hỏi - đáp môn kinh tế chính trị mác - lê nin - Pdf 23

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
*********************
NGUYỄN VĂN THẮNG
HỎI - ĐÁP MÔN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC
- LÊ NIN
(Dùng cho sinh viên đại học, cao đẳng khối ngành không chuyên Kinh tế - Quản trị
kinh doanh)
1
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn học quan trọng trong hệ thống các môn khoa
học lý luận Mác - Lênin. Việc nghiên cứu, học tập môn học Kinh tế chính trị Mác - Lênin
không những cần thiết cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng mà còn rất cần cho các
nhà quản lý kinh tế, các nhà sản xuất kinh doanh ở mọi thành phần kinh tế và mọi đối
tượng trong xã hội.
Đáp ứng yêu cầu thực tiễn của việc giảng dạy và học tập môn Kinh tế chính trị Mác -
Lênin cho sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xuất bản
cuốn Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Dùng cho các khối ngành không chuyên
Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng)". Giáo trình này tiếp
tục được tái bản nhiều lần trên cơ sở có sửa chữa, bổ sung nội dung quan điểm mới qua
các kỳ Đại hội của Đảng.
Để phù hợp với nhu cầu học tập của sinh viên, chúng tôi biên soạn cuốn "Hỏi - Đáp
môn Kinh tế chính trị Mác - Lê nin (Dùng cho sinh viên đại học, cao đẳng khối
ngành không chuyên Kinh tế - Quản trị kinh doanh), nhằm trang bị cho sinh viên
những nội dung cốt lõi nhất của môn học.
Hệ thống các câu Hỏi - Đáp được biên soạn theo trình tự các câu hỏi trong cuốn
"Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Dùng cho các khối ngành không chuyên Kinh
tế - Quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng)" của Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã ban hành. Nội dung các câu Hỏi - Đáp đảm bảo tính khoa học, hệ thống, súc tích

Đại biểu tiêu biểu của trường phái này là Uyliam Staphot (1554-1612), Tômat Mun
(1571-1641) ở Anh; A.Môngcrêchiên (1575-1629), Cônbe (1618-1683) ở Pháp. Chủ
nghĩa Trọng thương chỉ xem xét hiện tượng bên ngoài mà chưa nghiên cứu bản chất bên
trong, chỉ thấy được vai trò của lưu thông mà chưa thấy được vai trò của sản xuất nên khi
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN) có sự phát triển cao hơn đã làm cho những quan
điểm của chủ nghĩa Trọng thương trở nên lỗi thời và xuất hiện lý thuyết kinh tế mới tiến
bộ hơn thay thế.
* Chủ nghĩa Trọng nông (giữa thế kỷ XVIII)
- Vào giữa thế kỷ XVIII, sự phát triển kinh tế ở Tây Âu đã có những thay đổi căn bản.
Ở Anh cuộc cách mạng công nghiệp đã bắt đầu, ở Pháp công trường thủ công đã tạo ra
được những ưu thế của nó trong sự phát triển, do vậy việc dùng thương mại để bóc lột
thuộc địa, để trao đổi không ngang giá đã mất ý nghĩa nên quá trình nghiên cứu kinh tế đã
chuyển từ lĩnh vực lưu thông sang sản xuất.
- Ở Pháp, do sự bóc lột hà khắc của địa chủ phong kiến, nông dân phải nộp địa tô cao
và nhiều thứ thuế khác; thêm vào đó chính sách kinh tế của Cônbe đã đẩy nước Pháp đến
cuộc khủng hoảng, đời sống nông dân khổ cực, nông nghiệp suy đồi. Yêu cầu đặt ra cho
nước Pháp lúc bấy giờ là phải phục hồi và phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp. Trước
yêu cầu đó, chủ nghĩa Trọng nông đã ra đời nhằm giải phóng kinh tế nông nghiệp của
nước Pháp thoát khỏi quan hệ sản xuất phong kiến, phát triển nông nghiệp theo kiểu tư
bản chủ nghĩa.
- Quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Trọng nông thể hiện ở việc phê phán chủ
nghĩa Trọng thương về của cải. Họ cho rằng sự phồn thịnh của quốc gia biểu hiện ở số
lượng nông sản phẩm mà nhờ đó thỏa mãn nhu cầu của đời sống xã hội; nông nghiệp là
ngành kinh tế duy nhất tạo ra của cải và sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra trong nông
3
nghiệp. Họ ủng hộ việc sản xuất nông nghiệp theo kiểu tư bản chủ nghĩa, bác bỏ sự can
thiệp của nhà nước vào kinh tế, đòi tự do mậu dịch, tự do cá nhân, quyền bất khả xâm
phạm đối với chế độ tư hữu. Lần đầu tiên việc nghiên cứu tái sản xuất xã hội được thể
hiện trong "Biểu kinh tế" của Phơrăngxoa Kênê
là những tư tưởng thiên tài của thời kỳ đó.

