1
Alexandre Émile Jean Yersin
Alexandre Émile Jean Yersin (sinh 22 tháng 9, 1863 tại Lavaux, bang Vaud,
Thụy Sĩ; mất 1 tháng 3, 1943 tại Nha Trang, Việt Nam) là một bác sĩ và nhà
vi khuẩn học người Pháp gốc Thụy Sĩ.
Ông đã khám phá ra trực khuẩn gây ra bệnh dịch hạch, sau này được đặt tên
theo ông (Yersinia pestis).
Từ năm 1883 đến 1884, ông Yersin theo học y khoa tại Lausanne, Thụy Sĩ;
sau đó tại Marburg, Đức và Paris, Pháp (1884-1886). Năm 1886, ông gia
nhập viện nghiên cứu của Louis Pasteur tại Trường Sư phạm (École Normal
Supérieure) do lời mời của Émile Roux, và đã tham gia trong việc phát triển
huyết thanh ngừa bệnh dại. Năm 1888 ông nhận bằng tiến sĩ với luận văn về
Etude sur le Développement du Tubercule Expérimental và cộng tác với
Robert Koch trong hai tháng tại Đức. Ông gia nhập Viện Pasteur mới được
thành lập vào năm 1889 làm người cộng tác với Roux và hai người đã cùng
khám phá ra độc tố bạch hầu (do trực khuẩn Corynebacterium diphtheriae
tạo ra).
Để hành nghề y tại Pháp, ông Yersin đã xin và nhận được quốc tịch Pháp
vào năm 1888. Sau đó (1890), ông rời Pháp đến Đông Dương (lúc bấy giờ là
thuộc địa của Pháp) để làm bác sĩ trong công ty Messageries Maritimes (Vận
Tải Hàng Hải) trên tuyến đường Sài Gòn-Manilla và sau đó tuyến đường Sài
Gòn-Hải Phòng. Năm 1894 Yersin được chính phủ Pháp và Viện Pasteur
mời đến Hồng Kông để điều tra đợt bùng phát của bệnh dịch hạch. Tại đây
ông đã khám phá ra nguyên nhân của bệnh này. Ông cũng chứng minh lần
Ông để lại nhiều ký ức sâu đậm tại Việt Nam, nơi những người gần gũi ông
gọi ông là Ông Năm. Ông là người đề nghị xây dựng một thành phố tại Tây
Nguyên, nay là Đà Lạt. Sau hai lần đổi chế độ, các con đường được đặt tên
theo ông vẫn còn giữ tên. Cạnh mộ ông tại Suối Dầu (cách Nha Trang 20
km) có một miếu thờ được nhiều người viếng. Nhà ông tại Nha Trang nay là
một viện bảo tàng; ở Hà Nội và một số nơi khác có trường học mang tên
ông. 3
William Harvey (1578-1657)
Các nhà giải phẩu học người Ý ở thế kỷ XVI, Jerom Fabri (1537- 1619) đã
phát hiện ra van tĩnh mạch và giải thích sự hoạt động của các van này không
ngăn trở máu chảy về tim và chảy ngược trở lại. Tuy nhiên, kết luận đó trái
với ý kiến của của Galen về máu chuyển động theo hai chiều, vì vậy Fabri
chỉ dám giả thiết là các van làm máu chảy chậm lại, chứ hoàn toàn không
làm ngừng dòng máu chảy ngược. Kết luận đơn giản hơn, máu chảy trong
tĩnh mạch chỉ theo một hướng về tim.
Năm 1602 Harvey tốt nghiệp đại học, đoạt danh vị bác sĩ y khoa, không lâu
sau, Harvey trở về nước Anh, lại đoạt học vị bác sĩ giải phẩu học ở trường
đại học Cambridge, trở thành một thầy thuốc có danh tiếng.
