LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành nhờ sự hướng
dẫn của GS. TS. Nguyễn Thị Mơ và công sức của tôi.
Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế có nguồn gốc rõ ràng,
đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan, nếu có sai phạm tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm.
Tác giả: Lương Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI 4
1.1. Phân phối và dịch vụ phân phối…… ……………………….…… 4
1.1.1. Phân phối…………………………………………………………… 4
1.1.2. Dịch vụ phân phối ……………………………………………… 4
1.1.2.1. Khái niệm về dịch vụ phân phối ………………………………… 4
1.1.2.2. Đặc điểm của dịch vụ phân phối…………………………………… 5
1.1.2.3. Vai trò của dịch vụ phân phối đối với nền kinh tế………………… 7
1.1.3. Quan điểm của WTO về dịch vụ phân phối…………………… …….… 11
1.1.3.1. Về khái niệm dịch vụ phân phối ………… …………….….……… 11
1.1.3.2. Phân loại dịch vụ phân phối…………….………………… ….….… 11
1.1.3.3. Yêu cầu của WTO đối với các thành viên về mở cửa dịch vụ phân
phối…………….……………………………….………………… 13
1.2. Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối……….……… 21
1.2.1. Khái niệm về nhượng quyền thương mại ………………… … … 21
1.2.2. Đặc điểm của nhượng quyền thương mại …… ………… …… 24
1.2.2.1. Về luật điều chỉnh…………………………………… … ………… 24
1.2.2.2. Về tính chất……………… ………………… ………………… 25
1.2.2.3 Về vai trò, vị trí và lợi ích của nhượng quyền thương mại………… 27
3.1.1. Cơ sở để dự báo … … … … 61
3.1.2. Số liệu dự báo 65
3.2. Giải pháp phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại trong
lĩnh vực phân phối. ……………………….……… ……………… 66
3.2.1. Nhóm giải pháp thực thi các cam kết của Việt Nam trong WTO về
mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong lĩnh vực nhượng quyền
thương mại ………………………………… …… ……………… 66
3.2.1.1. Đối với Nhà nước…………………………….……………………… 66
3.2.1.2. Đối với bên nhượng quyền và nhận quyền thương mại Việt
Nam…………………………………… ………… …… ………. 69
3.2.2. Nhóm giải pháp phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại 71
3.2.2.1. Đối với Nhà nước …………………………………………………… 71
3.2.2.2. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam………………………………… 76
3.2.3. Nhóm giải pháp khác……………………………………… ……… 82
KẾT LUẬN …………………………………………………………………… 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WTO: World Trade Organization:
Tổ chức Thương mại thế giới
ASEAN: The Association of Southeast Asian Nations:
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
GATS: General Agreement on Trade in Services:
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
BTA: US-Vietnam Bilateral Trade Agrement:
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
MFN: Most Favoured Nation:
Nguyên tắc Tối huệ quốc
NT: Nation treatment:
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
IFA: International Frachise Association
triển hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối tại Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” để làm đề tài cho luận văn thạc sỹ kinh tế
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Ở nước ngoài hiện có một số công trình nghiên cứu ít nhiều liên quan đến
NQTM trong lĩnh vực phân phối như: “Nhượng quyền thương mại và cấp Lixăng
1
(Franchising and Licensing): hai phương thức tăng trưởng hiệu quả bất chấp
những biến động của nền kinh tế” (2008) của Andrew J. Sherman.
