MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khóm- ấp là một khu vực dân cư được hình thành theo địa lý tự nhiên nằm
trong địa bàn xã; là một bộ phận của xã. Ấp không phải là một đơn vị hành chính,
song ấp có vị trí rất quan trọng. Trên thực tế nó vừa chịu trách nhiệm thi hành các
nhiệm vụ về hành chính, kinh tế, xã hội trên địa bàn ấp; vừa là cơ sở để thực hiện,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động; đồng thời cũng là nơi luôn diễn
biến rất đa dạng về kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng, tình hình nông
thôn nói chung, tỉnh An giang ta nói riêng có sự chuyển biến phát triển một
cách rõ rệt. Từ một nền sản xuất tự cung tự cấp đã chuyển hẳn sang nền sản
xuất hàng hoá đa dạng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nông thôn
từng bước được nâng cao, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được phát
huy tốt hơn.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường và đặc điểm nông thôn An
Giang có sắc thái dân tộc, tôn giáo, những tập tục lạc hậu, những mặt trái tiêu cực
của kinh tế thị trường, khoảng cách trình độ nhận thức và mặt bằng dân trí còn là
vấn đề nhức nhói đối với nông thôn của tỉnh An Giang. Tuy đời sống kinh tế có
phát triển cải thiện nhưng tỷ lệ người nghèo và chưa có việc làm còn khá đông.
Quyền làm chủ của nhân dân nông thôn chưa được phát huy một cách đầy đủ.
Trong những năm qua, sự ra đời về tổ chức Ban Nhân dân tự quản khóm,
ấp theo quyết định 142/QĐ- UB, ngày 14/06/1989 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh
An Giang là cần thiết và hoạt động của nó thực sự có hiệu quả trên các mặt
kinh tế, văn hoá, xã hội và thực thi pháp luật trên địa bàn dân cư. Nhưng,
trong nhiều vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối
quan hệ lề lối làm việc trên thực tế còn gặp không ít lúng túng và chưa được
quy định một cách rõ ràng. Do vậy, để khóm- ấp phát triển một cách vững
mạnh toàn diện. Tác giả chọn đề tài: “Vai trò của cán bộ khóm – ấp trong
việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại Tỉnh An Giang” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tính cấp thiết của đề tài
TS. Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Đề tài "Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp"
của TS. Vũ Hoàng Công - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
2002.
2
- Đề tài "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn" cũng PGS.TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Đề tài "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" Do Nguyễn Văn Sáu,
Hồ Văn Thông chủ biên, Nxb Chính trị quốc Gia, Hà Noäi, 2001.
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu về việc thực
hiện QCDC gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cấp xã
nói riêng. Ởû đây, các tác giả cũng chỉ ra phương hướng và giải pháp nhằm
đảm bảo thực hiện QCDC ở xã, phường. Các công trình đó đã được đăng
thành sách.
Các đề tài, luận án đã được công bố như:
- Đề tài "Vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh
trong quá trình thực hiện dân chủ XHCN ở Việt Nam" của Phạm Văn Bính,
Hà Nội, 2003.
Tác giả đã làm rõ về mặt lý luận khái niệm: nguồn gốc, nội dung
chủ yếu trong tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh; Phân
tích quá trình thực hiện dân chủ XHCN ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí
Minh mà trọng tâm là thời kỳ đổi mới và đánh giá thực trạng dân chủ
XHCN ở ta hiện nay từ đó tác giả đưa ra những kiến nghị (và giải pháp)
về phương hướng tiếp tục vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của
Hồ Chí Minh để xây dựng và hoàn thiện dân chủ XHCN ở nước ta trong
thời gian tới.
- Đề tài: "Thực hiện QCDCCS trong các trường THPT trên dịa bàn Hà
Nội hiện nay" của Nguyễn Thị Xuân Mai, Hà Nội, 2004.
Tác giả đã phân tích thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm
thực hiện QCDCCS trong các trường THPT ở Hà Nội hiện nay, dự báo những
- Chỉ ra mức độ thực hiện các vai trò khác nhau của đội ngũ cán bộ khóm- ấp.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò.
