Đề cương ôn tập môn Kinh tế chính trị Mác Leenin có đáp án - Pdf 25

Đề cương ôn tập môn Kinh tế chính trị Mác Leenin có đáp án
Câu 1: Trình bày quan niệm về đối tượng KTCT học trong các trường phái kinh
tế. Đối tượng nghiên cứu của KTCT Mác - Lênin.
Đối tượng KTCT học trong các trường phái kinh tế :
Kinh tế chính trị trở thành môn khoa học độc lập vào thời kỳ xã hội phong kiến suy
đồi, hình thành PTSX TBCN, hình thành thị trường dân tộc ở các nước Tây Âu.
Lần đầu thuật ngữ kinh tế học chính trị được nhà kinh tế học pháp là A.Đ
monntchretien đề cập năm 1815 để trình bày toàn bộ các nghành kinh tế và các chính sách
kinh tế của nước Pháp từ đó nó có cơ sở dể nghiên cứu và trở thành một môn khoa học.
* Có nhiều quan niệm khác nhau vềj đối tương kinh tế chính trị học:
- Quan điểm chủ nghĩa trọng thương từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII kinh tế học chính
trị là môn khoa học nghiên cứu về của cải thương nghiệp.
- Quan niệm của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh đầu thế kỷ XVIII: KTCT là môn
khoa học khảo sát về bản chất và nguyên nhân sự giàu có và của cải của A. Đam Smith.
(Thuyết bàn tay vô hình)
- Quan niệm của trường phái Keynes đầu thế kỷ XX cho rằng: kinh tế chính trị là khoa
học nghiên cứu phân tích sự vận động và mối quan hệ của những tổng lượng lớn trong toàn
bộ nền kinh tế làm cơ sở đề ra các chính sách kinh tế (thuyết bàn tay hữu hình).
- Quan điểm của kinh tế học trường phái chính hiện đại giữa thế kỷ XX cho rằng: kinh
tế chính trị học là khoa học nghiên cứu các vấn đề về con người và xã hội, lựa chọn như thế
nào để sử dụng những nguồn tài nguyên khan hiếm bắng nhiều cách khác nhau để sản xuất
đáp ứng nhu cầu xã hội.
Đối tượng nghiên cứu của KTCT Mác – Lênin:
Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: kinh tế chính trị học là môn khoa học xã hội
nghiên cứu những cơ sở kinh tế chung của đời sống xã hội, tức là nghiên cứu quan hệ sản
xuất (những quan hệ giữa người với người hình thành trong quá trình sản xuất và tái sản
xuất xã hội) nhằm vạch rõ bản chất và xu hướng vận động của quan hệ sản xuất ở những giai
đoạn phát triển nhất định của loài người
* Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác Lê nin:
- Theo nghĩa hẹp: KTCT nghiên cứu qhsx của 1 ptsx nhất định nhằm vạch rõ bản chất
và xu hướng vận động của ptsx.

với hiện tượng, quá trình kinh tế; thống nhất giữa cái chung và cái riêng; thống nhất giữa
lôgic và lịch sử; từ cụ thể tới trừu tượng phải được bổ sung bằng quá trình ngược lại từ trừu
tượng tới cụ thể.
2
Câu 3: Hai thuộc tính của hàng hóa? Vì sao hàng hóa có hai thuộc tính?
* Khái niệm Hàng hóa: Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu
nào đó của con người và dùng để trao đổi với nhau. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, sản
xuất hàng hoá có bản chất khác nhau, nhưng hàng hoá đều có hai thuộc tính:
- Giá trị sử dụng của hàng hóa là ích dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của
con người. Ví dụ, công dụng của một cái kéo là để cắt nên giá trị sử dụng của nó là để cắt;
công dụng của bút để viết nên giá trị sử dụng của nó là để viết. Một hàng hóa có thể có một
công dụng hay nhiều công dụng nên nó có thể có nhiều giá trị sử dụng khác nhau.
- Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong
hàng hóa. Ví dụ: Cả quần áo và thóc lúa đều là sản phẩm của quá trình sản xuất thông qua
lao động, là sản phẩm của lao động, có lao động kết tinh vào trong đó. Có sự chi phí về thời
gian, sức lực và trí tuệ của con người khi sản xuất chúng.
* Mối quan hệ giữa hai thuộc tính
Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Trong đó, giá
trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá
trị ra bên ngoài. Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao
động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau. Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi
lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hoá. Vì vậy, giá trị là biểu hiện
quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá. Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền
với nền sản xuất hàng hoá. Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính
xã hội của hàng hoá.
Như vậy, hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng là
sự thống nhất của hai mặt đối lập. Đối với người sản xuất hàng hoá, họ tạo ra giá trị sử dụng,
nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử
dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi. Ngược lại, đối với người mua, cái mà họ quan
tâm là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình. Nhưng, muốn có giá trị sử

