ngày càng phong phú, đa dạng. Do đó, mà việc phân loại các PTDH cũng có thay đổi. Dựa vào vai
trò, ý nghĩa, cấu trúc, chức năng, đặc điểm môn học… các tác giả đó cú sự phân loại như sau:
- Theo Grabetxki và Parmênốp chia phương tiện thành ba nhóm:
+ Các mô hình, mẫu vật, các loại dụng cụ biểu diễn thí nghiệm.
+ Các thiết bị máy móc và dụng cụ giúp cho việc tiến hành thí nghiệm
+ Các dụng cụ trực quan tượng hình: sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh…
- Theo Nguyễn Ngọc Bảo, Ngô Hiệu, các phương tiện được sử dụng chủ yếu trong nhà trường phổ
thông hiện nay là: các vật thật; các vật tượng trưng (bản đồ/lược đồ, sơ đồ, đồ thị…); các vật tạo hình như
(tranh ảnh, mô hình, hình vẽ…); thí nghiệm và các thiết bị thí nghiệm; các phương tiện mô tả bằng lời nói,
kí hiệu như: sách giáo khoa, các tài liệu in, lời nói của GV, các công thức…; các phương tiện thiết bị kỹ
thuật dạy học.
- Theo Trần Đức Vượng, các loại PTDH gồm: tranh, ảnh, bảng, biểu đồ; bản đồ giáo khoa; mô hình,
mẫu vật, vật mẫu; dụng cụ; phim Slide; bản trong dựng cho máy chiếu qua đầu; băng, đĩa ghi âm; băng,
đĩa ghi hình; phần mềm dạy học.

bảo quản tốt; phải có phòng ốc chuyên biệt để lắp đặt, sử dụng, bảo quản .

6. Mối quan hệ giữa phương tiện dạy học Địa lí với các yếu tố của quá trình dạy học.
Quá trình dạy học là tập hợp những hành động liên tiếp của GV và HS. Những hành động này nhằm
làm cho HS tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trong quá trình đó phát triển được
năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan và phát triển nhân cách cũng như những năng lực riêng về trí
tuệ .
Như vậy, quá trình dạy học có rất nhiều yếu tố: hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, nội
dung dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, PTDH, kiểm tra - đánh giá sản phẩm của
nó. Trong đó hai yếu tố dạy và học tạo thành một quy luật có quan hệ biện chứng chi phối tất cả các yếu tố
khác.
* Mối quan hệ giữa PTDH với hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS.
Trong hoạt động dạy, GV mang vai trò định hướng, nhiệm vụ chủ yếu của GV là thiết kế, tổ chức và
tạo ra các điều kiện để HS thực hiện việc học một cách tích cực. Để làm được điều đó thì một trong những
yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học Địa lí đó là PTDH. GV căn cứ vào nội dung dạy học, tình
hình HS và PT hiện có để lựa chọn PP tác động vào HS nhằm đạt mục đích dạy học. Nhờ có PTDH mà
các nhiệm vụ của người GV được thực hiện một cách dễ dàng và hoạt động học của HS cũng trở nên hứng
thú, nhẹ nhàng hơn.
* Mối quan hệ giữa PTDH với nội dung và PPDH
- Phương tiện, nội dung và PP luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi nội dung hoạt động
đòi hỏi phải có phương tiện và phương pháp thích ứng. Sự xuất hiện của phương tiện lại có thể làm nảy
sinh những nội dung và phương pháp mới.
- PTDH là “hình ảnh kép” của PPDH. Mỗi PPDH đòi hỏi phải có phương tiện hoạt động phù hợp,
PPDH được thực hiện bằng các hoạt động với các PT cụ thể. Bởi vậy, khi nói đến PPDH nghĩa là nói đến
PTDH. Ngược lại, nói đến PTDH là nói đến PP sử dụng chúng trong dạy học. Ví dụ, khi nói đến PP bản
đồ thì phải có mặt bản đồ; khi nói đến PP sử dụng tranh ảnh thì phải có tranh ảnh.
* Mối quan hệ giữa PTDH với hình thức tổ chức dạy học. Mối quan hệ giữa PTDH và hình thức dạy
học, ngoài mối quan hệ nội dung (nguồn tri thức) trong phương tiện với các hình thức dạy học còn có
quan hệ với kích cỡ và số lượng của các PT. Kích cỡ, số lượng của các phương tiện ảnh hưởng
đến hình thức tổ chức dạy học và ngược lại hình thức tổ chức dạy học tuỳ thuộc vào kích cỡ,

quan. Nếu câu hỏi quá khó, HS không trả lời được cũng đâm ra chán nản. Do đó khi chuẩn bị bài giảng
GV cần lựa chọn, cân nhắc đặt câu hỏi để HS trên cơ sở nhận thức của mình, nắm được tri thức, phát triển
được năng lực trí tuệ.
5. Sử dụng PTDH phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, thẩm mỹ; phải đáp ứng mục tiêu và phù
hợp với nội dung của việc dạy học.