- Chỉ ra xu hướng biến đổi vai trò của cán bộ khóm- ấp trong việc thực
hiện QCDCCS.
- Đưa ra các giải pháp- kiến nghị.
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của cán bộ khóm- ấp trong việc thực
hiện QCDC tại Tỉnh An Giang hiện nay.
4
B. Khách thể nghiên cứu: Cán bộ lãnh đạo của khóm- ấp .
* Phạm vi nghiên cứu:
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thơng qua khảo sát thực địa từ tháng
05,06 năm 2006.
Dữ liệu báo cáo, phân tích, thống kê được lấy trong giai đoạn năm 2003-
2006 (Sau khi có Nghị Định 79 năm 2003 của Chính phủ về QCDC ở xã).
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
* Giả thiết nghiên cứu:
- Địa phương nào mà có cán bộ tham gia tập huấn, bồi dưỡng QCDCCS thì địa
phương đó vai trò thơng tin tun truyền được thực hiện tốt hơn.
- Bản thân người cán bộ và gia đình của họ gương mẫu chấp hành
QCDCCS sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc thực hiện QCDC trong cộng đồng.
- Trong bối cảnh hiện nay vai trò giám sát của cán bộ khóm- ấp đối với
hoạt động thực tiễn của chính quyền cấp trên được thực hiện ở mức độ thấp hơn
so với các vai trò khác như: tun truyền thơng tin, tổ chức hoạt động.
- Địa phương nào mà các nội dung QCDC được đưa vào hương ước tại
địa phương đó thì việc thực hiện QCDC sẽ tốt hơn.
* Khung lý thuyết:
5
Môi
trường
- Kiểm tra,giám sát đối
với hoạt động của chính
quyền.
- Đấu tranh bảo vệ dân
chủ cho nhân dân
- Đề xuất, kiến nghò.
7. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
+ Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở những lý luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin trong việc giải thích các sự kiện, hiện tượng xã hội.
+ Dựa trên các văn kiện, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về dân chủ.
+ Dựa trên các lý thuyết xã hội học: Thuyết chức năng,thuyết hệ thống
+ Phương pháp mácxít quan điểm toàn diện – lịch sử - cụ thể và phát triển.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
+ Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn: Các báo cáo tổng kết, các
nghiên cứu đã có, các thống kê, các tài liệu khác có liên quan đến đề tài
nghiên cứu (năm 2003-2006).
+ Điều tra xã hội học: Điều tra chọn mẫu bằng bảng hỏi, kết hợp với việc
phỏng vấn sâu.
Điều tra tại 01 Thành phố Long Xuyên: 11 phường,02 xã , gồm 152
khóm- ấp (lấy 01 phường hay 01 xã làm mẫu) và 01 Huyện Tịnh Biên: 03 thị
trấn, 11 xã, gồm 72 khóm- ấp (lấy 01 xã làm mẫu).
Làm 200 phiếu bảng hỏi (trong đó là 1/3 phiếu là cán bộ và 2/3 là người dân)
và 10 phỏng vấn sâu (cán bộ quản lý chủ chốt tại thành phố và huyện).
8. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Áp dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học để phân tích về vai trò
của đội ngũ cán bộ khóm- ấp trong việc thực hiện QCDCCS.
9. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
trong xã hội. Thí dụ, giáo sư là một vị thế xã hội, gắn với vị thế này là vai trò
nghề nghiệp được quy định bởi các chuẩn mực xã hội, mà người có vị thế đó
phải thực hiện.
Vị thế thường ổn định, nó là sự định vị, là chỗ đứng của một cá nhân
nào đó trong xã hội, song vai trò thì cơ động hơn. Thí dụ: cũng là một chức
danh giám đốc, song ở xí nghiệp này thì cá nhân đó thực hiện những vai trò
này, còn ở xí nghiệp khác thì lại thực hiện những vai trò khác. Trong thực tế,
mỗi vị thế thường là có một vài vai trò. Thí dụ, giáo sư đại học chỉ là một vị
thế nghề nghiệp song lại đóng nhiều vai trò khác nhau như hướng dẫn khoa
học đồng nghiệp, giảng dạy, nghiên cứu, phản biện
Dưới con mắt xã hội học, bất cứ tổ chức hay định chế xã hội nào cũng
đều bao gồm những vai trò nào đó. Thí dụ, một trường học bao gồm hiệu
trưởng, phó hiệu trưởng, giáo vụ, giáo viên, học sinh, ban đại diện sinh viên,
cán sự lớp, nhân viên…Như vậy, mỗi vai trò tương ứng với một “vị trí xã
hội” hay “vị thế”.