chính sách gồm 4 nhóm chính:
- Một là, hệ thống pháp luật và bộ máy thực thi pháp luật (Luật đầu tư, thuế, thương
mại, luật lao động luật cạnh tranh ).
- Hai là, kế hoạch hóa nền kinh tế, đảm bảo kinh tế phát triển theo kế hoạch, chiến lược,
mục tiêu đề ra
- Ba là, hệ thống công cụ, chính sách kinh tế (chính sách tài chính, chính sách tiền tệ,
thuế, công nghiệp, công nghiệp …
- Bốn là, nguồn lực kinh tế nhà nước. Nhà nước sở hữu nhiều nguồn lực KT như: tài
nguyên thiên nhiên, ngân sách, nguồn dự trữ quốc gia…
3. Hình thành và phát triển khu vực kinh tế nhà nước.
Là kết quả tất yếu của sự can thiệp sâu của nhà nước vào các quá trình kinh tế của nền
kinh tế quốc dân. Một mặt nhà nước cần có thực lực kinh tế đủ đủ mạnh để thâu tóm nguồn
KT, Mặt khác khu vực kinh tế thực sự cần thiết để cung cấp các dịch vụ công mà khu vực tư
nhân không thể cung cấp hoặc không muốn cung cấp hoặc cung cấp không đủ…(thành lập
mới hoặc mở rộng các cơ sở KT bằng vốn, NS nhà nước; hình thành trên cơ sở quốc hữu
hóa, mua cổ phiếu khống chế trong các công ty cổ phần).
Lý do phát triển sở hữu nhà nước:
- Nhà nước điều tiết trực tiếp vào hoạt động KT thông qua khu vực công bằng các biện
pháp cụ thể (điều tiết sản lượng, giá cả của Cty nhà nước.
- Là thực lực để nhà nước nắm giữ toàn bộ nền KT, qua đó nhà nước định hướng phát
triển cụ thể, khắc phục những khuyết tật của thị trường.
4
- Giải quyết vấn đề xã hội, công ăn, việc làm …
4. Chủ nghĩa độc quyền nhà nước trên phạm vi quốc tế.
Tập đoàn KT lớn hiện đại vươn tầm ảnh hưởng và mở rộng lợi ích của mình trong mọi
ngành, lĩnh vực xâm nhập vào các quốc gia trên các châu lục của TG. Đứng sau các tập đoàn
có sự hậu thuẫn của nhà nước tư bản (như ngoại giao, trợ giúp pháp lý, hỗ trợ KT )
Trong bối cảnh hiện đại, “quyền lực mềm”, “biên giới mềm” thể hiện rõ sức mạnh
chính trị và KT của các thế lực tài phiệt và bộ máy nhà nước tư bản trong việc thôn tính và
chiếm đoạt lợi ích bên ngoài lãnh thổ của mình, có nhiều quan hệ KT ràng buộc và lệ thuộc