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong điều kiện mới.
- C. Mác đã làm một cuộc cách mạng trong khoa học kinh tế chính trị trên tất cả các
phương diện về đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung, tính chất giai
cấp Trên cơ sở học thuyết giá trị, C.Mác đã xây dựng học thuyết giá trị thặng dư - hòn
đá tảng của kinh tế mác xít. C.Mác đã vạch rõ sự phát sinh, phát triển và sự diệt vong tất
yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đồng thời còn dự báo về sự ra đời của
phương thức sản xuất mới cao hơn, tiến bộ hơn thay thế CNTB, đó là phương thức sản
xuất cộng sản chủ nghĩa (CSCN).
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã bảo vệ và
phát triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới. V.I.Lênin đã sáng tạo ra lý luận khoa học
về chủ nghĩa tư bản giai đoạn độc quyền hay còn gọi là chủ nghĩa đế quốc; khởi thảo lý
luận mới về cách mạng xã hội chủ nghĩa; tính tất yếu khách quan, đặc điểm, nhiệm vụ cơ
bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, V.I.Lênin còn vạch ra những quá
4
trình có tính quy luật trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội qua nội dung của chính
sách kinh tế mới (NEP) có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển của
nhân loại.
Câu 2: Phân tích vai trò của sản xuất của cải vật chất và các yếu tố cơ bản của
quá trình sản xuất. Tại sao nói sức lao động là yếu tố quan trọng và quyết định
nhất ?
Trả lời:
* Vai trò của sản xuất của cải vật chất
- Khái niệm
Sản xuất của cải vật chất là quá trình con người tác động vào tự nhiên, biến đổi
vật thể tự nhiên cho phù hợp nhu cầu của mình.
- Khi nói đến vai trò của sản xuất của cải vật chất, C.Mác cho rằng: sản xuất của
cải vật chất là cơ sở, là điều kiện của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội
loài người.
+ Xã hội chúng ta đang tồn tại với sự đan xen của những hoạt động: hoạt động
chính trị, hoạt động kinh tế, hoạt động văn hóa-xã hội, hoạt động khoa học, hoạt động

Đây được xem là hoạt
Đây được xem là hoạt
động đặc trưng nhất và cũng là hoạt động sáng tạo của con người, nó khác với hoạt động
động đặc trưng nhất và cũng là hoạt động sáng tạo của con người, nó khác với hoạt động
theo bản năng của động vật. Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con
theo bản năng của động vật. Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con
người mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về thể lực và trí lực
người mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về thể lực và trí lực
Theo C.Mác:
Theo C.Mác:
“Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và
“Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và
làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời thay đổi bản tính của chính nó”
làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời thay đổi bản tính của chính nó”
[
[3,
tr
tr
270].
270].Nhờ có lao động, con người đã hiểu biết tự nhiên, phát hiện ra các quy luật vận
Nhờ có lao động, con người đã hiểu biết tự nhiên, phát hiện ra các quy luật vận
động của tự nhiên và xã hội làm cho sản xuất ngày càng có hiệu quả hơn.
động của tự nhiên và xã hội làm cho sản xuất ngày càng có hiệu quả hơn.
- Đối tượng lao động
+ Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác
động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình. (là cái cần được tác động hay bị
tác động)

Trình bày nội dung và ý nghĩa của phương pháp trừu tượng hóa khoa học trong
nghiên cứu kinh tế chính trị.
Trả lời:
6
* Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là quan hệ sản xuất hay là
quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và
tiêu dùng của cải vật chất.
- Bất cứ một nền sản xuất nào cũng đều diễn ra trong một phương thức sản xuất nhất
định và trong sự thống nhất giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, vì vậy đối
tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là quan hệ sản xuất trong sự tác động
qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
- Kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu quan hệ sản xuất trong sự vận động, phát
triển để rút ra các phạm trù, quy luật kinh tế ở các giai đoạn phát triển nhất định của xã
hội. Phạm trù kinh tế là những khái niệm phản ánh bản chất của những hiện tượng kinh tế
như: hàng hóa, tiền tệ, giá trị, giá cả Còn quy luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ
tất yếu, bản chất thường xuyên lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế. Việc
nghiên cứu các quy luật kinh tế nhằm vạch rõ quá trình vận động và phát triển của lực
lượng sản xuất xã hội; xác định bản chất, xu hướng vận động của từng phương thức sản
xuất, đồng thời chỉ ra điều kiện, khả năng vận dụng các quy luật kinh tế vào việc giải
quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội.
* Nội dung phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Khi nghiên cứu kinh tế chính trị cần sử dụng tổng hợp các phương pháp nhưng cơ bản
nhất, bao trùm nhất là phương pháp trừu tượng hóa khoa học. C.Mác viết: "Khi phân tích
những hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những chất phản ứng
hóa học được. Sức trừu tượng hóa phải thay thế cho cả hai cái đó" [3, t 16, tr 16].
Trừu tượng hóa khoa học là phương pháp loại bỏ khỏi quá trình và hiện tượng được
nghiên cứu những cái đơn nhất, ngẫu nhiên, tạm thời hoặc gác lại những nhân tố nào đó
để tìm ra cái bền vững, ổn định, điển hình. Nhờ đó mà nắm được bản chất mối liên hệ
phổ biến của các quá trình và hiện tượng kinh tế, tìm ra các phạm trù, quy luật kinh tế

