Khai thác kết cấu, tính năng kỹ thuật và quy trình kiểm tra, chẩn đoán sửa chữa máy phát –máy đề trên xe huyndai i30 - Pdf 23

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 4
Chương I: TỔNG QUAN CHUNG MÁY PHÁT MÁY ĐỀ TRÊN ÔTÔ 5
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 5
1.2. Giới thiệu chung về dòng xe Hyundai i30 2010 10
1.3. Hệ thống khởi động trên ôtô. 12
1.3.1. Chức năng, phân loại và yêu cầu của hệ thống khởi động trên ô tô 12
1.3.2. Nguyên lý hoạt động của hệ thống khởi động 16
1.4. Máy phát trên ôtô 30
1.4.1. Chức năng và yêu cầu của hệ thống máy phát trên ôtô 30
1.4.2. Cấu tạo của hệ thống máy phát 30
Chương II: HỆ THỐNG KHỞI ĐỘNG – MÁY PHÁT TRÊN DÒNG XE HYUNDAI
I30 2010 39
2.1 Máy đề 39
2.1.1 Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của máy đề 39
2.1.2 Thông số kỹ thuật của máy đề 40
2.1.3. Quy trình kiểm tra – Sửa chữa hệ thống khởi động 40
2.2. Máy phát 60
2.2.1. Cấu tạo của máy phát điện 60
2.2.2. Thông số kỹ thuật của hệ thống nạp 61
2.2.3. Quy trình kiểm tra – Sửa chữa hệ thống máy phát 62
2.3. Kiểm tra – chẩn đoán hệ thống bằng thiết bị chuyên dụng 74
2.3.1. Kiểm tra – Chẩn đoán điện áp của hệ thống 74
2.3.2. Kiểm tra – Chẩn đoán điện áp nạp của hệ thống 79
2.3.3. Phát hiện lỗi cảm biến ắc quy bởi ECU 82
2.3.4. Kiểm tra – Chẩn đoán bugi sấy 84
2.3.5. Kiểm tra – Chẩn đoán bằng thiết bị kiểm tra MCR-570. 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

Em xin trân trọng cảm ơn!
Hưng Yên, ngày: ……/……/2013
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thanh Sơn
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Chú giải
A/T
(Automatic transmission)
Hộp số tự động.
CAN
( Controller Area Network)
Hệ thống truyền dữ liệu điện tử
CCA Bộ điều hợp truyền thông chung.
CCP Chương trình điều khiển lệnh.
DTC
(Diagnostic trouble code)
Mã chẩn đoán hư hỏng.
DLC
(Data link connector)
Giắc cắm kết nối dữ liệu.
ECM
(Engine control module)
Mô đun điều khiển động cơ (Hộp đen).
ECTS
(Engine coolant temperaturesensor)
Cảm biến nhiệt độ nước làm mát.
EGR
(Exhaust gas recirculation)
Van luân hồi khí xả.