Từ năm 29 tuổi, ông dạy học ở trường Y Hoàng Gia, kiêm bác sĩ phẩu thuật
ở bệnh viện Saint Bactholomew. Năm 35 tuổi, ông là giáo sư trường đại học
Y ở London. Năm 40 tuổi ông được mời làm ngự y của vua nước Anh là
James I, rồi Charler.
b)Công trình khoa học của Harvey:
Ở London, mỗi năm Harvey đều tham gia mấy lần giải phẩu xác phạm nhân
tử hình. Trong quá trình giải phẩu, ông chú ý thấy sự co bóp của động mạch,
hiện tượng phập phồng ở thái dương, cổ tay, đỉnh đầu những hiện tượng
đó làm cho ông nghĩ đến giả thuyết cho là trong cơ thể có sự hoạt động của
một thứ gì tựa như cái bơm trung tâm, từ đó mà khống chế sự lưu động của
máu trong toàn thân thể.
Harvey lúc đó còn là giảng viên giải phẩu. Khi giảng bài, ông thường giải
phẩu ộng vật rồi cùng sinh viên quan sát, nghiên cứu. Mỗi cuộc giải phẩu,
ông đều ghi chép tỉ mỉ các quan sát, rồi lại suy ngẫm tìm cách giải thích các
vấn đề thu lượm được. Khi giải phẩu động vật và xác người, ông đặc biệt
chú ý quan sát kỹ lưỡng về kết quả cấu quả tim, biết rằng tim là do các cơ
thịt tổ chức thành và công năng chủ yếu của nó là vận động co bóp. Ông
nhận ra giữa mỗi nữa quả tim đều có van tim ngăn cách, làm phân chia ra
tâm nhĩ và tâm thất, chỉ cho máu chảy từ tâm nhĩ sang tâm thất, mà không
thể chảy ngược lại.
Harvey tính toán rằng chỉ trong một giờ, tim bơm đầy được một khối lượng
Không còn nghi ngờ gì nữa, phát minh của Harvey là dẫn chứng có ích cho
chủ nghĩa duy vật máy móc. Thật ra có thể cho rằng tim là một loại máy
bơm, còn sự vận chuyển của máu tuân theo những định lý học về chuyển
động của chất lỏng. Nếu như vậy thì giới hạn của vấn đề là ở đâu? Phải
chăng người ta có thể giả thiết là tất cả những phần còn lại trong cơ thể sống
chỉ là một bộ tập hợp của các hệ thống cơ học phức tạp và có liên quan lẫn
nhau hay không?
Ðiểm yếu nhất trong lý thuyết tuần hoàn máu cuả Harvey là không thấy
được mối liên quan giữa động mạch và tĩnh mạch. Ông chỉ giả thiết có sự
nối tiếp tương tự, nhưng do kích thước của các mao quản nối với nhau rất
nhỏ nên không thể nhìn thấy được. Vào cuối đời của Harvey vấn đề này vẫn
6
chưa được giải qưyết, và có lẽ nó vẫn tiếp tục tồn tại nếu như loài người chỉ
dùng mắt thường để quan sát sự vật.
7
Andre Vesalius (1514 - 1564) Năm 1543 còn xuất hiện một cuốn sách nữa rất cách mạng đối với sinh học,
được coi như là cuốn sách của Côpecnic đối với vật lý học. Cuốn sách với
nhan đề Về cấu tạo nhân thể, tác giả của cuốn sách đó là Andre Vesalius
(1514 - 1564) nhà giải phẩu học lớn nhất của thời phục hưng ( ông tổ của
giải phẩu học hiện đại ).
thức trắng bao nhiêu đêm để bí mật giải phẩu. Cuối cùng nắm vững đích xác
rất nhiều tri thức giải phẩu cơ thể người không hề ghi trong sách vở. Ðến
mức ông có thể nhắm mắt cũng có thể rất nhanh nhận ra là loại xương nào
mà người ta đặt vào bàn tay ông. Cấu tạo của các bộ phận nội tạng, bắp thịt,
thần kinh, huyết quản, ông cũng rất quen thuộc.