đạo cuộc cách mạng xã hội này chính là giai cấp công nhân
+ Khả năng điều chỉnh: Các nhà nước tư bản tích cực chủ động điều tiết kinh tế nhằm
hạn chế những mâu thuẫn nội tại trong xã hội và ổn định nền kinh tế vĩ mô. CNTB luôn điều
chỉnh QHSX thích ứng thích ứng với sự phát triển ngày càng cao của LLSX trên quy mô
quốc tế. Thực hiện cơ chế điều chỉnh kinh tế toàn cầu, đó là phối hợp tối ưu của ba cơ chế:
thị trường quốc tế, độc quyền xuyên quốc gia và sự phối hợp của liên nhà nước.
5
Câu 5: Nêu nội dung cơ bản của sở hữu trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt
Nam. Trình bày cơ cấu của sở hữu trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay.
* Sở hữu là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải trong một hình
thái kinh tế - xã hội nhất định, gắn liền với một tổ chức xã hội nhất định.
* Nội hàm quan hệ sở hữu:
- Chủ sở hữu: Là yếu tố quan trọng của quan hệ sở hữu, vì đó chính là người sở hữu, là
nhân tố tích cực, chủ động trong quan quan hệ sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường phát
triển, chủ sở hữu có thể là: Các cá nhân, tập thể, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội,
nhà nước, toàn dân vai trò của người sở hữu cũng thay đổi, vận động phát triển cùng với sự
phát triển của sản xuất xã hội.
- Đối tượng sở hữu: Là “vật trung gian” trong quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất. Đó chính là của cải xã hội, trong đó cơ bản và quyết định nhất là tư liệu sản
xuất. Đói tượng sở hữu luôn vận động và biến đổi theo sự phát triển của LLSX và kinh tế thị
trường. Trong điều kiện khoa học, công nghệ đã trở thành LLSX trực tiếp thì đối tượng sở
hữu cũng như cơ cấu đối tượng sở hữu ngày càng mở rộng, đa dạng, phong phú. Ngoài tư
liệu sản xuất cơ bản còn có vốn; đặc biệt ngày nay còn xuất hiện đối tượng sở hữu mới, đó là
sở hứu trí tuệ.
- Nội dung pháp lý của sở hữu: Quan hệ sở hữu một khi được thể chế hóa, tức là được
thể hiện dưới những hình thức nhất định có tính chất pháp lý gọi là chế đọ sở hữu. Chế độ sở
hữu được xác định dưới dạng quyền năng: quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền kinh doanh
(quyền sử dụng), quyền định đoạt, quyền thực hiện hưởng lợi từ các quyền năng trên.
- Nội dung kinh tế của sở hữu: Thể hiện ở chỗ nó là cơ sở, là điều kiện sản xuất. Mặt
khác nói đến sở hữu là nói đến quan hệ chiếm hữu các điều kiện sản xuất và kết quả sản xuất.

liệu sản xuất mà họ có quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền thực hiện lợi
ích kinh tế Ở nước ta hiện nay sở hữu tư nhân gồm: Sở hữu tư nhân TBCN và sở hữu tư
nhân nhỏ, cá thể.
Sở hữu tư nhân nhỏ, cá thể là sở hữu về lư liệu sản xuất của bản thân người lao động.
Chủ sở hứu này là nông dân cá thể, thợ thủ công, tiểu thương; họ vừa là chủ sở hữu và là
người lao động.
Sở hữu TBCN là hình thức sở hữu tư liệu sản xuất của các nhà tư bản (trong và ngoài
nước) đầu tư vào các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Loại này có thể
tồn tại với những quy mô khác nhau, bao gồm cả quy mô nhỏ, vừa và lớn. Chủ sở hữu có thể
trực tiếp thực hiện quyền sở hữu và điều hành quá trình kinh doanh hoặc ủy quyền cho người
khác thực hiện các công việc này dưới hình thức hợp đồng thuê quản lý điều hành.
4. Sở hữu hõn hợp: Là hình thức kết hợp, đan xen giữa loại hình sở hữu (công hữu và tư
hữu) làm xuất hiện trong đời sống thực tiễn hình thức sở hữu hỗn hợp, kết hợp trong nó các
yếu tố của hai loại hình sở hữu trên. Hình thức sở hữu này là cơ sở hình thành các tổ chức
kinh tế đa dạng của nền kinh tế. Đó cũng là thể hiện đặc thù của nền kinh tế của thời ký quá
độ lên CNXH.
7
Câu 6: Trình bày quá trình hình thành và phát triển của KTTT. Nêu khái quát các
đặc điểm của nó?
1. Khái niệm kinh tế thị trường (KTTT): Là sự phát triển cao của kinh tế hàng hóa,
trong đó mọi yếu tố đàu vào và đầu ra của nền kinh tế đều được thực hiện thông qua các quy
luật kinh tế thị trường.
2. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường:
Xét về mặt lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, kinh tế thị trường phát triển theo
các nấc thang phát triển của sản xuất hàng hóa, của sự phát triển của lực lượng sản xuất xã
hội. Có thể thấy những tiến trình khách quan của sự hình thành và phát triển của kinh tế thị
trường như sau:
- Tiến trình thứ nhất: Trên cơ sở phân công lao động xã hội và trao đổi, thông qua quan
hệ hàng hóa tiền tệ, phá vỡ cơ cấu của nền kinh tế hiện vật, thực hiện tự do hóa kinh tế (cạnh
tranh, tự do kinh doanh và tự chủ);