hợp tác với Ford Motor Company cho ra đời model đầu tiên của công ty là Cortina.
Pony, chiếc xe Hàn Quốc đầu tiên xuất xưởng vào năm 1975, được thiết kế bởi
Giorgio Giugiaro theo phong cách Ý, với công nghệ dẫn động do Mitsubishi Motors
cung cấp. Những năm sau đó, sản phẩm của Hyndai được xuất khẩu sang Ecuado và
nhanh chóng tiếp cận thị trường các nước Benelux(Belgium, Netherlands,
và Luxembourg) . Năm 1991, Hyundai đã mở đường độc quyền công nghệ cho mình
khi phát triển thành công động cơ xăng, I4 Alpha và có hộp truyền động.
Hình 1. 2. Logo mà Hyundai gắn trên Genesis.
5
Đến năm 1986, xe của Hyundai bắt đầu được bán tại Mỹ như một thương hiệu
toàn cầu. Một năm sau, Chung Ju Yung quyết định trao quyền lãnh đạo Hyndai Motor
cho con trai mình là Chung Mong Koo. Hyundai Motor Group, công ty mẹ của
Hyundai đã đầu tư rất nhiều vào việc phát triển chất lượng, mẫu mã, tăng cường sản
xuất và nghiên cứu dài hạn cho ngành ôtô nói riêng. Tập đoàn đã tăng thời gian bảo
hành lên tới 10 năm hay 160.000 km đối với xe bán tại Mỹ, đồng thời phát động chiến
dịch marketing quy mô lớn.
Hình 1.3: Hyundai Sonata 2008
Trong cuộc khảo sát về chất lượng xe hơi của tổ chức J.D. Power and
Associates năm 2004, Hyundai đã vượt qua nhiều đối thủ tiếng tăm và giữ vị trí thứ 2.
Hiện nay Hyundai nằm trong top 100 thương hiệu ôtô lớn nhất thế giới. Từ năm 2002
Hyundai cũng là một trong những nhà tài trợ chính thức cho giải World Cup của FIFA.
Năm 2006, chính phủ Hàn Quốc đã mở cuộc điều tra về những hoạt động của Chủ tịch
Chung Mong Koo và phát hiện ông đã có hành vi tham ô. Kết quả, ngày 28/4/2006
ông Chung bị bắt giữ vì đã biển thủ 100 tỉ won (tương đương với 106 triệu đô) và ông
Kim Dong-jin được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành công ty.
Sự xuất hiện của model midsize SUV Santa Fe năm 2007 đã đem đến cho
Hyundai thành công vang dội và giành giải thưởng “2007 Top Safety Pick” của IIHS.
6
Hình 1.4: Hyundai SantaFe 2007
Hàn Quốc do tham vọng mở rộng thị trường cũng như ảnh hưởng của cuộc

khai sinh ra phân khúc i-series của Hyundai, sau đó là sự suất hiện lần lượt của i10,
i20 và mới nhất là i40 tất cả đều là những mẫu Hatchback,toàn bộ gia đình i-series của
Hyundai đều sử hữu thiết kế “điêu khắc dòng chảy” (fluidic sculpture). Ấn tượng đầu
tên với ngoại thất Xe Hyundai i30 gợi nhớ đến “người anh em” Kia Cee’d. Với chiều
rộng 1.775 mm và cao 1.480 mm cùng thiết kế đèn trước và lưới tản nhiệt góc cạnh
giúp cho i30 khá “hoành tráng” khi nhìn trực diện.
Hình 1.7: Hyundai i30
Có thể nói, i30 là mẫu xe cỡ nhỏ đầu tiên của gia đình Hyundai được trang bị
túi khí đầu gối cho người lái, đèn pha thích ứng, cụm đồng hồ với màn hình TFT LCD
độ phân giải lớn và phanh đỗ xe điều khiển điện. Bên cạnh đó là một số tùy chọn khác
như cửa sổ trời Panorama, hệ thống định vị tích hợp với màn hình màu 7 inch và
camera chiếu hậu.

10
Hình 1.8: Nội thất xe hyundai i30
Bên trong xe, Hyundai i30 mới vẫn tuân thủ ngôn ngữ thiết kế dòng chảy, với
các dải inox tạo hình chạy dài trên tableau, bảng điều khiển và từng cánh cửa. Đó là
chưa kể các chi tiết nhỏ cũng được trau chuốt, như viền mặt đồng hồ chính, nẹp hai
bên tay lái và cả các đường nẹp cửa sổ… Xe được trang bị hệ thống điều hòa tự động
hai vùng, cửa gió phía sau cùng bộ lọc khí i-on. Nội thất ghế da có khả năng gập linh
hoạt giúp mở rộng khoang hành lý, ghế lái điều chỉnh điện, vô-lăng điều chỉnh đa
hướng, cảm biến mưa, hệ thống âm thanh 6 loa với có các phím điều khiển âm thanh
tích hợp trên vô-lăng.
Bố trí bảng điều khiển chính được tô điểm bằng các đường nẹp bằng inox. Xe
Hyundai i30 có hệ thống điều hòa hai vùng độc lập, hộp số tự động 6 cấp, cùng hệ
thống phanh đĩa cho cả bốn bánh, có hỗ trợ chức năng chống bó cứng phanh (ABS).
Bảng thông số kỹ thuật:
Kích thước tổng thế (DxRxC)(mm) 4.330 x 1.780 x 1.480
Chiều dài cơ sở (mm) 2.650
Công suất cực đại(ml/v.ph) 130/6.300