Vesalius không nghĩ như các thầy giáo của ông là hoàn toàn tuân theo lý
luận của Galen Thời đó, ở các viện y học, người ta dạy là dạy giải phẩu học
về chó, về lợn, mà không phải là dạy giải phẩu học về người. Cần biết rằng
đối tượng nghiên cứu y học là người; chỉ có thú y mới nghiên cứu chó, lợn
Nhưng, có một số người vẫn ngang nhiên cho rằng cấu tạo của con người và
chó, lợn là không sai khác bao nhiêu, và ở viện y học rất hiếm khi được giải
phẩu thi thể; khi giải phẩu các giáo sư thường không cho học sinh nhìn rõ.
Hễ khi phát hiện chỗ nào không giống với lý luận mà Galen đã viết thì họ cố
ý lập lờ, không dám nói rõ, sợ nói ngược với quan điểm của Thánh thư!.
Ông không mê tín nhân vật uy quyền và sách vở, chỉ xem trọng thực tiễn.
Năm 1543, giáo sư Vesalius 28 tuổi, đã cho xuất bản cuốn sách Bàn về cấu
tạo cơ thể người. Trong sách ông chỉ ra những sai lầm trong sách của Galen.
Khi đó, trên giảng đường đại học, ông thường vừa giảng, vừa giải phẩu thi
thể người khi giảng về cấu tạo cơ thể người, làm sinh viên nhận ra đâu là
thật đâu là giả trong trước tác của Galen. Các buổi lên lớp của ông thường có
tới hơn 400 - 500 người tham dự, ngồi chật cả hội trường.
Ðương nhiên, Vesalius đã bị công kích kịch liệt của thế lực giáo hội, và giáo
hội không dung tha ông. Họ chưởi ông là kẻ bổ báng thần linh. Ngay thầy
giáo xưa của Vesalius cũng phản đối ông.
9
bỏ chức vị giáo sư đại học. Từ đấy, ông trở nên trầm tư, khổ não, không
quan tâm gì đến sự nghiệp nữa
Cho dù đã như thế, nhưng kẻ phản đối ông trong giới khoa học và giới tôn
giáo quyền uy căm thù sự phát triển khoa học, vẫn không chịu buông tha
ông. Chúng thu thập tài liệu, luận tội trạng, cuối cùng vào năm 1563 lôi ông
ra tòa án tôn giáo kết án ông phải chịu tử hình!
Về sau vị hoàng Ðế Bỉ nghĩ ngợi thế nào mà đã miễn tội chết cho ông, đổi
10
thành án phải đi lưu đày đến Palextin. Ông mất năm 1564 ở đảo Zante, lúc
mới 50 tuổi!
Suốt đời Vesalius đi tìm chân lý, hiến thân tất cả cho giải phẩu học, y học.
Ông đấu tranh bất khuất với mê tín, tôn giáo, thần học. Thành tựu khoa học
của ông đã làm ông trở thành người đặt nền móng cho giải phẩu học hiện
đại, dược nhiều người tôn vinh là ông tổ của giải phẩu học hiện đại.
Giáo hội có thể bức hại Vesalius nhưng ngăn trở không nổi trào lưu thời đại
về nhận thức cơ thể của con người. Chân lý khoa học vẫn phát triển về phía
trước cho dù gặp gian nan, gập ghềnh, khúc khuỷu. Sau khi ông chết nhà
khoa học người Anh William Harvey (1578 - 1675) đã tiếp tục thăm dò,
khám phá và cuối cùng triệt để lật đổ thuyết của Galen. Chân lý khoa học đã
giành được thắng lợi cuối cùng.
11
Luis Pasteur (1822-1895) [/h2]
Louis Pasteur sinh ngày 27/12/1882 ở Dole, một vùng của Jura, Pháp. Khám
một ngành khoa học mới - ngành hóa học lập thể.
Nghiên cứu sự lên men và sự tự sinh
Theo yêu cầu của một nhà sản xuất rượu tên là Bigo ở miền bắc nước Pháp,
Pasteur bắt đầu nghiên cứu xem tại sao rượu lại bị nhiễm những chất ngoài ý
12
muốn trong quá trình lên men. Ông đã sớm chứng minh được rằng mỗi giai
đoạn của quá trình lên men đều liên quan với sự tồn tại của một loại vi sinh
vật đặc thù hay con men - một sinh vật mà người ta có thể nghiên cứu bằng
cách nuôi cấy trong một môi trường vô trùng thích hợp. Nhận định sáng suốt
này là cơ sở của ngành vi sinh.