1. Nêu, phân tích khái niệm KTTT định hướng XHCN.
Khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một khái niệm kinh tế
chính trị học mới mẻ, trước đây chưa từng có, nó sinh ra từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta. Nội hàm của khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” bao
gồm hai dấu hiệu chính: 1) Kinh tế thị trường, 2) Định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường (quy luật giá
trị, quy luật giá trị thặng dư, quy luật cạnh tranh ). Còn nội hàm của định hướng xã hội chủ
nghĩa có những dấu hiệu, như hợp tác, nhân đạo; lợi nhuận chỉ là phương tiện để đạt được
mục đích vì con người. Nền sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần phải:
Một là, khuyến khích làm giàu chính đáng, đồng thời tích cực xóa đói, giảm nghèo (vì
nghèo thì không phải là chủ nghĩa xã hội);
Hai là, phát triển kinh tế song song với thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, bảo
đảm công bằng và an sinh xã hội, chú trọng phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa, làm cho
khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng gần lại;
Ba là, Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo có một trong những chức năng là điều tiết,
định hướng nền kinh tế, chủ yếu ở tầm vĩ mô, ví dụ như ở các lĩnh vực tiền tệ, tài chính, ngân
hàng, các nguồn lực,
Định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là quá trình phát triển phải nhắm tới một đích (dù
xa và cho dù thời gian khá dài) là xã hội xã hội chủ nghĩa, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế
- xã hội cộng sản chủ nghĩa.
- Khái quát đặc điểm của kinh tế thị trường hiện đại
KTTT được phát triển ở các loại hình khác nhau phát triển, nhưng phổ biến nhất là nền
KTTT hỗn hợp và hiện nay có nhiều quốc gia trên thế giới phát triển theo loại hình này.
KTTT hỗn hợp là nền kinh tế vừa vận hành theo CCTT, vừa chịu sự điều tiết của NN. Nền
KTTT có những đặc trưng sau:
+ Thứ nhất, nền KTTT có sự điều tiết của NN, là nền kinh tế đa chủ thể. Các chủ thể
kinh tế dựa trên các chế độ sở hữu khác nhau và tham gia hoạt động trong nền kinh tế được
tự chủ sản xuất kinh doanh, hoạt động theo pháp luật.
+ Thứ hai, trong nền KTTT có sự điều tiết của NN thị trường vừa là căn cứ vừa là đối
tượng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh; tức là hoạt động sản xuất kinh doanh phải

+ Góp phần đắc lực trong việc ổn định và nâng cao đời sống nhân dân; từng bước thiết
lập các cân đối lớn của nền kinh tế Trên cơ sở đó làm cho nền kinh tế phát triển một cách
ổn định và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững;
* Những điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN ở VN
- Nguồn lực lao động dồi dào, có ý chí sáng tạo vươn lên;
- Cơ sở vật chất – kỹ thuật và trình độ công nghệ mặc dù chưa lớn, chưa đồng bộ, chưa
hiện đại, nhưng với nhứng gì mà chúng ta đã có, nếu biết tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu
quả hơn thì chắc chẵn đây là một khả năng hết sức to lớn để phát triển kinh tế thị trường;
- Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trên thế giới là
điều kiện tốt để ta có thể tiếp thu và ứng dụng, nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta phát
triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa;thuôc
- Các tiềm năng về khí hậu, tài nguyên, vị trí địa lý khá thuận lợi, dồi dào phong phú;
- Nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư để phát triển kinh tế nói chung và phát triển
KTTT nói riêng đang tăng lên với tốc độ khá nhanh và quy mô lớn;
- Thị trường trong nước giầu tiềm năng, thị trường ngoài nước ngày càng được mở rộng
cùng với xu thuế quốc tế hóa, khu vực hóa và tự do thương mại trên thế giới;
- Việt Nam là nước thuộc khu vực chấu Á – Thái Bình dương một khu vực mà kinh tế
phát triển năng động, với tốc độ nhanh trong thập kỷ qua và có đầy đủ triển vọng tiếp tục
phát triển vào đầu thế kỷ này;
- Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng ta đã và đang đi vào cuộc sống.
10
Câu 8: Nêu các mô hình CNH đặc trưng trên thế giới? Bài học kinh nghiệm cho
quá trình CNH ở Việt Nam
Khái niệm CNH, HĐH:
CNH chính là quá trình xây dựng nền công nghiệp hiện đại, tức là quá trình tạo lập nền
tảng vật chất - kỹ thuật (lực lượng sản xuất) của phương thức sản xuất mới.
CNH không đơn thuần chỉ là quá trình chuyển biến kỹ thuật mà còn là quá trình cải
biến thể chế và cấu trúc của nền kinh tế. CNH cũng chính là quá trình cải biến hệ thống thể
chế và cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế hiện vật - khép kín, tự túc sang nền kinh tế thị trường
dựa trên sự phân công lao động xã hội phát triển mạnh mẽ.