khác.
- Chức năng tư tưởng
Trong xã hội có giai cấp thì kinh tế chính trị mang tư tưởng giai cấp thống trị, bảo
vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Kinh tế chính trị Mác - Lênin mang tư tưởng của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động, do đó nó bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, đấu tranh nhằm xóa bỏ áp bức bóc lột giai cấp và dân tộc, xây
dựng thành công xã hội mới ưu việt, tiến bộ - xã hội chủ nghĩa.
* Sự cần thiết phải học tập kinh tế chính trị Mác - Lênin
Nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin là một việc làm cần thiết không chỉ đối
với những người chuyên nghiên cứu kinh tế, những cán bộ quản lý kinh tế, những nhà
doanh nghiệp, những người đang học tập ở các trường học mà còn cần thiết đối với
mỗi người trong xã hội, bởi vì:
- Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn khoa học duy nhất có khả năng nhận thức
và giải thích bản chất, mối liên hệ phổ biến của các hiện tượng và quá trình kinh tế;
phát hiện ra các quy luật chi phối sự vận động của chúng giúp cho con người có thể
vận dụng chúng một cách tự giác, phục vụ tốt nhất cho các nhu cầu, lợi ích của mình.
- Trong công cuộc đổi mới hiện nay, việc học tập kinh tế chính trị Mác - Lênin
góp phần khắc phục sự lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều tách rời lý luận với
cuộc sống hình thành tư duy kinh tế mới để làm giàu cho bản thân và xã hội.
- Học tập, nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin giúp cho người học nâng cao
trình độ nhận thức, hiểu biết và vận dụng đúng đắn đường lối, chính sách kinh tế của
Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó củng cố niềm tin vào đường lối, chính sách kinh tế của
Đảng, Nhà nước, thúc đẩy sự tự giác hoàn thành nhiệm vụ kinh tế của mình.
CHƯƠNG II
TÁI SẢN XUẤT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Câu 5: Trình bày các khái niệm và phân tích các khâu, nội dung của tái sản
xuất xã hội.
Trả lời:
* Các khái niệm về tái sản xuất xã hội
8

NSLĐ), còn NSLĐ và hiệu quả sử dụng
vốn không thay đổi.
- Có nghĩa sản phẩm sẽ tăng lên do tăng
thêm vốn và lao động trong quá trình
sản xuất mà không có sự thay đổi kỹ
thuật, công nghệ và tổ chức quản lý.
- Khai thác được nhiều yếu tố đầu
vào của sản xuất (đất đai, tài nguyên,
nhiên liệu, sức lao động) dẫn đến nguồn
tài nguyên thiên nhiên nhanh chóng bị
cạn kiệt và gây ô nhiễm môi trường
Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu:
- Là sự mở rộng sản xuất làm cho sản
phẩm tăng lên chủ yếu nhờ tăng NSLĐ
và nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu
tố đầu vào cho sản xuất. Còn bản thân
các yếu tố đầu vào có thể: không thay
đổi; giảm; tăng nhưng chậm hơn mức
tăng NSLĐ và hiệu quả sử dụng các yếu
tố đầu vào
- Sản phẩm tăng lên do thay đổi, cải
tiến kỹ thuật và công nghệ, tổ chức quản
lý với số vốn và lao động như cũ. Tức là
tăng NSLĐ và hiệu quả sử dụng vốn
nhờ những thành tựu của cuộc cách
mạng KHCN và cải tiến quản lý.
- Nhờ sử dụng những thành tựu
KHCN nên hạn chế việc ô nhiễm môi
trường và giảm chi phí trong một đơn vị
sản phẩm làm ra.