Pasteur đã giáng một đòn quyết định vào thuyết tự sinh, học thuyết đã từng
tồn tại trong 20 thế kỷ cho rằng cuộc sống có thể tự này sinh từ những chất
liệu hữu cơ. Ông cũng phát triển lý thuyết mầm bệnh. Cùng thời gian này,
ông khám phá ra sự tồn tại của sự sống trong điều kiện không có oxy: "Lên
men là hậu quả của sự sống không có không khí". Khám phá về sự sống yếm
khí đã mở ra con đường nghiên cứu những mầm bệnh gây nhiễm trùng huyết
và bệnh hoại thư, cùng với nhiều bệnh nhiễm trùng khác. Nhờ Pasteur,
người ta có thể phát minh ra những kỹ thuật tiêu diệt vi khuẩn và kiểm soát ô
nhiễm.
Kỹ thuật "tiệt trùng kiểu Pasteur"
Hoàng đế Napoleon III đã đề nghị Pasteur nghiên cứu những bệnh ảnh
hưởng đến rượu đang gây thiệt hại cho ngành sản xuất rượu. Nǎm 1864,
Pasteur tới khu vườn nho ở Arbois để nghiên cứu vấn đề này. Ông đã chứng
minh rằng bệnh của rượu là do vi sinh vật gây ra, những vi sinh vật này có
Thành lập Viện Pasteur
Ngày 1/3/1886, Pasteur trình bày kết quả phương pháp điều trị bệnh dại của
ông trước Viện Hàn lâm Khoa học Pháp và kêu gọi thành lập một trung tâm
vaccin dại. Đông đảo dân chúng và cộng đồng quốc tế đã vận động tài trợ
cho việc xây dựng Viện Pasteur, một viện nghiên cứu tư đầu tiên được Tổng
thống pháp Jules Gresvy công nhận nǎm 1887 và được người kế nhiệm ông
là Sadi Carnot khánh thành nǎm 1888. Theo mong ước của Pasteur, Viện
được xây dựng thành một cơ sở điều trị bệnh dại, một trung tâm nghiên cứu
các bệnh nhiễm trùng và một trung tâm giảng dạy.
Nhà khoa học 66 tuổi đã dành trọn 7 nǎm cuối cùng của cuộc đời cho Viện
nghiên cứu vẫn mang tên ông. Trong thời gian này, Pasteur cũng được
hưởng niềm vui của danh tiếng và được tôn vinh khắp thế giới bằng những
huân huy chương có uy tín.
Sự nghiệp của ông được tiếp tục và được mở rộng trên kháp thế giới nhờ lớp
lớp học trò.
Con người của tự do và nghiêm ngặt
Sự nghiệp của Pasteur không phải đơn giản là phép cộng những khám phá
của ông. Nó còn tiêu biểu cho cuộc cách mạng phương pháp luận khoa học.
Pasteur đặt lên trên hết hai nguyên tắc không thể bàn cãi của nghiên cứu
hiện đại: tự do sáng tạo nhất thiết phải đi với thử nghiệm nghiêm ngặt. Ông
dạy các học trò của mình: "Đừng có đưa ra điều gì mà anh không thể chứng
minh bằng thực nghiệm"
Louis Pasteur là người theo chủ nghĩa nhân vǎn, luôn luôn làm việc theo
hướng cải thiện địa vị của con người. Ông là một người tự do chưa bao giờ
- Nhà bác học phát minh ra Penicillin cứu sống hàng triệu sinh mạng
Alexander Fleming sinh ngày 6/8/1881 trong một trang trại gần thành phố
Darvel nước Anh. Cha ông mất khi ông mới lên 7 tuổi, người anh trưởng
cùng cha khác mẹ đã chăm sóc và cho A.Fleming đi học. Năm 13 tuổi
Alexander được một người anh khác là bác sỹ Tom đưa đến London học tập
và ông đã gắn bó suốt đời ở thành phố này. Đến London, Alexander học ở
trường Bách khoa là trường có học phí thấp. Năm 16 tuổi, Alexander đã đỗ
tất cả các kỳ thi và đi làm ở hãng tàu thuỷ America Line. Công việc ông làm
là thư ký, ông phải sao chép các tư liệu bằng tay, giữ các sổ sách kế toán,
các chi tiết hồ sơ hàng hoá và hành khách. Ông làm công việc nhàm chán
này suốt 4 năm, không hề biết rằng tương lai của ông sẽ trở thành một người
nổi tiếng trong một lĩnh vực hoàn toàn khác.