Ở Việt Nam hiện nay đã có một số sách chuyên khảo, công trình, bài báo
nghiên cứu ở các góc độ khác nhau về NQTM. Tiêu biểu là: “Nhượng quyền
thương mại tại Việt Nam” (2009) của Nguyễn Đông Phong, “Mua Franchise – cơ
hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam” (2006) của Lý Quý Trung, “Một số giải
pháp phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế” (2007) của Phạm Thị Thu Huyền, “Hoạt động nhượng
quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các
cam kết với WTO” (2009) của Nguyễn Thị Hằng Nga, “Nhượng quyền thương mại
trong bối cảnh toàn cầu hóa: điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt nam trong thời
gian tới” (2009) của Nguyễn Thị Hải Hà, “Nhượng quyền thương mại trong lĩnh
vực kinh doanh đồ ăn nhanh trên thế giới - bài học kinh nghiệm cho các doanh
nghiệp Việt Nam” (2009) của Phan Thị Thanh Nhàn. Tuy nhiên những công trình
này chỉ ít nhiều đề cập đến hoạt động Nhượng quyền thương mại và Nhượng quyền
thương mại trong lĩnh vực phân phối tại Việt Nam nói chung, chưa có công trình
nào nghiên cứu giải pháp phát triển hoạt động Nhượng quyền thương mại trong lĩnh
vực phân phối tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là luận
văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về NQTM và NQTM
trong lĩnh vực phân phối, sau khi phân tích thực trạng hoạt động NQTM trong lĩnh
vực phân phối tại Việt Nam và nêu rõ những tồn tại, luận văn đề xuất các giải pháp
sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Trong mối quan hệ đó sản xuất là gốc, có
vai trò quyết định; tiêu dùng là mục đích, là động lực của sản xuất; còn phân phối là
khâu trung gian nối sản xuất với tiêu dùng, là mắt xích chủ yếu giữa nhà sản xuất
với người tiêu dùng cuối cùng, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá cả.
Phân phối bao gồm:
- Phân phối các yếu tố sản xuất cho các ngành sản xuất, các đơn vị sản xuất
khác nhau để tạo ra các sản phẩm khác nhau.
- Phân phối cho tiêu dùng dưới hình thức các nguồn thu nhập của các tầng
lớp dân cư.
Tính chất và nguyên tắc của quan hệ phân phối và bản thân quy luật phân
phối đều do tính chất của nền sản xuất và quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết
định. Song, phân phối cũng tác động trở lại đối với sản xuất và tiêu dùng. Nó thúc
đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển nếu quan hệ phân phối tiến bộ, hoặc ngược lại
nó cản trở quá trình sản xuất và tiêu dùng nếu quan hệ phân phối lạc hậu. Vì vậy
phát triển hoạt động phân phối có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nền kinh
tế nói chung.
1.1.2. Dịch vụ phân phối
1.1.2.1. Khái niệm dịch vụ phân phối
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa từ người sản xuất đi đến người tiêu
dùng hoặc người sử dụng cuối cùng phải qua một chuỗi các hoạt động mua và bán.
Dịch vụ phân phối (DVPP) là thuật ngữ mô tả toàn bộ quá trình lưu thông tiêu thụ
hàng hóa trên thị trường. Chúng là những dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hóa
4
qua các doanh nghiệp và tổ chức khác nhau để tới người mua cuối cùng. Từ những
quan điểm nghiên cứu khác nhau, có thể có những quan niệm khác nhau về DVPP.
Xuất phát từ quan điểm của các doanh nghiệp – chủ thể kinh doanh, DVPP là
các hình thức liên kết của các doanh nghiệp trên thị trường để cùng thực hiện một
mục đích kinh doanh. Người sản xuất (hay nhập khẩu) phải qua các trung gian
thương mại nào để đưa sản phẩm của họ đến người tiêu dùng, vì vậy DVPP là các
hình thức lưu thông sản phẩm qua các trung gian khác nhau
của dịch vụ. Đó là: DVPP có tính vô hình và khó xác định; DVPP không lưu trữ
được và quá trình sản xuất (cung ứng) DVPP và tiêu dùng DVPP xảy ra đồng thời.
Ngoài các đặc điểm trên, DVPP còn có các đặc điểm sau:
- Dịch vụ phân phối mang tính chuyên môn hóa và phân công lao động cao
Mỗi DVPP hoạt động được thông qua các dòng hoạt động (dòng chảy) để
đảm bảo hàng hóa đến được địa điểm tiêu dùng như: chuyển quyền sở hữu, đàm
phán, vận động vật chất của hàng hóa, thanh toán, thông tin, xúc tiến đặt hàng, chia
sẻ rủi ro, tài chính, thu hồi, tái sử dụng lại bao gói. Các dòng chảy này kết nối các
thành viên của DVPP với nhau. Các DVPP ví như dòng chảy vì các hoạt động phân
phối hàng hóa trong hệ thống là một quá trình vận động liên tục không ngừng. Mỗi
dòng chảy là một tập hợp các chức năng phân phối được thực hiện bởi các thành
viên tham gia hệ thống phân phối.