 Tận dụng cơ hội tốt để “đi tắt” thông qua tiếp nhận công nghệ và đi thẳng vào công
nghệ hiện đại;
 Tiến hành những bước đi thích hợp: lúc đầu là nhập công nghệ -> thích nghi và cải
tiến -> xây dựng năng lực KHCN nội sinh -> sáng tạo và xuất khẩu công nghệ
 Thực hiện các chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, đầu tư vào nguồn nhân lực và
hướng vào xuất khẩu.
Đặc trưng mô hình hướng nội (thay thế nhập khẩu):
Diễn ra ở các nước: Nhật Bản, các nước NICs châu Á (từ những năm 1960) và các nước
ASEAN (những năm1970 – TK XX)
 Đề cao nội lực của quốc gia trong phát triển nền kinh tế độc lập tự chủ, không phụ
thuộc vào nước ngoài
 Đề cao phát triển thị trường trong nước
 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng khép kín trong nội tại nền kinh tế
Đặc trưng mô hình hướng ngoại:
Diễn ra ở các nước: Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan (thập kỷ 70 – TK
XX)
 Tận dụng ngoại lực phục vụ quá trình CNH trong nước
 Phát huy lợi thế so sánh trong mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
 Đổi mới cơ chế vận hành nền kinh tế, phù hợp với thị trường kinh tế
 Cơ cấu chuyển dịch theo hướng mở, tham gia đầy đủ hơn vào thị trường quốc tế
Đặc trưng mô hình hỗn hợp:
Diễn ra ở các nước đang phát triển từ những năm 1970 cho đến nay
 Khai thác yếu tố ưu việt của mô hình khép kín (hướng nội) và mô hình mở (hướng
ngoại)
 Vừa phát triển hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước vừa lấy yêu cầu thị
trường quốc tế làm đích phấn đấu
 Tận dụng lợi thế của các nước đi sau
 Tham gia vào phân công lao động quốc tế
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
- Chiến lược và phương thức tiến hành

Để tăng trưởng kinh tế cần 5 yếu tố : Vốn, khoa học công nghệ, con người, cơ cấu kinh
tế, thể chế chính trị và quản lý nhà nước thì mỗi con người là yếu tố quyết định
Nên phải chú trọng phát triển giáo dục – đào tạo phải đủ số lượng, cân đối cơ cấu và
trình độ có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của
thế giới
* Phát triển khoa học, công nghệ: khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của
công nghiệp hóa, HĐH. Khoa học công nghệ có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao
động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế
Nước ta phát triển, khoa học công nghệ là yêu cầu tất yếu và bức xúc, nhất là công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học, và công nghệ vật liệu mới
- Tạo lập nguồn vốn đầu tư cho CNH, HĐH
* Nhóm các yếu tố từ phía quản lý Nhà nước:
- Ổn định chính trị, KT xã hội và làm tốt công tác điều tra cơ bản
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và tăng cường vai trờ của Nhà nước.
13
Phần 6 điểm:
Câu 1: Phân tích nội dung các quy luật kinh tế và cơ chế vận dụng các quy luật
kinh tế trong kinh tế chính trị Mác – Lê nin? Đánh giá cơ chế vận dụng quy luật kinh tế
ở nước ta hiện nay?
* Khái niệm quy luật kinh tế:
Quy luật kinh tế là mỗi quan hệ bản chất, tất yếu, quan hệ nhân quả, vững chắc, lặp đi
lặp lại của các hiện tượng, quá trình kinh tế. Quy luật kinh tế là khách quan và mang tính xã
hội cao, bị chi phối bởi giới hạn lịch sử.
* Nội dung các quy luật kinh tế:
Căn cứ vào điều kiện hình thành và vai trò tác động, hệ thống các quy luật kinh tế có thể
phân chia thành 3 loại sau:
1. Những quy luật kinh tế chung cho tất cả các phương thức sản xuất. Có thể kể đến
như: Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, quy luật tiết kiệm thời gian,
Quy luật nhu cầu tăng lên, quy luật nâng cao năng suất lao động xã hội… Các quy luật này
phát huy tác dụng của chúng trong mọi phương thức sản xuất, trong bất cứ giai đoạn phát