8
Khi nói tới một vị trí nào đó, chúng ta luôn nhìn vị trí này xét trong
tương quan với vị trí khác. Khi đứng ở một vị trí xã hội nào đó, những ứng xử
của chúng ta chủ yếu quy định bởi những đòi hỏi mà các vị trí xã hội khác đã
gán cho vị trí ấy. Ở mỗi vị trí (công nhân, bác sĩ, giáo viên, học sinh) chúng
ta đều phải thực hiện vai trò của mình theo những quy tắc và chuẩn mực mà
xã hội quy định. Vị trí và vai trò là những khái niệm khách quan, không phụ
thuộc vào tính khí hoặc đặc trưng chủ quan của người nắm giữ vị trí và vai trò
ấy.
Khái niệm “vị trí” hay “vị thế” được R.Linton (1936) định nghĩa như
“một vị trí trong một hệ thống xã hội”. “Trẻ em” là một vị trí vì ai trong
chúng ta cũng đều coi trẻ em không phải là người lớn, chúng còn phải học
hành, phải được dạy dỗ và phải vâng lời cha mẹ. Tuổi tác, giới tính, lai lịch
xuất thân thường là những đặc trưng cơ bản tạo nên những vị trí.
Nhưng dù vậy, cái gọi là “vị trí” này lại không phải là do đặc trưng riêng của
- Trong “Từ điển Tiếng việt”, nhà xuất bản Đà nẵng của Viện ngôn ngữ
học, xuất bản năm 1993, cán bộ có hai nghĩa:
+”Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước”.
+ “Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân
biệt với người thường, không có chức vụ” [59, tr.109].
- Trong “Đại từ điển Tiếng việt”, do Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản
năm 1999, cán bộ là:
+ “Người làm việc trong cơ quan Nhà nước”.
+ “Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức
vụ trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước” [59, tr. 249]
Trong Pháp lệnh cán bộ công chức (đã được sửa đổi và bổ sung năm
2000 và 2003- Nxb Chính trị quốc gia- Hà Nội- năm 2005) quy định: "Cán
bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách Nhà nước", bao gồm:
+ Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội;
+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội;
+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ
thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được
xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan Nhà nước; Mỗi
ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu
chuẩn riêng;
+ Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viện Viện kiểm sát nhân dân;
10
+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm
việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
nghị Trung ương 3- khóa VII khẳng định: “cán bộ và công tác cán bộ có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng, có vai trò to lớn thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình
cách mạng”.
Do đó, Đảng ta luôn kiên trì khẳng định và thực hiện nguyên tắc: Đảng
thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Việc chăm lo
xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị, đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ được Đảng đặc biệt quan tâm.
Đảng đã đề ra nhiều chương trình cụ thể, nhất là cuộc vận động xây dựng,
chỉnh đốn Đảng để nâng cao uy tín của toàn Đảng và từng cán bộ, Đảng viên
trong nhân dân.
Cán bộ khóm- ấp trong đề tài này bao gồm cả cán bộ thuộc hệ thống
Đảng và Đoàn thể, chính trị xã hội như tổ trưởng tổ Đảng, cán bộ Hội Phụ nữ,
Hội Nông dân. Do Khóm- ấp không phải lá cấp bậc hành chính Nhà nước nên
chức danh Trưởng khóm- ấp hoặc tổ Trưởng dân phố là do dân bầu ra.
1.1.3. Vị trí, vai trò của khóm- ấp
* Tổ chức, hoạt động của khóm- ấp trong mối quan hệ với cộng đồng dân cư:
Khóm- ấp là tầng sâu nhất mà sự vận hành thể chế, từ vĩ mô tác động
đến, là địa chỉ quan trọng cuối cùng và quyết định mà mọi chủ trương, đường
lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước phải tìm đến.