cũng không có sản xuất vì trong trường hợp đó sản xuất không có mục đích” [3, t12, tr
865]. Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng đóng vai trò là “thượng đế”. Sự phát
triển và sự đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực quan trọng của sự phát
triển tái sản xuất.
+ Tính chất và nguyên tắc của quan hệ phân phối và bản thân của quy luật phân phối
đều do tính chất của nền sản xuất và quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất quyết định.
Song phân phối có thể tác động trở lại đối với sản xuất theo hai hướng: thúc đẩy sản xuất
phát triển nếu quan hệ phân phối tiến bộ, phù hợp; kìm hãm sản xuất và tiêu dùng khi nó
không phù hợp.
+ Còn trao đổi do sản xuất quyết định, cường độ và hình thức trao đổi do trình độ
phát triển và kết cấu của sản xuất quyết định. Song trao đổi cũng có tính độc lập, cũng tác
động trở lại đối với sản xuất và tiêu dùng khi nó phân phối lại, cung cấp sản phẩm cho
sản xuất và tiêu dùng, nó có thể thúc đẩy hoặc cản trở sản xuất và tiêu dùng.
* Nội dung của tái sản xuất xã hội
- Tái sản xuất của cải vật chất
+ Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt xã hội, con người sẽ tiêu dùng tư liệu sản
xuất và tư liệu tiêu dùng. Để đảm bảo sự tồn tại của con người và của hoạt động sản
10
xuất thì cần phải tái sản xuất ra chúng theo quy mô ngày càng tăng. Do đó, tái sản
xuất mở rộng của cải vật chất là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
+ Như vậy, tái sản xuất của cải vật chất chính là tái sản xuất ra tư liệu sản xuât và
tư liệu tiêu dùng. Mối quan hệ giữa các yếu tố này được thể hiện qua mô hình sau:
Quyết

định
Tái sản xuất của
cải vật chất Quyết
định
+ Chỉ tiêu đánh giá kết quả của tái sản xuất của cải vật chất của xã hội là tổng sản
phẩm xã hội biểu hiện ở tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay tổng sản phẩm quốc nội

TSX ra sức
lao động
TSX
TLSX

Quy mô sản
xuất
+ Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, các quan hệ sản xuất được củng cố và hoàn thiện
hơn, làm cho quan hệ sản xuất thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Qua đó, quá trình tái sản xuất quan hệ sản xuất làm cho xã hội ổn định
và phát triển.
- Tái sản xuất môi trường sinh thái
+ Quá trình sản xuất và tái sản xuất luôn gắn với một môi trường tự nhiên nhất
định. Quá trình sản xuất và tái sản xuất là quá trình con người dùng sức lao động của
mình thông qua công cụ lao động tác động vào tự nhiên, khai thác tự nhiên biến các
vật chất tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho mục đích của con người. Quá trình tác
động đó dẫn đến các tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm. Mặt khác,
do sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và nhiều nguyên nhân khác cũng làm cho
tài nguyên cạn kiệt, môi trường thiên nhiên bị ô nhiễm, vì vậy trong quá trình sản xuất
và tái sản xuất, việc tái sản xuất ra môi trường sinh thái là một tất yếu khách quan.
+ Tái sản xuất ra môi trường sinh thái đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền
vững. Khôi phục các nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh như độ màu mỡ của đất
đai, trồng và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái bao gồm cả môi trường nước,
không khí, đất
+ Việc tái sản xuất môi trường sinh thái phải được quy định rõ trong các chính
sách kinh tế, hệ thống pháp luật của từng quốc gia cũng như quốc tế
Câu 6: Phân biệt xã hội hóa sản xuất với tính xã hội của sản xuất. Vì sao xã
hội hóa sản xuất là quá trình kinh tế khách quan. Xã hội hóa sản xuất thực tế và
xã hội hóa sản xuất hình thức khác nhau thế nào ?
Trả lời:

làm ra là kết quả lao động của nhiều công đoạn, nhiều người .
Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, của sản xuất hàng hóa thúc
đẩy sự phân công và hợp tác lao động phát triển, phá vỡ tính chất khép kín, biệt lập
của các chủ thể kinh tế, các vùng, các địa phương và của các quốc gia mà không ai có
thể đứng ngoài xu thế ấy. Xã hội hóa sản xuất thu hút chúng vào quá trình kinh tế
thống nhất, làm cho sự phụ thuộc lẫn nhau của quá trình sản xuất ngày càng phát triển
chặt chẽ - tức xã hội hóa sản xuất phát triển cả chiều rộng và chiều sâu.
* Sự khác nhau giữa xã hội hóa sản xuất thực tế và xã hội hóa sản xuất hình
thức
- Xã hội hóa sản xuất thể hiện trên ba mặt:
+ Xã hội hóa sản xuất về kinh tế - kỹ thuật (xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật,
phát triển lực lượng sản xuất).
+ Xã hội hóa sản xuất về kinh tế - tổ chức (tổ chức, quản lý nền sản xuất xã hội
cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở từng thời kỳ).
+ Xã hội hóa sản xuất về kinh tế - xã hội (xác lập quan hệ sản xuất trong đó quan
trọng nhất là quan hệ sở hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu).
- Xã hội hóa được tiến hành đồng bộ cả ba mặt trên, có sự phù hợp giữa ba mặt đó
tạo nên những tổ chức, quan hệ kinh tế mới đáp ứng yêu cầu của sản xuất và phản ánh
những quá trình kinh tế khách quan là xã hội hóa thực tế. Nếu chỉ dừng lại ở xã hội
hóa sản xuất về tư liệu sản xuất, không quan tâm đến xã hội hóa các mặt khác của
quan hệ sản xuất, tạo nên những tổ chức và quan hệ kinh tế mới khi những quan hệ
hiện thực còn chưa tồn tại hoặc mới manh nha gây tổn hại cho quá trình phát triển
kinh tế là xã hội hóa hình thức.
Câu 7 : Thế nào là tăng trưởng kinh tế ? Phân tích vai trò và các yếu tố ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Trả lời:
* Khái niệm tăng trưởng kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một
thời kỳ nhất định. Dưới dạng khái quát, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản
phẩm quốc đân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định