Bánh răng giảm tốc được gắn trên một vài trục như bánh răng chủ động.
Và khác với bộ khởi động thông thường, công tắc từ đẩy trực tiếp bánh răng chủ động
(không qua cần dẫn động) tới ăn khớp với vòng răng bánh đà.
Động cơ điện nhỏ gọn với tốc độ cao được sử dụng để quay hộp số giảm tốc, như
vậy sẽ làm tăng momen khởi động.
Công tắc từ chỉ để đẩy bánh răng bendix gây ra.
+ Loại bánh răng đồng trục.
13
Hình 1.12: Loại bánh răng đồng trục.
Motor khởi động thông thường bao gồm các thành phần được chỉ rõ hình vẽ. Bánh
răng chủ động trên trục của phần ứng động cơ và quay cùng tốc độ. Một lõi hút trong
công tắc từ (solenoid) được nối với nạng gài. Khi kích hoạt nam châm điện thì nạng
gài sẽ đẩy bánh răng chủ động khớp với vành răng bánh đà.
Khi động cơ bắt đầu khởi động khớp ly hợp một chiều ngắt nối bánh răng chủ
động ngăn cản mô men động cơ làm hỏng motor khởi động.
Công suất đầu ra là 0.8, 0.9 và 1KW. Trong hầu hết trường hợp thay thế bộ khởi
động cho motor cũ bằng motor có bánh răng giảm tốc.
Bánh răng dendix được lắp ở cuối của trục rotor.
Lực của công tắc từ đẩy bánh răng bendix nhờ đòn dẫn hướng.
Sử dụng chủ yếu trên xe nhỏ.
+ Loại bánh răng hành tinh.
Hình 1.13: Loại bánh răng hành tinh.
14
Bánh răng hành tinh cũng dùng để giảm tốc nhằm tăng momen quay.
Trục rotor sẽ truyền lực qua bánh răng hành tinh đến bánh răng bendix. Nhờ trọng
lượng nhỏ, momen lớn, ít tiếng ồn. Nên được sử dụng ở nhiều loại xe nhỏ đến trung
bình.
 Yêu cầu
Do tính chất, đặc điểm và chức năng nhiệm vụ của hệ thống khởi động như đã
trình bày ở trên, những yêu cầu kỹ thuật đối với hệ thống khởi động điện bao gồm:

min
=(80-120) vòng/ phút đối với động cơ diezen.
M
c
– mômen cản trung bình của động cơ ôtô trong quá trình khởi động, N.m.
Mômen cản khởi động của động cơ ôtô bao gồm cản do lực ma sát của các chi tiết
có truyền động tương đối so với động cơ ôtô khi khởi động gây ra mômen cản khí nén
hỗn hợp công tác trong xilanh của động cơ ôtô, trị số của M
c
phụ thuộc vào loại động
cơ, số lượng xilanh có trong động cơ và nhiệt độ động cơ khi khởi động.
15
1.3.2. Nguyên lý hoạt động của hệ thống khởi động.
a. Nguyên lý tạo ra mômen.
Đường sức từ sinh ra giữa cực bắc và cực nam của nam châm. Nó đi từ cực bắc
đến cực nam. Khi đặt một nam châm khác ở giữa hai cực từ, sự hút và đẩy của hai nam
châm làm cho nam châm đặt giữa quay xung quanh tâm của nó. (Hình 1.14)
Hình 1.14: Khung dây trong từ trường. Hình 1.15: Chiều của đường sức từ.
Mỗi đường sức từ không thể cắt ngang qua đường sức từ khác. Nó dường như
trở nên ngắn hơn và cố đẩy những đường sức từ gần nó ra xa. Đó là nguyên nhân làm
cho nam châm ở giữa quay theo chiều kim đồng hồ. Trong động cơ thực tế, phần giữa
là khung dây. Giả sử, chúng ta có một khung dây quấn như trên (Hình 1.15). Khi dòng
điện chạy xuyên qua khung dây, từ thông sẽ xuyên qua khung dây. Chiều của đường
sức từ sinh ra trên khung dây được xác định bằng qui tắc vặn nút chai. Khi chiều của
từ trường trùng nhau, đường sức từ trở nên mạnh hơn (dày hơn). Khi chiều của từ
trường đối ngược, thì đường sức từ trở nên yếu đi (thưa hơn). Bản chất của đường sức
từ thường trở nên ngắn đi và cố đẩy những đường sức từ khác ra xa nó tạo ra lực. Lực
sinh ra trên khung dây cung cấp năng lượng làm quay động cơ điện.
Hình 1.16: Lực từ sinh ra trên khung dây.
Đặt hai đầu khung dây lên điểm tựa để nó có thể quay. Tuy nhiên, nó chỉ có thể