Khóm- ấp là nơi phổ biến, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, là nơi lắng nghe tâm tư
nguyện vọng của nhân dân để giải quyết các vướng mắc kịp thời, đồng thời đề
đạt ý kiến của nhân dân với cấp trên, là nơi thực hiện sự gắn bó cụ thể giữa
dân và Đảng.
Khóm- ấp về tổ chức và hoạt động của nó vừa thực hiện yêu cầu nhiệm
vụ cấp trên giao, vừa thể hiện tính tự quản của cộng đồng dân cư trên địa bàn
để đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của nhân dân thông qua các hoạt động của
mình mà thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa ý Đảng- lòng dân.
Khóm ấp còn là nơi tổ chức việc hoà giải các mâu thuẫn trong dân, thông
qua đó tạo mối quan hệ đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng dân cư. Thông qua
hành vi của cộng đồng theo chuẩn mực nhất định.
Thông qua vận động các phong trào trên mà xây dựng ý thức tự quản,
tinh thần cộng đồng đối với từng hộ, từng cá nhân [54, tr.13].
13
* Tổ chức khóm- ấp trong mối quan hệ xây dựng heä thống chính trị
phường, xã:
Đây là quan hệ trực tiếp tác động dưới lên, trên xuống. Với tư cách là bộ
phận hợp thành phường- xã, khóm- ấp mạnh tức phường- xã mạnh.
Do khóm- ấp không phải là một cấp quản lý hành chính - tự quản là nét
đặc thù của khóm- ấp, nhưng tổ chức của khóm- ấp cũng chứa đựng các yếu
tố Đảng,Chính quyền (quản lý địa bàn), Mặt trận và các Đoàn thể, nên khóm-
ấp ra sao thì phường- xã ảnh hưởng như thế.
Khi xem xét phường- xã hoạt động mạnh hay yếu đều phải thông qua
xem xét và kiểm chứng của nhân dân, chính sự kiểm chứng một cách khắt khe
nhất để thực hiện tập trung ở tổ chức và hoạt động của khóm- ấp. Nơi đây còn
là nơi tạo nguồn để phát triển tổ chức Đảng, lựa chọn và sàng lọc cán bộ [54,
tr.14].
Sơ đoà 1.1: Vai trò, vị trí của Khóm- ấp
1.1.4. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ khóm- ấp
1.1.4.1. Vai trò, chức năng của cán bộ khóm- ấp
14
Phường, xã
Khóm, ấp
Tổ dân phố
Tổ tự quản
Hộ
dân
Phường, xã
Khóm, ấp
Tổ trưởng
Nhà nước, đồng thời phát huy những tập quán truyền thống tốt đẹp vốn có từ
laâu của nhân dân ta trong ấp [28, tr.7 - 8].
1.1.4.2. Nhiệm vụ của cán bộ khóm - ấp
Cán bộ khóm - ấp đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ Đảng và chịu
sự điều hành của UBND xã, cán bộ khóm - ấp có nhiệm vụ hướng dẫn, tổ
chức, quản lý điều hành các phong trào kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
và nói chung cả đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trong khóm- ấp
không còn người đói nghèo, tiến lên khá, giàu, xây dựng cuộc sống ấm no văn
minh hạnh phúc. Cụ thể là:
* Về kinh tế:
- Tiến hành xây dựng chương trình và biện pháp cụ thể nhằm vận động
thực hiện phong trào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, lấy
hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, thực hiện liên doanh, liên kết theo yêu cầu tất
yếu kinh tế với hình thức và quy mô thích hợp trong từng giai đoạn phát triển
của sản xuất nhằm thúc đẩy nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và
dịch vụ theo kế hoạch phaùt triển kinh tế của UBND xã, phường.