Tất cả các chức năng phân phối trong DVPP đều cần được thực hiện bởi một
doanh nghiệp hoặc cá nhân nào đó. Nhưng không cần thiết mọi doanh nghiệp đều
tham gia vào tất cả các dòng chảy. Các DVPP có sự phân công lao động và chuyên
môn hóa trong từng hệ thống và cả ở tầm vĩ mô. Các tổ chức kinh doanh nhất định
chuyên môn hóa vào một hoặc một số công việc phân phối nhất định. Doanh nghiệp
sản xuất và nhập khẩu sử dụng những trung gian thương mại hoặc tổ chức bổ trợ
khác để thực hiện công việc phân phối là vì họ thực hiện các chức năng phân phối
hiệu quả hơn.
- Bản chất của dịch vụ phân phối là sự vận động liên tục
Hàng hóa lưu thông qua các DVPP thông qua cơ chế “kéo đẩy”. Cơ chế kéo
nghĩa là các doanh nghiệp dùng các biện pháp tác động vào nhu cầu của người tiêu
dùng cuối cùng để tạo ra mong muốn của họ, để họ tạo ra lực hút hàng hóa ra thị
trường. Cơ chế đẩy nghĩa là doanh nghiệp sử dụng các biện pháp thúc đẩy các thành
viên của DVPP tăng cường hoạt động tiêu thụ tạo thành lực đẩy hàng hóa ra thị
trường. Sự hoạt động của DVPP rất phức tạp do có nhiều dòng vận động trong
2
Theo qui định của WTO, phân phối là một trong số 12 ngành dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp
định GATS
Có mâu thuẫn này là do thị trường là một tập hợp gồm vô số những người
tiêu dùng với những nhu cầu và mong muốn rất khác nhau. Xã hội càng phát triển,
thu nhập của dân cư càng tăng lên, nhu cầu tiêu dùng càng đa dạng, phong phú.
Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất phải sản xuất khối lượng lớn để đạt hiệu
quả kinh tế theo quy mô, chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm thấp.
* Sự khác biệt về số lượng
* Sự khác biệt về không gian
* Sự khác biệt về thời gian
* Sự khác biệt về chủng loại
* Sự khác biệt về số lượng
* Sự khác biệt về không gian
* Sự khác biệt về thời gian
* Sự khác biệt về chủng loại
Sơ đồ 1.1. Dịch vụ phân phối nối sản xuất với tiêu dùng
(Nguồn: Bộ Thương mại, Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, 2004)
Hơn nữa các kỹ năng sản xuất hiện đại có thể giúp tạo ra số lượng hàng hóa
và dịch vụ lớn để thỏa mãn đông đảo khách hàng. Sản xuất lớn, hiệu quả cao không
thể giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu. DVPP giúp giải quyết được mâu thuẫn này
nhờ sự gắn kết giữa sản xuất và tiêu dùng (xem sơ đồ 1.1)
8
Khu vực sản xuất: Chuyên môn hóa và phân
công lao động dẫn đến khả năng cung cấp đa
dạng
Hệ thống
phân phối
hàng hóa
cần thiết để
giải quyết
những khác
tầm vĩ mô, chúng ta sẽ thấy lãng phí khi một doanh nghiệp phải đảm đương mọi
khâu từ sản xuất tới vận chuyển rổi trao đổi trực tiếp với người tiêu dùng. Phân
công lao động ở tầm vĩ mô sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu mỗi ngành kinh tế chỉ tập
trung vào nghiệp vụ đặc trưng của ngành mình, ví dụ, công ty sản xuất thì nên tập
9
trung vào sản xuất và sử dụng hợp lí các dịch vụ hỗ trợ tiêu thụ được cung cấp bởi
các công ty khác. Ngày nay phân phối cũng đang không nằm ngoài xu hướng đó.
Với ưu thế về tính chuyên nghiệp và tiết kiệm chi phí, dịch vụ phân phối đang là sự
lựa chọn rộng rãi trong các doang nghiệp sản xuất hay cho mô hình cửa hàng giới
thiệu sản phẩm hay cửa hàng bán lẻ của chính công ty. Sự phát triển mạnh mẽ của
ngành dịch vụ phân phối đang thu hút các luồng nhân lực và tài chính đầu tư vào
ngành này. Điều này có tác dụng rất tốt trong việc điều hoà trạng thái cân bằng về
nguồn lực giữa các lĩnh vực kinh tế, đảm bảo duy trì một nền kinh tế hài hoà, tránh
tình trạng phát triển thiên lệch.