- Vốn: là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra được tích lũy lại và những yếu
tố tự nhiên được sử dụng vào quá trình sản xuất. Vốn có thể tồn tại dưới dạng hiện vật
hoặc giá trị, nó là yếu tố đầu vào của sản xuất có vai trò quan trọng để tăng trưởng kinh
tế. Vai trò của nhân tố vốn đối với tăng trưởng kinh tế không chỉ thể hiện ở mức vốn đầu
tư mà còn thể hiện ở hiệu suất sử dụng vốn.
- Con người: là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững. Tuy nhiên, đó phải
là con người có sức khỏe, trí tuệ, kỹ năng lao động cao, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, nhiệt
tình lao động và được tổ chức hợp lý. Con người là nhân tố cơ bản của tăng trưởng bền
vững, bởi vì, tài nguyên thì chỉ hữu hạn và ngày càng cạn kiệt còn tài năng, trí tuệ của
con người là vô tận, vô hạn. Con người là chủ thể của sự sáng tạo, các kỹ thuật, công
nghệ cao, vốn để sản xuất đều là sản phẩm trí sáng tạo của con người. Vì vậy, con
người là yếu tố quyết định trong nền kinh tế tri thức.
- Khoa học và công nghệ: là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng kinh tế, nó cho
phép tăng trưởng kinh tế và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu. Khoa học và công nghệ
là nhân tố quyết định chất lượng của sự tăng trưởng, tạo ra năng suất lao động cao, lao
động thặng dư lớn cho phép tích lũy đầu tư lớn tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững. Ngày nay, khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
động lực của sự tăng trưởng kinh tế.
- Cơ cấu kinh tế: là tổng thể các bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu
kinh tế bao gồm: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế.
14
Cơ cấu kinh tế có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Cơ cấu kinh tế hợp lý thể
hiện ở việc xác định đúng tỷ trọng, vai trò, thế mạnh của các ngành, vùng, thành phần
kinh tế từ đó phân bố các nguồn lực phù hợp, phát huy được lợi thế và sức mạnh tổng hợp
để tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.
- Thể chế chính trị và quản lý nhà nước: là nhân tố quan trọng và có quan hệ chặt chẽ
với các nhân tố khác. Thể chế chính trị ổn định và tiến bộ cùng với sự quản lý có hiệu quả
của nhà nước tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, khắc phục được
các khuyết tật của nền kinh tế. Đồng thời, thể chế chính trị và quản lý Nhà nước có khả
năng khai thác, sử dụng và phát triển có hiệu quả các nguồn lực như vốn, con người, khoa

kích thích tính tích cực, sáng tạo của người lao động làm cho các nguồn lực của nền kinh
tế được khai thác, sử dụng một cách tốt nhất thì quan hệ sản xuất ấy thúc đẩy kinh tế phát
triển.
- Các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng:
15
+ Các yếu tố kiến trúc thượng tầng tác động gián tiếp hoặc trực tiếp đến phát triển
kinh tế, trong đó yếu tố chính trị có ảnh hưởng sâu sắc và ngày càng tăng lên cùng với sự
phát triển kinh tế.
+ Các yếu tố kiến trúc thượng tầng tác động đến phát triển kinh tế theo hai hướng:
vừa thúc đẩy phát triển kinh tế nếu có chính sách, đường lối đúng, pháp luật nghiêm
minh; vừa kìm hãm sự phát triển kinh tế nếu chính sách, đường lối sai, pháp luật không
nghiêm, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước không trong sạch.
Câu 9: Thế nào là tiến bộ xã hội ? Tiến bộ xã hội được biểu hiện thế nào ? Phân
tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.
Trả lời:
* Khái niệm tiến bộ xã hội
Tiến bộ xã hội là sự phát triển con người một cách toàn diện, phát triển các quan hệ
xã hội công bằng dân chủ.
* Tiêu chí đánh giá tiến bộ xã hội
- Sự tiến bộ xã hội thể hiện ở sự công bằng xã hội, mức sống của con người tăng lên,
sự phân hóa giàu nghèo và sự chênh lệch về trình độ phát triển, về mức sống giữa các khu
vực, các vùng miền ngày càng giảm hoặc loại trừ, các loại phúc lợi xã hội, trình độ văn
hóa, văn minh ngày càng cao.
- Ngày nay, Liên hiệp quốc đưa ra tiêu chí về tiến bộ xã hội thông qua chỉ số HDI
(Human Development Issue). Chỉ số HDI xem xét ở ba tiêu chí cơ bản: tuổi thọ bình
quân; thành tựu giáo dục (trình độ học vấn và số năm đi học); mức thu nhập bình quân
đầu người / năm.
* Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội
Phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động, thúc đẩy
nhau.