- Nắm lao động và dân cư trong ấp. Quản lý tốt việc sử dụng đất đai, lao
động và hòa giải tốt các vấn đề tranh chấp đất đai, lao động phải theo đúng
luật. Có chương trình, giải pháp để phát động phong trào xây dựng cơ sở hạ
tầng như làm thủy lợi, đường sá, cầu cống
- Phát động phong trào quản lý thị trường, ngăn chặn làm hàng giả, mua
bán trái phép, tham ô, lãng phí, đầu cơ buôn lậu, trốn thuế, trốn nợ và trốn
15
tránh làm nghĩa vụ đối với Nhà nước. Nhắc nhở nhân dân làm tốt nghĩa vụ đối
với Nhà nước và xã hội.
* Về văn hóa xã hội:
- Phát động nhân dân đưa con em đến độ tuổi vào trường, vận động góp
phần xây dựng cơ sở vật chất trường học, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của thầy cô giáo.
- Phát động phong trào giữ gìn môi trường sống, chăm sóc sức khoẻ ban
xã hội
- Được quyền giải quyết, hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ
nhân dân trong ấp.
- Được huy động dân quân tự vệ, thanh niên xung kích đi tuần tra, canh
gác bảo vệ an ninh trật tự trong ấp. Được tổ chức các cán bộ khóm - ấp tự
quản trên địa bàn ấp để làm chân rết cho cán bộ khóm - ấp triển khai các hoạt
động và triển khai quy chế hoạt động cho các cán bộ khóm - ấp tự quản. Tất
cả tổ chức, kế hoạch, biện pháp phải được thông qua sự chuẩn y của UBND
xã, phường.
- Được quyền chứng chuyển, xác nhận các yêu cầu khiếu naïi tố cáo và
phép tắc của công nhân trong ấp lên UBND xã, phường và được quyền đề
nghị khen thưởng, kỷ luật đối với cá nhân và tổ chức trong địa bàn của ấp [28,
tr.10 -11].
1.1.5. Dân chủ
1.1.5.1. Dân chủ theo cách hiểu truyền thống là quyền lực thuộc về
nhân dân, quyền lực của nhân dân – Dân chủ xã hội chủ nghĩa
Nội dung và ý nghĩa của “dân chủ” cũng như “nhân dân”(dân, công
dân, cộng đồng, dân tộc, giai cấp ) được quan niệm theo tính động, biến đổi
trong những điều kiện lịch sử, cụ thể hết sức xác định chứ không tĩnh tại bất
biến, càng không thể trừu tượng, ở bên ngoài lịch sử.
Dân chủ ở nước ta là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa huy động toàn dân vào sự nghiệp quản lý nhà nước, quản lý xã hội;
xét về bản chất là dân chủ gấp triệu lần hơn dân chủ tư sản. Một trong những
đặc điểm nước ta là phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức quần chúng nhân dân vào việc thực hiện dân chủ, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân. Quyền dân chủ có dân chủ đại diện và dân chủ
trực tiếp, trong đó dân chủ trực tiếp ngày càng được mở rộng và có vị trí quan
trọng. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là hình thức dân chủ trực
tiếp mà QCDCCS là sự cụ thể hoá.
17
Dân chủ là một phạm trù “kép” mang một bản chất nhiều thứ bậc.
18
Thể chế dân chủ tức là chế độ dân chủ với tư cách là chế độ nhà nước,
chế độ chính trị, là một hình thức lịch sử tất yếu của việc tổ chức và thực thi
quyền lực trong khi các giai cấp còn tồn tại.
Chế độ dân chủ nào muốn thể hiện ra trong thực tiễn, trở thành hiện
thực đều phải biểu hiện mình thông qua chế độ nhà nước. Song không phải
chế độ nhà nước nào cũng đồng thời và đương nhiên, tự nhiên là chế độ dân
chủ.
Ngoài ra, còn có một quan hệ đặc biệt giữa dân chủ và pháp luật. Pháp
luật là một yếu tố cấu thành nội dung của dân chủ, nó thuộc về cấu trúc nội tại
của dân chủ, ở ngay trong dân chủ chứ không ở bên ngoài dân chủ.
Vai trò của pháp luật là ở chỗ, không có đảm bảo pháp luật thì không có
dân chủ. Pháp luật là giới hạn của dân chủ trong các thể chế nhà nước. Pháp
luật xác định hành lang vận động của dân chủ, của công dân, cũng như của xã
hội, của cả bản thân nhà nước.