- Sự tăng trưởng của ngành dịch vụ phân phối góp phần tạo nên động lực
phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế.
Ngày nay, dịch vụ phân phối đang đạt giá trị ngày càng lớn, thu hút lượng
lao động ngày càng đông đảo, trở thành một nhân tố tác động sâu rộng đến mọi
ngóc ngách của hoạt động thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ. Đối tượng
của phân phối không chỉ có hàng hoá hữu hình mà bao gồm các loại hình dịch vụ
như mô hình phân phối các dịch vụ giải trí qua mạng đang rất thịnh hành hiện nay.
Ở góc độ khác, dịch vụ phân phối đang trở thành tiêu chí để các nhà đầu tư đánh giá
trình độ phát triển của một nền kinh tế bởi khi đầu tư vào một nơi nào đó, họ cần
biết sản phẩm của mình có các kênh tiêu thụ hiệu quả hay không. Mức độ thịnh
vượng của ngành phân phối không chỉ là sự đảm bảo về kênh lưu thông sản phẩm
mà còn là sự hứa hẹn về một nền kinh tế tiêu dùng mạnh đầy tiềm năng mà nhà đầu
tư nào cũng mong đợi. Do đó, dịch vụ phân phối đã vượt ra ngoài vai trò của một
phân ngành dịch vụ trong nền kinh tế để trở thành một trong những động lực quan
trọng của phát triển kinh tế.
Với các vai trò quan trọng như vậy, hiện nay, phân phối được hầu hết các
bán lẻ và được qui định kiểu bậc thang theo khối lượng hàng bán ra nhằm khuyến
khích khối lượng đặt hàng của các đại lý mà vẫn đảm bảo sự cân bằng và công bằng
về giá trong hệ thống thương mại. Dịch vụ bán buôn bao gồm các hoạt động bán
hàng cho người bán lẻ, các khách hàng là doanh nghiệp sản xuất, thương mại, các tổ
chức, các doanh nghiệp chuyên ngành hay người bán buôn, và các dịch vụ phụ trợ
có liên quan.
- Dịch vụ bán lẻ bao gồm hoạt động bán hàng tại những điểm nhỏ, cố định,
như cửa hàng hay ki-ốt, hoặc qua đường bưu điện với số lượng nhỏ và người mua là
người tiêu dùng trực tiếp. Dịch vụ bán lẻ có thể gồm cả những dịch vụ phụ trợ, ví
3
WTO, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ, 1995
4
Mutrap II, Cẩm nang các cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO, 2006
11
dụ như giao hàng. Khách hàng của dịch vụ bán lẻ có thể là cá nhân hoặc doanh
nghiệp. Trong thương mại, người bán lẻ mua hàng hoá với số lượng lớn từ nhà sản
xuất, người nhập khẩu hoặc người bán buôn và bán cho người tiêu dùng với số
lượng nhỏ hơn. Người bán lẻ giữ vị trí cuối cùng trong chuỗi cung ứng và có vai trò
rất quan trọng trong chiến lược phân phối của các công ty vì là những người gần gũi
người tiêu dùng cuối cùng nhất.
- Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng
quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình việc tiến hành mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền qui
định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh,
khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc
điều hành công việc kinh doanh. Quyền hạn và nghĩa vụ của bên nhượng quyền và
bên nhận quyền qui định trong hợp đồng nhận quyền thương mại hai bên kí kết.
Bên nhận quyền thường phải trả cho bên nhượng quyền một khoản tiền nhượng
quyền theo số sản phẩm tiêu thụ được và vẫn phải trả một khoản nhượng quyền
họ) tiêu dùng dịch vụ phân phối tại lãnh thổ của một nước thành viên khác bằng
cách tự di chuyển hoặc được dịch chuyển (trong trường hợp là tài sản) ra nước
ngoài. Ví dụ, khi khách du lịch của Trung Quốc tới Việt Nam mua sắm, họ đã di
chuyển ra ngoài lãnh thổ nước họ, tới Việt Nam để tiêu dùng dịch vụ phân phối tại
Việt Nam.