BẢN CHỦ NGHĨA
CHƯƠNG III
SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ CÁC QUY LUẬT KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT HÀNG
HÓA
Câu 10: Phân tích điều kiện ra đời, tồn tại, đặc trưng và ưu thế của sản xuất
hàng hóa.
Trả lời:
* Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để
trao đổi hoặc mua bán trên thị trường.
Hình thức này xuất hiện đầu tiên trong lịch sử là sản xuất hàng hóa giản đơn. Đó là
kiểu tổ chức sản xuất của những người nông dân, thợ thủ công và tiểu thương cá thể dựa
trên chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân và gia đình họ.
Hình thức phát triển cao của sản xuất hàng hóa là kinh tế hàng hóa phát triển hay còn gọi
là kinh tế thị trường. Đó là kiểu tổ chức kinh tế mà toàn bộ việc sản xuất, tái sản xuất và
tiêu dùng được diễn ra trên thị trường.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự ra đời của sản xuất hàng hóa do hai
điều kiện sau quyết định:
Thứ nhất: Có sự phân công lao động xã hội
- Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã
hội ra các ngành, nghề khác nhau của nền sản xuất xã hội.
17
Do phân công lao động xã hội nên mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một số sản
phẩm nhất định. Ví dụ: trong điều kiện sản xuất tự cung, tự cấp, một gia đình vừa trồng
lúa; vừa tạo ra cuốc, xẻng, cày, bừa lại vừa tạo ra vải để mặc Nhưng khi có sự phân
công lao động xã hội thì người nông dân chuyên trồng lúa, người thợ rèn chuyên rèn
cuốc, xẻng, người thợ dệt chuyên dệt vải.
- Phân công lao động xã hội làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu.
Bởi vì, khi có phân công lao động xã hội, mỗi người, mỗi cơ sở sản xuất chỉ sản
xuất ra một hay một số sản phẩm nhất định. Nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ

nào, phân phối cho ai , là công việc cá nhân của các chủ sở hữu về tư liệu sản xuất định
đoạt. Điều đó dẫn đến trường hợp là lao động tư nhân có thể phù hợp hoặc không phù
hợp với lao động xã hội.
- Lao động của người sản xuất hàng hóa bao hàm sự thống nhất hai mặt đối lập là lao
động xã hội và lao động tư nhân. Và đây cũng chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất
hàng hóa. Nó là cơ sở và mầm móng của khủng hoảng sản xuất thừa.
Trên đây là hai điều kiện cần và đủ cho sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại, nếu
thiếu một trong hai điều kiện sẽ không có sản xuất và trao đổi hàng hoá
18
* Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá
- Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
+ Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán.
+ Sản xuất hàng hóa diễn ra trong môi trường cạnh tranh quyết liệt.
+ Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân vừa mang tính xã hội
- Ưu thế của sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cung tự cấp
+ Thứ nhất, khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng
người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Sản xuất hàng hóa ra đời, phát
triển dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất. Do đó, nó
khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở
cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại
thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên
nhanh chóng, số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu xã hội tốt hơn.
+ Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ
thuật vào sản xuất , thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Trong nền sản xuất hàng hóa,
quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của
mỗi cá nhân, gia đình, cơ sở, địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và
nguồn lực của xã hội. Điều này lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành
tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất… thúc đẩy sản xuất phát triển.
+ Thứ ba, buộc những người sản xuất hàng hoá phải luôn luôn năng động, nhạy bén.
Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó như quy