- Loại mắc nối tiếp: Mômen phát ra lớn nhất khi bắt đầu quay, được dùng chủ yếu
trong máy đề.
- Loại mắc song song: Ít dao động về tốc độ, giống như loại dùng nam châm vĩnh
cửu.
- Loại mắc hỗn hợp: Có cả đặc điểm của hai loại trên, thường dùng để khởi động
loại động cơ lớn.
18
Hình 1.20: Các kiểu đấu dây.
c. Cấu tạo và nguyên lí làm việc của máy đề.
• Cấu tạo máy đề.
Máy đề bao gồm 3 phần chính:
- Động cơ khởi động: Truyền cho trục khuỷu số vòng quay tối thiểu để động cơ có
thể khởi động nhẹ nhàng và êm dịu.
- Công tắc từ: Đóng ngắt tiếp điểm.
- Khớp truyền động.
+ Truyền mô men của máy đề đến bánh đà động cơ để quay động cơ ôtô.
+ Bảo vệ máy đề bằng cách tách bánh răng máy đề ra khỏi bánh đà ngay sau
khi động cơ đã khởi động.
1. Vỏ khớp truyền động.
2. Bánh răng khớp truyền động.
3. Rơle điện từ.
4. Vít điều chỉnh tiếp điểm Rơle điện từ.
5. Trục.
6. Chổi than tiếp điện.
7. Cổ góp điện.
8. Rôto.
9. Stato.
10. Vỏ.
11. Ly hợp từ.
12. Lò xo.

Công suất điện từ của động cơ điện khởi động được tính theo công thức sau:
Trong đó :
- P2: Công suất cơ cần thiết để khởi động động cơ ôtô (W).
- : Hiệu suất của động cơ điện khởi động. Trị số này thường lấy bằng (0,85-0,88).
* Công tắc từ ( Rơle gài khớp).
Rơle kéo có hai cuộn dây: Cuộn
dây hút W
h
và cuộn dây giữ tác
động và cặp tiếp điểm đóng, lúc này
cả hai cuộn dây trên đều có dòng
điện chảy qua, từ thông sinh ra
trong hai cuộn dây đó tác dụng cùng
chiều và có tác dụng hút lõi thép .
Hình 1.23: Công tắc từ.
Lúc này đĩa tiếp xúc bằng đồng chưa nối các tiếp điểm cho nên phần ứng và cuộn
dây kích từ W
KT
được đấu với ắc quy thông qua cuộn dây hút W
h
. Vì vậy trị số điện áp
đặt lên động cơ không lớn sẽ làm cho trục động cơ xoay đi một góc nhỏ tạo điều kiện
20
cho bánh răng khởi động cơ thể tự lựa tốt hơn trong quá trình đi vào ăn khớp với vành
bánh răng bánh đà. Khi tiếp điểm chính đóng, cuộn dây hút W
h
bị nối tắt, động cơ điện
khởi động được nối trực tiếp với ắc quy, điện áp đặt lên động cơ khởi động bằng trị số
định mức, làm cho qúa trình khởi động thực hiện được một cách dễ dàng. Khi khởi
động động cơ công tắc từ thực hiện theo 3 bước: Hút, Giữ, Hồi vị.