Phương thức 3 – Hiện diện thương mại (Commercial presence) là phương
thức mà theo đó nhà cung cấp dịch vụ phân phối của một nước thành viên thành lập
chi nhánh hoặc công ty con, công ty liên doanh, văn phòng đại diện,… trên lãnh thổ
của một nước thành viên khác nhằm cung cấp dịch vụ phân phối của mình. Ví dụ,
tập đoàn Metro Cash & Carry của Đức đầu tư thành lập công ty TNHH Metro Cash
& Carry Việt Nam để trực tiếp cung cấp dịch vụ siêu thị bán buôn bán lẻ tại thị
trường Việt Nam.
Phương thức 4 – Hiện diện thể nhân (Movement of natural persons) là
phương thức mà theo đó dịch vụ phân phối được cung cấp bởi một cá nhân, hoạt
động riêng rẽ hoặc với tư cách là một người làm thuê cho nhà cung cấp dịch vụ
13
phân phối của một nước thành viên, hiện diện trên lãnh thổ của một nước thành viên
khác để cung cấp dịch vụ phân phối. Ví dụ, khi nhân viên của một công ty có trụ sở
tại Mỹ tới Việt Nam để trực tiếp chào bán sản phẩm xe hơi của công ty mình với
các khách hàng Việt Nam có tiềm năng thì họ đang cung cấp dịch vụ bán lẻ trực
tiếp cho công ty mình bằng cách di chuyển từ Mỹ vào Việt Nam để thực hiện
nghiệp vụ.
Với mục tiêu tạo dựng một môi trường thương mại tự do và công bằng cho
các nước thành viên, WTO đã sớm đưa ra hiệp định chung về thương mại dịch vụ
(General Agreement on Trade in Services - GATS) như một bước phát huy và tiếp
nối những tác động tích cực của hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(General Agreement on Trade in Services - GATT). Tính đến thời điểm này, GATS
1995 là văn phòng pháp lí của WTO qui định về lĩnh vực dịch vụ với những mục
tiêu rõ ràng là: tạo dựng một khuôn khổ pháp lí đáng tin cậy về thương mại quốc tế;
đảm bảo sự ứng xử công bằng và hợp lí giữa các thành viên (nguyên tắc không phân
xử Tối huệ quốc theo Điều II”. Những trường hợp được liệt kê trong “Danh mục
Miễn trừ đối xử Tối huệ quốc theo điều II” riêng của từng thành viên sẽ được rà
soát trong vòng 5 năm và không áp dụng quá 10 năm kể từ ngày hiệp định WTO có
hiệu lực. Bên cạnh đó, trong mọi trường hợp, các ngoại lệ này phải được đàm phán
tại các vòng đàm phán tiếp theo về tự do hoá thương mại để đảm bảo đạt mức độ tự
do hoá ngành phân phối tốt nhất có thể sau mỗi vòng đàm phán. Như vậy, về bản
chất, “Danh mục Miễn trừ đối xử Tối huệ quốc theo điều II” là một danh mục
những trường hợp của dịnh vụ phân phối tạm thời chưa chịu sự điều chỉnh của
nguyên tắc MFN hay là danh mục trì hoãn áp dụng nguyên tắc MFN.
Ngoài ra, theo GATS thì hoạt động thương mại dịnh vụ, bao gồm cả phân
phối, trong phạm vi vùng biên giới giữa các nước lân cận vẫn được hưởng những ưu
đãi và lợi thế đặc biệt mà không bị coi là vi phạm nguyên tắc MFN. Qui định này
tạo nên tính linh hoạt cần thiết trong bối cảnh tự do hoá thương mại dịch vụ nói
chung và lĩnh vực phân phối nói riêng hiện đang nở rộ trên toàn thế giới. Một quốc
gia năng động ngày nay thường tham gia cùng một lúc nhiều tổ chức kinh tế, khu
vực mậu dịch tự do hay các hiệp định song và đa phương. Trong đó, một trong số
các xu hướng có ảnh hưởng lớn nhất hiện nay là các khu vực mậu dịch tự do theo
15
địa lý, hướng tới mô hình liên minh châu Âu (European Union - EU). Do vậy,
quyền áp dụng nhưng ưu đãi đặc biệt cho các nước lân cận chung biên giới vừa tạo
điều kiện cho một quốc gia tận dụng những lợi thế thương mại của mình, vừa đáp
ứng xu hướng tất yếu về thắt chặt liên kết chính trị trong dài hạn.