Dân chủ và tập trung trong nguyên tắc tập trung dân chủ.
1.1.5.3. Dân chủ với quá trình xây dựng đất nước trong quan niệm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta
Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII - VI trước Công
nguyên và người đầu tiên đặt nền móng cho nguyên lý dân chủ là nhà triết học
cổ đại Xôlông. Lần đầu tiên, thuật ngữ dân chủ được thể hiện bằng tiếng Hy
Lạp cổ gồm hai từ gốc ghép lại: Demos (nhân dân) và Kratia (quyền lực). Như
vậy, thuật ngữ dân chủ chỉ xuất hiện khi trong xã hội đã tồn tại ba yếu tố: nhân
dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa chúng.
Trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, hình thức quyền lực công cộng đầu tiên
chính là nhà nước Aten (Nhà nước dân chủ đầu tiên trong lịch sử). Có thể
khẳng định rằng dân chủ là khái niệm dùng để chỉ tính chất của mối quan hệ
giữa cộng đồng dân cư với nhà nước. Theo đó, cộng đồng là chủ thể và có
quyền năng áp đặt ý chí lên nhà nước [18, tr.8].
đã chứng minh rằng đã có thời kỳ dài nhà nước tồn tại trong sự thiếu vắng
dân chủ. Điển hình như giai đoạn phong kiến Trung cổ ở Tây Âu hay giai
đoạn phong kiến tập quyền ở châu Á. Điều này cho thấy, xuyên suốt chiều
dài lịch sử của xã hội có giai cấp, nhà nước và nhân dân vẫn luôn tồn tại;
song dân chủ không phải lúc nào cũng hiện diện cùng với hai chủ thể trên.
Xem xét toàn bộ sự hình thành và phát triển của dân chủ nói chung và
chế độ dân chủ nói riêng cho thấy, để có dân chủ thì nhân dân phải là chủ thể
20
của quyền lực. Nếu sự tương tác diễn ra theo chiều ngược lại thì sẽ xuất hiện
mặt đối lập của dân chủ là chuyên chế. Các yếu tố cấu thành nội dung của
khái niệm dân chủ đã tồn tại suốt chiều dài lịch sử (trừ chế độ nguyên thủy),
nhưng bản chất của dân chủ không nằm trong các yếu tố đó mà nằm trong
một mối quan hệ xác định giữa chúng: quan hệ sở hữu và chi phối quyền lực
công cộng từ phía nhân dân. Người ta có thể đề cập đến nhà nước mà không
có dân chủ, nhưng không thể đề cập đến dân chủ mà lại thiếu vắng nhà nước.
Cho đến nay, dân chủ được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng
nội dung cơ bản của dân chủ nêu trên vẫn giữ nguyên và có phát triển theo
tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung. Tựu trung dân chủ được
hiểu theo một số nghĩa cơ bản nhất, phổ biến nhất: một là: dân chủ là quyền
lực thuộc về nhân dân, nhân dân có quyền quyết định những vấn đề liên quan
đến cuộc sống của mình; hai là: dân chủ là một hình thức tổ chức nhà nước,
một hình thái nhà nước, một chế độ chính trị - xã hội, mà ở đó thừa nhận về
mặt pháp lý những quyền cơ bản của con người (quyền tự do, quyền bình
đẳng); đồng thời, những quyền này được thể chế hóa thành pháp luật để quy
định rõ mối quan hệ giữa công dân với nhà nước, nhà nước với công dân và
công dân với công dân. Dân chủ với tính cách là một chế độ chính trị, một
hình thái nhà nước (nhà nước dân chủ) bao giờ cũng là sự thống nhất hai mặt:
dân chủ và chuyên chính.Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm
chủ của nhân dân là mặt bản chất chủ yếu, chuyên chính với các thế lực thù
địch là công cụ, phương tiện bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Người đã sớm nhận thức được sức mạnh của quần chúng nhân dân, coi
trọng dân, "lấy dân làm gốc" và đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên: "dân chúng
đồng lòng việc gì cũng làm được, dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng
không nên" [36, tr.239]. Bởi vì: "công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm
của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân" [34, tr.698].