thực thi.
15
Câu 2: Phân tích nội dung (yêu cầu) và tác động của quy luật giá trị? Biểu hiện của
quy luật giá trị trong các giai đoạn khác nhau của CNTB? Ý nghĩa của việc nghiên cứu
quy luật giá trị với phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay?
* Nội dung qui luật giá trị:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Ở đâu có
sản xuất hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động một các khác quan không phụ thuộc
vào ý muốn con người. Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở
giá trị của nó, tức là trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Cụ thể là:
- Trong sản xuất: Quy luật giá trị đòi hỏi người sản xuất phải căn cứ vào hao phí lao
động xã hội cần thiết, luôn có cách thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ
hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Trong lưu thông: Trao đổi phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá.
Cơ chế tác động của Quy luật giá trị đối với nền kinh tế hàng hoá là thông qua sự lên
xuống của giá cả thị trường.
* Tác độngcủa Quy luật giá trị:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:
+ Điều tiết sản xuất: Là sự điều hòa, phân phối các yếu tố sản xuất vào các ngành kinh
tế khác nhau. Sự điều tiết này diễn ra tự phát theo quy luật cung – cầu hàng hóa. Nếu cung <
cầu (hàng hóa thiếu hụt) giá cả > giá trị, hàng hóa sẽ bán với lãi cao, người sản xuất sẽ tập
trung nguồn lực vào sản xuất, cung sẽ tự được điều hòa và ngược lại. Tác động của quy luật
giá trị là làm thay đổi cơ cấu sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. Nhưng cũng
gay ra tính mất cân đối trong sản xuất do tính tự phát của nó.
+ Quy luật điều tiết lưu thông hàng hóa thông qua mệnh lệnh của giá cả thị trường. Khi
giá cả cao hơn sẽ thu hút nguồn hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao. Nó làm cho hàng
hóa tự di chuyển từ nơi thừa đến nới thiếu; nó vừa điều hòa lưu thông hàng hóa, vừa gay ra
xáo trộn bất ổn trên thị trường do tính tự phát vô chính phủ của nó.
- Kích thích cải tiến kỹ, thuật, hợp lý hoá sản xuất tăng năng suất lao động, hạ giá
thành sản phẩm (kích thức lực lượng sản xuất phát triển).

các nguồn hàng cho hợp lee hơn giữa các vùng.
+ Kích thích cải tiến kỹ, thuật, hợp lý hoá sản xuất tăng năng suất lao động, hạ giá thành
sản phẩm (kích thức lực lượng sản xuất phát triển). Các hàng hoá được sản xuất ra trong
những điều kiện khác nhau. Nhưng trên thị trường đều phải trao đổi theo mức phí lao động
xã hội cần thiết. Người sản xuất nào có giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội thì
sẽ có lợi. Vì vậy, mỗi người sản xuất hàng hoá đều tìm cách giãm giá trị cá biệt hàng hoá
hàng hoá của mình xuống dưới mức giá trị xã hội bằng các cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản
xuất để tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt làm cho năng suất lao động xã hội
không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giãm xuống.
+ Phân bố những nhà sản xuất hàng hoá thành giàu, nghèo, làm xuất hiện quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Trong sản xuất hàng hoá, hàng hoá của nhà sản xuất nào có giá trị cá
biệt thấp hơn giá trị xã hội thì người đó có lợi, ngược lại thì bị bất lợi và phá sản. Vì vậy, một
số người phát tài, trở nên giàu có, một số thì trở nên nghèo đói. Từ đó những người giàu trực
tiếp mở rộng sản xuất kinh doanh, thuê them công nhân và trở thành tư bản; những người bị
phá sản trở thành những người lao động làm thuê.
- Trong giai đoạn tự do cạnh tranh, quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản
xuất. Giá cả sản xuất là giá cả được xác định bằng chi phí tư bản cộng vói lợi nhuận bình
quân.
- Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật
giá cả độc quyền. Giá cả độc quyền là giá cả vượt qua giá cả sản xuất. trong giai đoạn này,
các tổ chức độc quyền áp dụng cơ chế giá cả độc quyền khi mua và cao khi bán.
Giá cả độc quyền bằng chi phí tư bản cộng với lợi nhuận độc quyền cao.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn hết sức to lớn: một mặt chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích
17
thích các nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hóa XH thành kẻ giàu người nghèo, tạo
ra sự bất bình đẳng trong XH.
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực. Thấy được
điều đó, đồng thời với việc thúc đẩy SXHH phát triển, Nhà nước cần có những biện pháp để

Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, vì vậy, các nhà tư bản
dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát có hai
phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị
thặng dư tương đối.
a) Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
Là phương pháp nâng cao quy mô và trình độ bóc lột giá trị thặng dư bằng cách kéo dài
tuyệt đối ngày công lao động trong khi thời gian lao động tất yếu, năng suất lao động và giá
trị sức lao động không đổi
Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những giới
hạn nhất định. Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động
quyết định. Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khoẻ.
Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân. Còn giới
hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao
động thặng dư bằng không. Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian
lao động tất yếu, nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao
động.
Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượng không cố
định và có nhiều mức khác nhau. Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc đấu tranh giữa
giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên cơ sở tương quan lực lượng quyết định. Cuộc đấu
tranh của giai cấp công nhân đòi ngày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng
thế kỷ.
b) Sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
Là phương pháp nâng cao quy mô nâng cao quy mô và trình độ bóc lột giá trị thặng dư
bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu, nhờ đó tăng ứng thời gian lao động thặng dư
trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động. Muốn hạ thấp
giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của
công nhân. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các
ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân hay tăng
năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu

+ Nó tạo ra động lực cho sự vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản
+ Nó làm cho mâu thuẫn cơ bản và nói chung toàn bộ mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản
ngày càng sâu sắc, dẫn đế sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản.
Biểu hiện của quy luật trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa:
- Tích lũy tư bản: quá trình tích lũy tư bản và hậu quả xã hội của tích lũy tư bản
- Sự hình thành lợi nhuận bình quân ở giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh: tỷ suất lợi
nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân; sự hình thành giá cả sản xuất.
- Lợi nhuận độc quyền ở giai đoạn tư bản độc quyền: độc quyền và cạnh tranh; giá cả
độc quyền
* Ý nghĩa nghiên cứu vấn đề này:
- Thừa nhận các quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa từ đó liên
hệ tới nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
- Hiểu rõ hơn các phạm trù của học thuyết giá trị thặng dư trong bối cảnh của thế giới
hiện đại
- Vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
20
Câu 4: Phân tích những biểu hiện mới về LLSX, QHSX của CNTB hiện đại?
Nguyên nhân dẫn đến sự điều chỉnh này? Theo đồng chí CNTB ngày nay còn tiềm năng
phát triển không? Vì sao?
* Khái niệm CNTBĐQNN:
CNTB đến ngày nay đã phát triển qua hai giai đoạn là: CNTB tự do cạnh tranh và CNTB
độc quyền (CNĐQ). Giai đoạn độc quyền là giai đoạn kế tục trực tiếp của giai đoạn tự do cạnh
tranh của cùng một phương thức sản xuất TBCN.
CNTB độc quyền nhà nước là một nấc thang phát triển mới của CNTB độc quyền.
CNTB độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với
sức mạnh của nhà nước tư sản thành một thiết chế và thể chế thống nhất nhằm phục vụ lợi ích của
các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho CNTB.
* Những biểu hiện mới về LLSX:
- Sự thay thế từng bước các tư liệu sản xuất truyền thống do cuộc cách mạng công

với việc nâng cao khối lượng lợi nhuận của nhà TB là tương quan cùng chiều nhưng không
cùng mức độ.
Nguyên nhân dẫn đến điều chỉnh kinh tế của CNTB HĐ:
- Nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ sự phát triển nhanh chóng của LLSX, dưới tác động
của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ khiến trình độ xã hội hóa tăng lên một cách mạnh
mẽ, làm cho độc quyền tư nhân không thể thích ứng nổi.
- Quá trình quốc tế hóa sản xuất và lưu thông được đẩy mạnh, sự phân công hợp tác
quốc tế ngày càng sâu rộng đã làm nảy sinh những mâu thuẫn mới mang tính quốc tế, chỉ có
nhà nước mới đứng ra điều chỉnh, giải quyết và phối hợp được các hoạt động mang tính quốc
tế.
* Nhận định về tiềm năng phát triển của CNTB ngày nay:
- Sự điều chỉnh: về LLSX, QHSX
Xu hướng vận động của CNTB.
Trong quá trình phát triển, một mặt CNTB đã thúc đẩy lượng sản xuất phát triển mạnh
mẽ, tạo ra cơ sở vật chất -kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại. Mặt khác, lại làm cho mâu
thuẫn cơ bản của CNTB - mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hoá ngày càng cao của
lực lượng sản xuất với tính chất tư nhân của quan hệ sản xuất TBCN ngày càng gay gắt. Mâu
thuẩn cơ bản tiếp tục phát triển đến một mức độ nhất định thì quan hệ sản xuất TBCN dựa
trên chế độ sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất bị phá vỡ. Thay vào đó là quan hệ sản
xuất mới dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất được xác lập phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất. Nghĩa là phương thức sản xuất CSCN ra đời thay thế
phương thức sản xuất TBCN.
Ngày nay, CNTB hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học công nghệ và thị trường,
đang có khả năng thích nghi và phát triển trong chừng mực nhất định. CNTB cũng đang thực
hiện một số điều chỉnh quan hệ sản xuất trong khuôn khổ của CNTB do vậy còn khả năng
phát triển nhưng cũng không thể khắc phục được những mâu thuẫn vốn có của nó, không thể
vượt qua giới hạn lịch sử của CNTB.Vì thế, sớm hay muộn CNTB cũng sẽ bị thay thế bởi xã
hội mới cao hơn theo đúng quy luật khách quan của lịch sử, đó là xã hội CSCN mà giai đoạn
đầu là CNXH.
Cũng cần phải thấy rằng, phương thức sản xuất CSCN ra đời thay thế phương thức sản