Năm 1901, một cơ hội bất ngờ đã đến với Alexander: một ông chú mới qua
đời đã để lại di sản cho tất cả các anh em nhà Fleming. Bác sỹ Tom Fleming
đã dùng số tiền của mình để mở một phòng khám và ông khá đông khách.
Tom đã khuyên Alexander dùng số tiền mình có để theo học ngành y.
Alexander rất thích ý tưởng này vì ông đã chán ngấy công việc nhàm chán ở
hãng tàu thuỷ. Tuy nhiên để học trường y rất khó bởi Alexander đã 20 tuổi,
nhiều hơn phần lớn các sinh viên năm thứ nhất, ông lại rời trường phổ thông
từ năm 13 tuổi. Alexander đã tìm một giáo viên dạy kèm vào các buổi chiều.
Tháng 7/1901 ông đã thi và đỗ tất cả 16 môn học, tháng 10 năm đó ông được
nhận vào Trường y Bệnh viện St Mary. Khi đó chắc ông không thể nghĩ
được rằng mình sẽ trở thành một trong các nhà khoa học danh tiếng nhất của
mọi thời đại.
Mục đích theo học ngành y của ông chỉ là để bỏ công việc thư ký nhàm
chán, không ngờ khi vào học ông đã rất thích thú với nghề này. Ông hăng
say học tập và nổi tiếng trong đám sinh viên về việc đoạt các phần thưởng.
Tháng 7/1904 ông đã đậu kỳ thi y thứ nhất và theo học chuyên ngành bác sỹ
nhân ở chiến trường, công việc nghiên cứu của ông bị chững lại một thời
gian. Thế chiến kết thúc, ông lại quay về khoa tiêm chủng bệnh viện St
Mary.
Ông lại miệt mài làm các thí nghiệm và đến năm 1921 ông đã khám phá ra
chất khử trùng tự nhiên. Sau nhiều thực nghiệm làm đi làm lại, A.Fleming
nhận thấy thân thể người có một chất tự bảo vệ, đó là tuyến bảo vệ nội bộ
đầu tiên của thân thể, có khả năng ngăn chặn các vi khuẩn thông thường, nếu
các vi khuẩn vượt qua tuyến này thì mới gây nguy hiểm cho con người. Ông
đã đặt tên cho chất này là Lysozyme. Khám phá này rất quan trọng để đưa
ông đến thành công tiếp theo.
Một buổi sáng tháng 9 năm 1928, như thường lệ Alexander Fleming đến
17
phòng thí nghiệm, ông chợt chăm chú tới một đĩa cấy vi khuẩn cầu chùm từ
nhiều tuần trước. Ông nhìn kỹ chiếc đĩa và thấy ở gần bên mép đĩa có một
mảng meo (nấm mốc) như nùi bông đã phát triển. Trong đĩa là các tập đoàn
vi khuẩn mà họ đã cấy vào từ trước, bên cạnh mảng meo đó, lạ thay không
có vi khuẩn nào cả. Alexander rất tò mò: cái gì đã giết chết các vi khuẩn cầu
chùm? Ông lập tức thử lại một lần nữa, ông đặt chất meo đó lên một đĩa mới
và cấy các khuẩn cầu chùm sát cạnh nó. Kết quả thật đáng kinh ngạc: chất
dịch meo của ông có thể ngăn chặn một số vi khuẩn nguy hiểm nhất không
cho chúng phát triển. Sau một số thí nghiệm ông nhận thấy chất dịch meo đó
không làm hại đến thân thể - các thực bào vẫn bận rộn làm việc. Ngay cả khi
chất dịch được tiêm vào một con chuột và một con thỏ vẫn không có những
hậu quả. Ngay cả khi được pha rất loãng nó vẫn diệt được các vi khuẩn. Chất
mới phát hiện ra này, ông đặt tên cho nó là Penicillin.