Đồng thời Hồ Chí Minh nhận rõ vai trò, tầm quan trọng của việc thực hành
dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bởi vì có như vậy mới đem lại
hạnh phúc, ấm no, tự do, bình đẳng cho nhân dân: "Dân chủ, sáng kiến, hăng
hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cán bộ và quần
chúng đề ra ý kiến" [34, tr.244]. Đó cũng chính là mục tiêu phấn đấu của chủ
nghĩa xã hội. Người chỉ rõ, có thực hiện dân chủ mới làm cho cán bộ và quần
chúng có sáng kiến, có dân chủ dân mới tin, mới dám nói, mới có sự sáng tạo
và mới dám làm; phải thực hiện một nền dân chủ chân chính, không hình
22
thức, không cực đoan; không ai được lợi dụng và lạm dụng dân chủ để xâm
phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Điều quan trọng là muốn có dân chủ thực sự cho người dân, theo Người,
thì phải chống quan liêu, tham nhũng vì những cái đó đối lập với dân chủ, nó
cản trở việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Bởi vì, bản thân dân chủ
xã hội chủ nghĩa là sự kết hợp hữu cơ giữa quyền và nghĩa vụ, giữa sự sáng
tạo của cá nhân với tính tổ chức, trách nhiệm của mỗi người dân. Nó không
có chỗ cho sự tùy tiện lộng quyền, thói quan liêu và chủ nghĩa vô chính phủ.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa hai hình
thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện hai hình thức dân chủ
này đều nhất quán thể hiện rõ mục tiêu như Hồ Chí Minh khẳng định: "Bao
nhiêu lợi ích đều vì dân, mọi quyền hạn đều của dân, Mọi công việc của đất
nước là trách nhiệm của nhân dân" [34, tr.698]. Do vậy, việc gì cũng cần hỏi
ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, giải thích cho dân chúng hiểu rõ,
được dân chúng đồng ý, do đó dân chúng vui lòng ra sức làm "Phải động viên
quần chúng, phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hăng hái tham gia
năm qua đã được Đảng ta kế thừa và phát huy trong điều kiện mới.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, Đảng ta đã triển khai mạnh mẽ sự nghiệp dân chủ hóa từ các lĩnh vực
tư tưởng, chính trị, đặc biệt là dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, trao cho nhân
dân quyền chủ động sản xuất kinh doanh, chủ động cải thiện đời sống của
mình. Dân chủ hóa đời sống xã hội đã khơi nguồn sáng tạo cho nhân dân
trong lao động, sản xuất, tham gia xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì
dân. Nhiều sáng kiến đã ra đời từ nhân dân, góp phần quan trọng vào sự
nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Chính vì thế mà các nhiệm kỳ
Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX và Đại hội X đã giành sự chú ý, quan
tâm nhiều đến vấn đề dân chủ và đã đặt ra một cách dứt khoát mục tiêu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách nền hành chính quan
liêu bao cấp trước đây.
Nhằm phát huy đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân trong sự
nghiệp đổi mới nói chung, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh nói
riêng, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra chỉ thị
số 30 về việc xây dựng và thực hiện QCDCCS, đặc biệt là dân chủ cấp xã.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998; Nghị định số 71/1998; Nghị
định soá 07/1999; Nghị định số 79/2003 để triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị
về thực hiện QCDC ở các cấp, các ngành. Đây là một chủ trương đúng đắn,
kịp thời, phù hợp với xu thế phát triển đất nước, đáp ứng nguyện vọng của
24
nhân dân, thể hiện ý thức trách nhiệm cao cả của Đảng và Nhà nươùc trước
nhân dân và đối với sự tồn vong của chế độ.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) và Đại hội X (2006) một lần
nữa khẳng định lại mục tiêu xây dựng một chế độ dân chủ thông qua Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách các thể chế và phương thức hoạt
động của Nhà nước, mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân,
coi đoàn kết là động lực của sự phát triển xã hội. Đại hội đã kế thừa tư tưởng
Hồ Chí Minh và bổ sung "dân chủ" thành một trong năm mục tiêu quan trọng