+ Hàng hóa hữu hình là những hàng hoá mà quá trình sản xuất tách rời quá trình sử
dụng và có hình dạng cụ thể tồn tại ở dạng vật chất như: lương thực, quần áo, tư liệu sản
xuất
+ Hàng hóa vô hình (hàng hóa dịch vụ) là những hàng hoá mà quá trình sản xuất gắn
liền với quá trình tiêu dùng như: dịch vụ vận tải, dịch vụ chữa bệnh, công tác giáo dục
* Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
- Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng (lợi ích) của hàng hóa nhằm thỏa mãn
một nhu cầu nào đó của con người (nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất tồn tại ở dạng tư liệu
sản xuất như: máy móc, nhà xưởng ; nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân như nhu cầu vật
chất và nhu cầu tinh thần). Một hàng hóa có thể có một hoặc nhiều công dụng khác nhau,
những công dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần do tiến bộ khoa học kỹ thuật và
sự phát triển của lực lượng sản xuất nói chung. Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất
càng phát triển thì một hàng hóa càng có nhiều giá trị sử dụng, chủng loại càng phong
phú và chất lượng càng cao. Giá trị sử dụng của hàng hóa là do những thuộc tính tự nhiên
(tính chất vật lý, hóa học, sinh học ) của thực thể hàng hóa đó quyết định nên giá trị sử
dụng là một phạm trù vĩnh viễn. Ví dụ: thuộc tính tự nhiên của gạo là tinh bột thì bất cứ
xã hội nào gạo vẫn là tinh bột. Giá trị sử dụng của hàng hóa không phải cho bản thân
người sản xuất mà là giá trị sử dụng cho người khác, là giá trị sử dụng cho xã hội thông
qua mua bán trao đổi. Điều đó đòi hỏi người sản xuất phải quan tâm đến nhu cầu của xã
hội, làm sao để sản phẩm sản xuất ra đáp ứng nhu cầu của xã hội. Vì vậy trong nền kinh
tế hàng hóa, giá trị sử dụng của hàng hóa đồng thời là vật mang giá trị trao đổi. Nếu một
vật trở thành hàng hóa thì đương nhiên có giá trị sử dụng, nhưng một vật có giá trị sử
dụng thì chưa chắc là hàng hóa (vì còn xét đến những điều kiện để vật trở thành hàng
hóa).
- Giá trị của hàng hóa
Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi trước
hết là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi
với những giá trị sử dụng loại khác. Ví dụ: 1m vải = 5kg thóc. Tại sao vải và thóc là hai
giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao đổi được với nhau theo tỷ lệ 1: 5 ? Điều đó chứng
tỏ rằng giữa vải và thóc có một cơ sở chung nào đó. Cơ sở chung giữa vải và thóc không

- Hai thuộc tính của hàng hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất vừa
mâu thuẫn với nhau.
+ Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: cả hai thuộc tính cùng đồng thời tồn tại trong một
hàng hóa. Một vật phẩm phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới trở thành hàng hóa. Nếu
thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải là hàng hóa.
+ Mặt mâu thuẫn thể hiện ở chỗ: thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng
hóa không đồng nhất về chất; nhưng với tư cách là giá trị thì chúng lại đồng nhất về chất
(đều là sự kết tinh của lao động); thứ hai, quá trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị
thường không đồng thời về không gian và thời gian. Giá trị được thực hiện trước trong
lĩnh vực lưu thông, còn giá trị sử dụng được thực hiện sau trong lĩnh vực tiêu dùng. Do
đó, nếu giá trị của hàng hóa không được thực hiện sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất.
* Tại sao hàng hóa lại có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị ? Ý nghĩa của
việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa ?
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính nêu trên vì lao động sản xuất hàng hóa có tính chất
hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Trong đó, lao động cụ thể tạo ra giá trị
sử dụng của hàng hóa; còn lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa.
- Lao động cụ thể là lao động có ích biểu hiện dưới một hình thức cụ thể của những
nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công
cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Chính cái riêng đó phân biệt
các loại lao động cụ thể khác nhau và tạo ra các giá trị sử dụng khác nhau của hàng hóa.
Chẳng hạn, lao động của người thợ may tạo ra quần áo để mặc, lao động của người thợ
mộc tạo ra ghế để ngồi Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn, là một điều kiện không
thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào. Trong xã hội có nhiều loại hàng hóa
với những giá trị sử dụng khác nhau là do có nhiều loại lao động cụ khác nhau. Nếu phân
công lao động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau để
đáp ứng nhu cầu của xã hội.
21
- Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những
hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức lao động của
người sản xuất hàng hóa nói chung. Chỉ có lao động sản xuất hàng hóa mới có tính chất

+ Nhờ phát hiện tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, Mác đã chỉ ra xu
hướng vận động ngược chiều nhau giữa khối lượng hàng hóa với lượng giá trị của nó khi
có sự biến đổi về năng suất lao động. Khi năng suất lao động tăng lên thì khối lượng hàng
hóa (lượng giá trị sử dụng) được sản xuất ra tăng lên, nhưng lượng giá trị của mỗi đơn vị
hàng hóa lại giảm xuống.
+ Nhờ phát hiện tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, Mác đã giải thích
được nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư, phân tích được bản chất tư bản bất biến và
tư bản khả biến… do đó đem lại cơ sở khoa học vững chắc cho học thuyết giá trị thặng
dư, học thuyết tích lũy, học thuyết tái sản xuất…
* Lượng giá trị hàng hóa
Trong nền sản xuất hàng hóa, mỗi chủ thể kinh tế có một lượng hao phí lao động thực
tế nhất định, đó là thời gian lao động cá biệt. Thời gian này xác định giá trị cá biệt của
hàng hóa. Tuy nhiên, trên thị trường không thể dựa vào lượng giá trị cá biệt của hàng hóa,
22
mà phải dựa vào lượng giá trị xã hội (mức hao phí lao động xã hội) của hàng hóa để trao
đổi.
- Lượng giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất hàng hóa (có thể tính bằng: ngày, giờ, tháng, năm, ). Thời gian lao động
xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình
thường của xã hội với một trình độ kỹ thuật trung bình, một trình độ thành thạo trung
bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó.
- Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cá biệt của
những người cung cấp đại bộ phận lượng hàng hóa ấy trên thị trường. Thời gian lao
động xã hội cần thiết là một đại lượng không cố định. Nó thay đổi theo sự phát triển
của lực lượng sản xuất. Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa do lượng lao động xã hội
cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa quyết định
* Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa: năng suất lao
động, cường độ lao động và mức độ phức tạp của lao động.
- Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, nó được đo bằng số lượng
sản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian lao động hao phí