Tuy nhiên lúc ấy ông và các cộng sự không thể chiết xuất được Penicillin để
(Đức), là con thứ hai trong một gia đình nghệ sĩ có 5 người con. Khi còn
nhỏ, Christiane Nüsslein rất chú ý đến các sự vật xung quanh, có nhiều ý
tưởng, dự định trong nhiều lĩnh vực và thường tìm hiểu những chủ đề này
thông qua việc đọc sách. Christiane Nüsslein rất thích cây cối, yêu động vật
và mơ ước trở thành nhà sinh vật học từ khi 12 tuổi.
Hồi còn đi học, do không lấy gì làm chăm chỉ lắm nên Christiane Nüsslein
chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học với mức trung bình; thậm chí suýt nữa
còn không trả nổi bài thi tiếng Anh. Trong phiếu thành tích học tập của
Christiane Nüsslein có đoạn như sau: Mặc dù tài năng của học sinh được thể
hiện tương đối đều trong các lĩnh vực học, nhưng thành tích thì khác nhau
tuỳ vào sự quan tâm. Học sinh này tỏ ra rất lười nhác với những môn không
quan tâm, còn đối với những môn yêu thích, học sinh này đã thể hiện vượt
xa những yêu cầu của mục đích một trường học bình thường. Nhưng phiếu
thành tích học tập cũng công nhận: Christiane Nüsslein là học sinh có năng
khiếu vượt mức trung bình, có óc phán đoán, suy xét tốt, có năng lực trong
công việc nghiên cứu khoa học độc lập. Ở trường, Christiane Nüsslein rất
thích các môn văn học Đức, toán học và sinh vật học. Giờ sinh vật học đã
19
giúp Christiane Nüsslein hiểu biết về rất nhiều chủ đề đương đại như: Sự di
truyền, tiến hoá và hành vi của động vật. Vào lễ tốt nghiệp trường phổ
thông, Christiane Nüsslein đã được đọc bài viết của mình về Ngôn ngữ động
vật (Sprache bei Tieren).
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp trung học, Christiane Nüsslein quyết định sẽ
trở thành một nhà nghiên cứu về sinh vật. Nhưng sau đó đã nhanh chóng
thay đổi ý định này và quyết định học về y khoa, vì cho rằng bộ môn này rất
cần thiết cho loài người. Để khẳng định xem mình có thể gắn bó với ngành y
hay không, Christiane Nüsslein đã theo khoá học làm y tá một tháng trong
20
cùng với một sinh viên khác, Bertold Heyden, tách những vị trí liên kết
ARN và fd Phage ra để có thể hiểu được thêm về cấu trúc của chất hoạt hoá.
Mặc dù là một nhà sinh vật học phân tử có kinh nghiệm, Christiane Nüsslein
cũng bắt đầu cảm thấy buồn tẻ với đề án này, nhưng đó cũng là thời điểm
kết thúc của luận văn tiến sĩ sinh vật học. Năm 1972, sau khi đọc những bài
báo của các nhà khoa học Garen và Gehring về các cuộc thí nghiệm giải cứu
sự đột biến gen của người mẹ, Christiane Nüsslein đã quyết định nghiên cứu
về những đột biến làm ảnh hưởng đến lượng thông tin của tế bào trứng.