* Các qui định về NT và yêu cầu đối với với các thành viên.
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Teantment - NT) được qui định trong
điều 17 thuộc Phần III của GATS. Theo đó, dựa theo những cam kết cụ thể về lĩnh
vực phân phối trong biểu cam kết của mỗi nước, mỗi thành viên phải dành cho dịch
vụ phân phối và người cung cấp dịch vụ phân phối của bất kì thành viên nào khác
sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụ
phân phối và nhà cung cấp dịch vụ phân phối của mình. Dễ thấy, cùng được xây
dựng trên nguyên tắc không phân biệt đối xử, nếu qui định tại Điều II về MFN giúp
có yêu cầu. Nếu có sửa đổi hay ban hành các luật, quy chế hoặc hướng dẫn hành
chính có tác động cơ bản tới hoạt động của dịch vụ phân phối, các thành viên phải
thông báo khẩn trương và ít nhất mỗi năm một lần cho Hội đồng thương mại dịch
vụ của WTO. Tuy nhiên, GATS không yêu cầu các thành viên phải cung cấp các
thông tin bí mật mà nếu tiết lộ sẽ gây ra khó khăn cho việc thi hành luật, hoặc mâu
thuẫn với lợi ích công cộng, hoặc phương hại tới quyền lợi thương mại hợp pháp
của một doanh nghiệp cụ thể. Bên cạnh đó, các nước thành viên cũng không được
phép áp dụng những yêu cầu về chuyên môn, về chất lượng dịch vụ phân phối, về
giấy phép, về tiêu chuẩn kỹ thuật quá cao hay đưa ra những qui định hành chính có
nguy cơ vô hiệu hoá hay bóp méo việc thực hiện các cam kết WTO về mở cửa dịch
vụ phân phối.
- Nguyên tắc công nhận lẫn nhau: GATS đưa ra nguyên tắc công nhận lẫn
nhau nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử trên thực tế với dịch vụ phân phối và người
cung cấp dịch vụ phân phối của nước ngoài. Theo đó các thành viên được khuyến
khích công nhận các thủ tục của nhau liên quan tới giáo dục, đào tạo, cấp giấy phép
và các thủ tục cần thiết khác để cấp phép cung cấp dịch vụ phân phối trên thị
trường. Bên cạnh đó, các nước thành viên cần phải tạo cơ hội ngang bằng cho bất
cứ một nước thành viên nào khác trong việc đàm phán gia nhập các thoả thuận hoặc
hiệp định mà thành viên đó đã ký kết với một nước thành viên khác. Các biện pháp
17
công nhận hiện thời của các nước thành viên cũng cần được thông báo cho Hội
đồng thương mại dịch vụ của WTO và chỉ rõ đó là các biện pháp công nhận dựa
trên thoả thuận hay tự động. Đồng thời, GATS còn khuyến khích các thành viên
tuân thủ các chuẩn mực đã được tổ chức chuyên môn quốc tế thừa nhận và việc
công nhận lẫn nhau phải dựa trên những tiêu chí đã được chấp thuận rộng rãi trên
phạm vi quốc tế.
- Nguyên tắc tự do hoá từng bước dịch vụ phân phối: Đây là kết quả cuộc
đấu tranh của các nước thành viên kém phát triển tại vòng đàm phán Uruguay xuất
phát từ sự không đồng nhất về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và trình
độ phát triển ngành dịch vụ phân phối nói riêng của các Thành viên. Từ thực tế đó,
này cũng đuợc áp dụng với dịch vụ phân phối. Nếu một nước thành viên cho phép
độc quyền hay đặc quyền dịch vụ phân phối, nhưng phải đảm bảo phù hợp với danh
mục cam kết của nước đó, thì phải thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ của
WTO chậm nhất là ba tháng trước khi dự kiến thực hiện việc cho phép độc quyền
hay đặc quyền. Trong trường hợp này, thành viên đó phải tiến hành những điều
chỉnh có tính bù đắp, phù hợp với những qui định thông thường về sửa đổi hoặc rút
cam kết. Nước thành viên cho phép độc quyền có nghĩa vụ cung cấp cho các thành
viên khác những thông tin cần thiết liên quan đến độc quyền để các thành viên khác
đánh giá được mức độ ảnh hưởng của độc quyền tới các nhà cung cấp dịch vụ phân
phối của họ trên thị trường của nước có độc quyền.