Hình 1.27: Bánh răng bendix và trục xoắn ốc.
Bánh răng bendix và trục xoắn ốc có các tác dụng như:
- Bánh răng bendix và trục xoắn ốc truyền mômen của máy khởi động cho động
cơ.
- Đưa bánh răng bendix ăn khớp với vòng răng bánh đà.
- Giúp bánh răng bendix vào khớp và ra khớp.
- Bánh răng bendix được vát mặt để dễ vào khớp với vòng răng bánh đà.
- Trục xoắn chuyền lực quay của động cơ điện thành lực đẩy bánh răng.
Tỉ số truyền của cặp bánh răng: Bánh răng của máy khởi động và vành bánh răng
bánh đà của động cơ ôtô thường chọn bằng (i = 9~18). Để tránh hiện tượng cắt chân
răng ở bánh răng của bánh răng này thường chọn từ 9 đến 11 răng. Để hạn chế kích
thước của vành răng bánh đà đối với một số động cơ điện khởi động công suất lớn
thường có thêm bộ truyền bánh răng trung gian. Bộ truyền này có thề là một cặp bánh
răng trụ hoặc bộ truyền bánh răng hành trình.
22
Khớp truyền động là cơ cấu truyền mômen từ động cơ điện của máy đề đến vành
bánh răng bánh đà của động cơ ôtô. Với tỷ số truyền trên bánh răng của máy đề phải
quay 10 hoặc 20 vòng để kéo vành bánh răng bánh đà quay được 1 vòng. Khi hoạt
động, tốc độ của rôto động cơ điện đạt trị số trong khoảng (2000÷3000) vòng/phút sẽ
kéo trục khuỷu của động cơ ôtô quay khoảng 200 vòng/phút đủ cho động cơ ôtô khởi
động được.
Sau khi động cơ đã nổ, số vòng quay độc lập của nó có thể lên đến (3000~4000)
vòng/phút. Nếu lúc này bánh răng của động cơ điện trong máy đề còn ăn khớp với
vành bánh răng bánh đà, rôto của động cơ điện trong máy đề sẽ bị cuốn theo với vận
tốc (3000~4000) vòng/ phút. Với tốc độ lớn như vậy, lực li tâm do nó tạo ra cực mạnh
sẽ làm bung tất cả dây quấn ra khỏi rãnh của rôto và phá hỏng cổ góp của động cơ điện
trong máy đề.
Khớp truyền động cơ trong máy đề có các nhiệm vụ sau:
+ Truyền mômen của máy đề làm quay vành bánh răng bánh đà động cơ ôtô.
+ Bảo vệ máy đề bằng cách tách rôto của động cơ điện khỏi động ra khỏi vành

máy đề.
Cả hai cuộn cùng tạo từ trường mạnh hút lõi thép qua phía phải áp đĩa tiếp diện
vào hai cọc bắt dây, điện áp ắc quy sẽ truyền qua đĩa tiếp điện cho máy khởi động làm
việc. Khi buông khóa điện hai cuộn dây hút và giữ mất từ trường, lõi thép và đĩa tiếp
điện được lò xo hồi vị kéo về vị trí ban đầu cắt mạch, máy khởi động dừng hoạt động.
Công dụng của cuộn kéo là tạo thêm từ trường đủ mạnh vào lúc đầu để đẩy bánh
răng khớp truyền động cài vào vành răng bánh đà, áp đĩa tiếp điện vào hai cọc bắt dây
sau đó nó ngắt dòng điện qua chính nó để tiết kiệm điện năng của ắc quy.
Khi đĩa tiếp điện đã áp vào hai cọc bắt dây, điện dương ắc quy đặt vào cả hai đầu
cuộn hút, nên không có dòng diện chạy qua cuộn này. Cuộn giữ tiếp tục tạo từ trường
duy trì đĩa tiếp điện áp vào cọc bắt dây đóng mạch cho máy đề tiếp tục quay.
Khi động cơ đã tự khởi động được, nhưng người lái xe chưa đưa khoá điện khỏi
nấc khởi động, nhờ có khớp truyền động một chiều mà mô men quay từ trục khuỷu
không truyền ngược vào rôto. Vì vậy, mặc dù lúc này bánh răng máy đề vẫn ăn khớp
với vành răng bánh đà nhưng tốc độ quay của trục khuỷu và tốc độ quay của rôto và
khác nhau, máy đề sẽ được bảo vệ an toàn.
Khi người lái tắt khoá điện, các cuộn dây hút, cuộn dây giữ của rơle khởi động sẽ
mất điện, nên lõi thép không được từ hoá, lò xo giãn ra trở về vị trí ban đầu mang theo
lõi thép tách các điểm ra. Đồng thời bánh răng máy đề, cùng với khớp truyền động
mộy chiều tách khỏi vành răng bánh đà.
 Ắc quy chì axit.
 Cấu tạo chung của ắc quy.
25

Trích đoạn Kiểm tra – Chẩn đoán bằng thiết bị kiểm tra MCR-570
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status