Năm 1984, Christiane Nüsslein quan tâm đến việc phân tích về di truyền
trong sự phát triển cột sống để tìm hiểu thêm các vấn đề về cột sống, trong
đó có cột sống của con người. Christiane Nüsslein cùng với nhóm nghiên
cứu của mình đã làm thí nghiệm với cá và đã đưa ra những biện pháp gây
giống và nuôi cá an toàn, hiệu quả cao. Năm 1995, tập bản thảo những phát
minh của Christiane Nüsslein và đồng nghiệp về 1.200 sự đột biến của cá đã
được xuất bản như những tài liệu khoa học giá trị. Trong phòng thí nghiệm,
Christiane Nüsslein vẫn tiếp tục nghiên cứu về các cơ cấu phân tử của phôi
thai ruồi giấm, cũng như tiếp tục khám phá loài cá như hình mẫu cho việc
nghiên cứu những đặc điểm cụ thể của xương sống. Christiane Nüsslein hy
vọng sự kết hợp của nhiều nghiên cứu và hệ thống trong một phòng thí
nghiệm có thể cung cấp cơ sở cho việc hiểu biết rộng hơn về sự phát triển
phức tạp của đời sống động vật và con người.
Là một nhà khoa học say mê nghiên cứu, khám phá, làm việc tận tuỵ, không
biết mệt mỏi, Bà luôn là tấm gương cho đồng nghiệp noi theo. Và khả năng
nghiệp vụ khoa học của Bà đã phần nào được thể hiện thông qua những chức
vụ được bổ nhiệm: Năm 1969-1974, Bà làm giám sát viên luận án; năm
1978-1980, là trưởng nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm sinh vật phân
cứu ruồi giấm cũng có thể áp dụng được với những động vật có xương sống,
trong đó có cả con người. Những phát minh, cống hiến to lớn của Bà đã thật
sự đã mang lại lợi ích thiết thực, phục vụ cho khoa học nói chung và con
người nói riêng. Bà thật xứng đáng là một người phụ nữ đáng kính phục,
một nhà khoa học lớn của thế kỷ XX.
22
Hippocrate (460 - 375 TCN) người sáng lập ra ngành Y khoa[/h3]
1/ Tiểu sử:[/b]
Hippocrate Châm ngôn Hippocrate Bài học Thầy thuốc Hy Lạp, người sáng lập ra ngành Y. Ông sinh ra ở đảo Cos,
một hòn đảo nằm biển Egée, gần Rhodes. Ông đã học nghề y từ người cha,
vốn là một thầy thuốc, đến Athènes để nghiên cứu, nhận Gorgias làm thầy
cho phương pháp ngụy biện. Ông giỏi cả hai môn Triết lý và Y khoa. Nhưng
ông tiếp tuc ngành y và giữ ngành triết lý để suy luận cho chính xác. Ông du
lịch rất nhiều, qua luôn biên giới Hy Lạp. Ông trở lại đảo Cos để hành nghề,
giảng dạy và viết sách. Trường phái Hyppocrate, hay trường phái Cos hình
thành xung quanh ông đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tách y
học ra khỏi những suy luận mê tín và Triết học đưa y học thành phạm trù
khoa học chính xác dựa trên quan sát khách quan và lập luận suy diễn chặt
chẽ
Ông đã cứu những thành phố Athènes, Abdère và Illyrie qua sự tàn phá ghê
gớm của bệnh dịch hạch bằng cách đốt lửa thật lớn cho tỏa ra những chất có
23
phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công.
Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và cũng
không tự mình gợi ý cho họ; cũng như vậy, tôi cũng sẽ không trao cho bất
cứ người phụ nữ nào những thuốc gây sẩy thai.
Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết.
Tôi sẽ không thực hiện những phẫu thuật mở bàng quang mà dành công việc
đó cho nhưng người chuyên.
24Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi
hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất là tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự
do hay nô lệ.
Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài lúc hành
nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần để lộ ra
và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ.
Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được hưởng một
cuộc sống sung sướng và sẽ được hành nghề trong sự quý trọng mãi mãi của
mọi người. Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải
chịu một số phận khổ sở ngược lại
25
Claude Bernard (1813-1878) Nhà Sinh lý học nổi tiếng. [/h3]
Khám phá chức vụ tạo đường glycogen của gan . Nghiên cứu các diếu tố