- Nguyên tắc đối xử đặc biệt dành cho các nước thành viên đang phát
triển và /hoặc trong quá trình chuyển đổi: theo qui định của GATS, các nước
thành viên đang phát triển được hưởng nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt. Thứ
nhất, những cam kết gia nhập WTO của các nước đang phát triển phải đảm bảo cho
các nước này có thể tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ phân phối
trong nước, đồng thời, các nước phát triển sẽ tạo điều kiện để các thành viên kém
phát triển tiếp cận hệ thống thông tin và các kênh phân phối thuận lợi cho phát triển
ngành dịch vụ phân phối. Thứ hai, các nước đang phát triển được áp dụng phương
pháp “chọn – cho” (tức là mở cửa lĩnh vực nào thì liệt kê lĩnh vực đó trong danh
mục cam kết về dịch vụ), thuận lợi hơn so với phương pháp “chọn - bỏ” (tức là
không mở cửa lĩnh vực nào thì liệt kê lĩnh vực đó trong danh mục cam kết về dịch
vụ, các lĩnh vực còn lại đều phải mở cửa) mà các nước phát triển phải áp dụng. Hơn
nữa, các nước đang phát triển còn được hưởng những linh hoạt thích đáng trong
19
đàm phán và thực hiện các cam kết đối với thị trường dịch vụ phân phối. Thứ ba,
trong thời hạn hai năm kể từ ngày các Hiệp định WTO có hiệu lực, các nước thành
viên phát triển và các thành viên khác sẽ lập những điểm liên lạc để tạo điều kiện
cho những người cung cấp dịch vụ phân phối của các nước thành viên đang phát
triển tiếp cận với thông tin về thị trường.
1.2. Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối
Khái niệm NQTM của Hiệp hội NQTM quốc tế (International Frachise
Association – IFA) lại nhấn mạnh tính liên tục của mối quan hệ trong NQTM:
NQTM là mối quan hệ liên tục trong đó bên bán franchise cấp cho bên mua
franchise quyền được kinh doanh (sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp), cộng với
những hỗ trợ về tổ chức, đào tạo, cách thức kinh doanh, quản lý, đổi lại nhận được
một khoản tiền nhất định từ bên mua
7
.
Theo quan điểm này, “mối quan hệ liên tục” thể hiện đặc thù của phương
thức kinh doanh NQTM: quan hệ giữa người mua và người bán NQTM không chấm
dứt sau khi hợp đồng nhượng quyền được ký kết mà liên tục được duy trì trong suốt
quá trình hoạt động của các đơn vị nhận quyền và chỉ chấm dứt cho đến khi hết thời
hạn qui định trong hợp đồng. Nói cách khác, hợp đồng nhượng quyền không phải
mua đứt bán đoạn mà là sự khởi đầu của mối quan hệ hợp tác giữa hai chủ thể độc
lập dựa trên sự tồn tại và phát triển kinh doanh.
Như vậy, theo các cách hiểu khác nhau về NQTM nêu trên, có thể phân chia
NQTM thành hai hình thức là nhượng quyền thương hiệu (nhượng quyền phân phối
sản phẩm) và nhượng quyền hệ thống (nhượng quyền sử dụng công thức kinh
doanh). Trong nhượng quyền thương hiệu, bên nhận quyền thường không nhận
được sự hỗ trợ đáng kể nào từ bên nhượng quyền ngoại trừ được phép sử dụng tên
nhãn hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm hay dịch vụ của bên
nhượng quyền trong một phạm vi khu vực và thời gian nhất định. Điều này có nghĩa
là bên nhận quyền sẽ quản lý điều hành hệ thống kinh doanh của mình khá độc lập,
ít bị ràng buộc bởi những qui định từ bên nhượng quyền. Bên nhận quyền trong
trường hợp này có thể cải biến cung cách phục vụ và kinh doanh theo ý mình. Hình
thức nhượng quyền này tương tự như cấp phép kinh doanh (licensing) mà trong đó
bên nhượng quyền chủ yếu quan tâm đến việc phân phối sản phẩm của mình chứ
không mấy quan tâm đến hoạt động hàng ngày hay tiêu chuẩn của hệ thống kinh
doanh của bên nhận quyền. Do đó, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên
6