6. Khai thác tối đa các chức năng của PTDH có sẵn. Đồng thời luôn tích cực tìm tòi, tự tạo các PT
để phục vụ cho quá trình dạy học địa lí. V. NHỮNG YÊU CẦU KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 THEO
HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC SINH.
- Khi đưa các phương tiện vào trong quá trình dạy học thì nó phải được sử dụng có hiệu quả cao nhất,
đáp ứng các yêu cầu về nội dung và phương pháp được quy định trong chương trình giáo dục.
- Phải sử dụng thành thạo các PTDH, làm thử thuần thục các thí nghiệm - thực hành trước khi đến lớp.
- Tự sưu tầm, tự làm những phương tiện cần thiết.
- Tập trung vào việc sử dụng các PT như một nguồn tri thức, cần hạn chế dùng các PTDH theo hướng
minh hoạ cho kiến thức.
- Để sử dụng tốt các PTDH, khi lên lớp GV cần:
+ Có kế hoặch chuẩn bị trước những PTDH như đã nêu trong giáo án. Nghiên cứu kỹ các PT để
hiểu rõ nội dung, tính chất, tác dụng của PT, tránh tình trạng khi lên lớp mới cùng với HS tiếp xúc với PT.
+ Cần lựa chọn những PT mang tính thiết thực đối với nội dung bài học, đồng thời khai thác tối đa
các nội dung đó được thể hiện trên mỗi PT.
+ Khi soạn bài cũng như khi lên lớp, GV cần xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập tương đối chuẩn
xác, rõ ràng để HS làm việc với các PT nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng.
+ Cần phối hợp nhiều loại PTDH khác nhau, nhiều dạng khác nhau trong cùng một bài dạy, không
nên quá cường điệu một loại phương tiện nào đó.
+ Vị trí đặt các PTDH trên lớp phải đảm bảo điều kiện thuận lợi cho HS cả lớp cùng quan sát được
(nếu là tổ chức dạy học toàn lớp) hoặc các thành viên trong nhóm đều được làm việc với các phương tiện
(nếu là tổ chức dạy học theo nhóm).

nhỏ hơn. GV để cho HS trả lời lần lượt các câu hỏi nhỏ, người sau bổ sung, hoàn chỉnh thêm câu trả lời
của người trước. Cứ thế cho đến tổ hợp các câu trả lời của HS đủ để giải đáp câu hỏi đó nêu ra một cách
đầy đủ, đúng đắn.

Ví dụ: Khi dạy bài 2. Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ. Mục 1. Phương pháp
kí hiệu. GV đặt câu hỏi: Dựa vào bản đồ công nghiệp điện Việt Nam em hãy chứng minh rằng phương
pháp kí hiệu không những chỉ nêu được tên và vị trí mà còn thể hiện được cả, số lượng, chất lượng của các
đối tượng trên bản đồ. Từ câu hỏi đó GV có thể đưa ra một số câu hỏi gợi ý như sau:
+ Để nhận biết và phân biệt được nhà máy này với nhà máy khác dựa vào yếu tố cơ bản nào?
+ Để thể hiện quy mô của các nhà máy người ta thay đổi kích thước các ngôi sao như thế nào?
Cách đó thể hiện được số lượng, vị trí hay chất lượng đối tượng?
+ Tại sao cũng là những ngôi sao có cùng kích thước nhưng lại có màu sắc khác nhau, sự khác
nhau đó thể hiện đặc điểm nào của đối tượng?

2.2. Sử dụng PTDH theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.
- Dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp, trong đó GV đặt ra trước HS những vấn đề nhận thức và
điều khiển HS giải quyết những vấn đề đó.
- Điều kiện thực hiện
+ Phương pháp này chỉ nên áp dụng khi nghiên cứu những sự vật, hiện tượng mà bằng lời nói
không thể mô tả được một cách rõ ràng, đầy đủ, tính chất tài liệu rõ ràng, có các yếu tố nghịch lý, mâu
thuẫn, các sự kiện tương phản. Nội dung bài học có độ phức tạp vừa phải, kiến thức không hoàn toàn mới
đối với HS mà đòi hỏi phát triển một cách logic những tri thức đó biết.
+ Đối với GV phải có khả năng sử dụng thành thạo phương pháp dạy học giải quyết vấn đề và
các loại phương tiện được sử dụng trong bài.
25
- Tổ chức thực hiện
Trong quá trình dạy học trên lớp, sử dụng phương tiện theo hướng giải quyết vấn đề thường diễn
ra theo trình tự sau:
+ Tạo tình huống có vấn đề, tức là tạo ra những mâu thuẫn nhận thức vừa sức và hứng thú đối với
HS, tạo cho các em có sự day dứt bởi chính những mâu thuẫn đó và có ham muốn giải quyết.

phân tích, tổng hợp, so sánh để đề ra những giải pháp hoặc rút ra những kết luận cần thiết.
- Điều kiện thực hiện.
+ Nội dung các tài liệu đó có phải vừa sức, không quá mới mẻ đối với HS.
+ HS phải có những kiến thức, kỹ năng nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu, có khả năng tư duy
trừu tượng tương đối cao.
+ GV có kinh nghiệm trong công tác tổ chức và hướng dẫn HS nghiên cứu.
- Tổ chức thực hiện. Được tiến hành theo trình tự các bước như sau:
+ Xác định vấn đề nghiên cứu (trong bước này GV có thể xây dựng trước các bài tập, phiếu hoạt
động) và thông báo đề tài nghiên cứu cho HS, tiếp sau đó là định hướng, hướng dẫn HS cách thức thực
hiện.
+ Tổ chức cho HS tự lực nghiên cứu, tìm tòi nhằm giải quyết những vấn đề đó được xác định. Vai
trò của HS lúc này với tư cách là nhà nghiên cứu, là người trực tiếp tác động đến đối tượng nghiên cứu, tự
phân tích tìm ra kết quả nghiên cứu. Còn GV đóng vai trò chỉ đạo, kích thích, định hướng quá trình nghiên
cứu của HS, hướng dẫn giúp đỡ các em hoàn thành công việc.
+ Đối chiếu với giả thuyết và rút ra kết luận, khái quát hoá vấn đề.

Trích đoạn Nội dung chương trỡnh bồi dưỡng học sinh giỏi dự thi học sinh giỏi Tỉnh khối 1 ạVề kỹ năng
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status