hóa. Theo mức độ phức tạp của lao động người ta chia lao động thành lao động giản đơn
và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình
23
thường nào cũng có thể thực hiện được không cần phải trải qua đào tạo. Lao động phức
tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thể thực hiện được. Trong
cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn, với ý
nghĩa đó lao động phức tạp thực chất là bội số của lao động giản đơn. Trong quá trình
trao đổi hàng hóa, ta lấy lao động giản đơn làm đơn vị và mọi lao động phức tạp đều
được quy thành lao động giản đơn trung bình. Điều đó được quy đổi một cách tự phát
hình thành những hệ số nhất định trên thị trường. Do đó, lượng giá trị của hàng hoá
được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình.
- Cấu thành lượng giá trị của hàng hóa
Để sản xuất hàng hóa cần phải chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn tại
trong các yếu tố tư liệu sản xuất và lao động sống hao phí để chế biến tư liệu sản xuất
thành sản phẩm mới. Lượng giá trị của hàng hoá được cấu thành bởi:
+ Giá trị của những tư liệu sản xuất đã sử dụng để sản xuất hàng hoá, tức là giá trị
cũ, ký hiệu là c.
+ Hao phí lao động sống của người sản xuất trong quá trình tạo ra hàng hoá, gọi là
giá trị mới, ký hiệu là v + m
Giá trị của hàng hoá W = C + (V + m)

W = Giá trị cũ tái hiện + Giá trị mới
Câu 12: Nêu nguồn gốc, bản chất của tiền. Phân tích các chức năng của
tiền tệ, quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát.
Trả lời:
* Nguồn gốc, bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là giá trị của hàng hóa, là sản phẩm của quá trình sản xuất và trao đổi hàng
hóa. Ứng với mỗi giai đoạn sản xuất và trao đổi hàng hóa có một hình thái giá trị. Giá trị
chỉ bộc lộ thông qua quá trình trao đổi. Vì vậy, chúng ta phải đi từ giá trị trao đổi để tìm
ra vết tích giá trị. Điều đó cũng có nghĩa là để hiểu nguồn gốc và bản chất của tiền chúng

hàng lấy hàng không còn thích hợp và gây trở ngại cho việc trao đổi. Do đó đòi hỏi phải
có một vật ngang giá chung và hình thái thứ ba ra đời.
- Hình thái chung của giá trị
Ví dụ: 1 cái áo =
10 đấu chè =
40 đấu cà phê

=
0,2 gam vàng =
Ở đây giá trị của mọi hàng hóa đều được biểu hiện ở giá trị sử dụng của một hàng hóa
đóng vai trò làm vật ngang giá chung. Theo hình thái này, các hàng hóa đều đổi lấy vật
ngang giá chung trước sau đó mới mang đổi lấy hàng hóa cần dùng, và vật ngang giá trở
thành môi giới, thành phương tiện trao đổi hàng hóa. Bất kỳ vật nào cũng có thể là vật
ngang giá chung, trong những vùng khác nhau có những hàng hóa khác nhau đóng vai trò
làm vật ngang giá chung. Vì vậy vật ngang giá chưa cố định, đòi hỏi phải có một vật
ngang giá chung thống nhất cho tất cả mọi khu vực. Khi đó, hình thái thứ tư ra đời.
- Hình thái tiền tệ
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển cao hơn, đặc biệt là khi nó được mở rộng
giữa các vùng đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thống nhất thì vật ngang giá
chung được cố định ở một hàng hóa đặc biệt, khi đó xuất hiện hình thái tiền.
Ví dụ: 1 cái áo =
10 đấu chè =
40 đấu cà phê =
20 vuông vải =
Trong trường hợp này, giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều được biểu hiện ở giá trị sử
dụng của một hàng hoá đóng vai trò tiền tệ. Khi bạc và vàng cùng làm chức năng tiền tệ
thì chế độ tiền tệ gọi là chế độ song bản vị. Khi chỉ còn vàng độc chiếm vị trí tiền tệ thì
chế độ tiền tệ được gọi là chế độ bản vị vàng. Tại sao vàng và bạc, đặc biệt là vàng có
được vai trò tiền tệ như vậy? Thứ nhất, nó cũng là một hàng hoá, có thể mang trao đổi với
các hàng hoá khác. Thứ hai, nó có những ưu thế (từ thuộc tính tự nhiên) như: thuần nhất,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status