thành phần kinh tế trong nước như: Vốn, lao động, tài nguyên, kinh nghiệm tổ chức quản lý,
khoa học, công nghệ ;
+ Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tạo tiền đề khắc phục tình trạng độc quyền, tạo
ra quan hệ cạnh tranh, động lực quan trọng thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, phát triển LLSX;
+ Thúc đẩy quá trình hội nhập và mở cửa nền kinh tế, thực hiện chủ trương kết hợp sức
mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc gia và sức mạnh quốc tế nhằm tạo điều
kiện cho phát triển đất nước.
Tóm lại: Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần
kinh tế là tất yếu xét cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, từ đại hội lần thứ
VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định quan điểm thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều
thành phần. Các thành phần kinh tế cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Đó là đường lối chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN.
* Các thành phần kinh tế trong thời kỳ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
23
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định nước ta có 4 thành phần kinh tế,
đó là:
- Kinh tế nhà nước;
- Kinh tế tập thể;
- Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, TBTN);
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
* Kinh tế nhà nước: Đây là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu nhà nước về
tư lư liệu sản xuất chủ yếu. Kinh tế nhà bao gồm các doanh nghiệp NN và các tổ chức phi
doanh nghiệp như ngân sách, bảo hiểm NN…v.v Doanh nghiệp NN bao gồm những đơn vị
sản xuất kinh doanh mà toàn bộ số vốn thuộc NN, hoặc vốn của NN chiếm tỷ trọng khống
chế.
Kinh tế NN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Vai trò
đó thể hiện như sau:
- Một là, doanh nghiệp NN giữ những vị trí ở những ngành, lĩnh vực kinh tế và địa bàn
quan trọng của đất nước, các doanh nghiệp NN đi đầu trong việc ứng dụng khoa học công
nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả kinh tế và chấp hành pháp luật;

còn có vai quan trọng trong nền kinh tế, vì nó còn chiếm tỷ trọng lớn về vốn, về giá trị, quy
mô và địa bàn hoạt động trong các ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh được pháp luật
quy định.
* Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Là thành phần kinh tế bao gồm phần vốn đầu tư
nước ngoài và các cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Đây là thành phần kinh tế có quy mô lớn, có
trình độ quản lý và trình độ công nghệ cao. Do đó sử dụng thành phần kinh tế này sẽ góp
phần giải quyết khó khăn về vốn, nâng cao trình độ quản lý và trình độ công nghệ cho nền
kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội…
thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của VN.
* Nhận định về vai trò của kinh tế Nhà nước:
Kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nên kinh tế, là lực lượng vật chất quan
trọng và là công cụ để NN định hướng và điều tiết vĩ mô nên kinh tế.
- Kinh tế Nhà nước nắm giữ các vị trí, lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế,vì vậy nó chi
phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác và toàn bộ nền kinh tế.
- Kinh tế Nhà nước có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm công cộng
cho nền kinh tế như: đường sá, sân bay, bến cảng, điện, nước…đây là sản phẩm thiết yếu cho
sự phát triển 1 nền kinh tế.
- Kinh tế Nhà nước là công cụ vĩ mô điều tiết nền kinh tế thị trường, không chỉ vậy còn
có tác dụng mở đường cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
- Vì doanh nghiệp Nhà nước là bộ phận quan trọng cấu thành nên kinh tế Nhà nước nên
khi nói đến va trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước thì không thể bỏ quên các doanh nghiệp Nhà
nước, một bộ phận đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của nên kinh tế quốc dân.
Được thể hiện ở chổ: doanh nghiệp Nhà nước đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế-xã hội và chấp hành pháp
luật.
- Kinh tế Nhà nước tạo nền tảng cho việc xây dựng chế độ xã hội mới-chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status