BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN THỊ HỒNG BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HUYỆN LỤC NGẠN - BẮC GIANG
TỪ 1986 - 2005 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ HỒNG BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HUYỆN LỤC NGẠN - BẮC GIANG
Sơn La, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hồng
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 1. CNXH (Chủ nghĩa xã hội)
2. HTX (Hợp tác xã )
3. UBND (Uỷ ban nhân dân)
4. CT/TW (Chỉ thị trung ương)
5. NXB (Nhà xuất bản)
2.1.2. Đường lối đổi mới của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Lục Ngạn 19
2.2. Sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Lục ngạn từ 1986 - 1995 20
2.2.1. Trong Nông - Lâm nghiệp 20
2.2.2. Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. 24
2.2.3. Thương mại, dịch vụ 25
2.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng 26
2.3. Tác động của sự phát triển kinh tế tới đời sống, văn hóa, xã hội của
nhân dân huyện Lục Ngạn 26
2.3.1. Về lao động - việc làm 26
2.3.2. Về văn hóa - giáo dục - y tế 28
2.3.3. Công tác xóa đói giảm nghèo 30
2.3.4. Vấn đề an ninh quốc phòng 31
CHƢƠNG 3. SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN LỤC NGẠN TỪ 1996 -
2005 33
3.1 Chủ trƣơng phát triển kinh tế - xã hội 1996 - 2005 33
3.2. Sự phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn 1996 - 2005 34
3.2.1. Trong nông nghiệp - lâm nghiệp 34
3.2.2. Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 37
3.2.3. Thương mại, dịch vụ 38
3.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng 39
3.3. Tác động của sự phát triển kinh tế tới đời sống, văn hóa, xã hội của
nhân dân huyện lục ngạn 40
3.3.1. Lao động - việc làm 40
3.3.2. Về văn hóa - giáo dục - y tế 43
3.3.3. Công tác xóa đói giảm nghèo……… ……………………………… ….45
3.3.4. Vấn đề an ninh quốc phòng 46
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Trung ương Đảng.
Đảng bộ và nhân dân Lục Ngạn đã cùng với cả nước đứng lên làm cuộc Cách
mạng tháng Tám thành công, tiến hành các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Phát
2
huy truyền thống yêu nước, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân
huyện Lục Ngạn đã tiếp nhận, vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng do
Đại hội VI tháng 12/1986 đề ra.
Trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, huyện Lục Ngạn đã
có những chuyển biến quan trọng về kinh tế. Sự chuyển biến đó khẳng định
đường lối đúng đắn của Đảng cũng như sự vận dụng đường lối một cách chủ
động, sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của huyện Lục Ngạn, nhằm thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của Lục Ngạn nói riêng và Bắc Giang
nói chung.
Mặc dù công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ở Lục Ngạn trong thời
kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng vẫn còn những hạn chế
cần phát huy được tiếp tục tổng kết rút ra kinh nghiệm, nhằm đưa ra những giải
pháp thích hợp để phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế.
Trên cơ sở lí do đó, tôi quyết định chọn khóa luận “Bước đầu tìm hiểu sự
phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn - Bắc Giang từ 1986 - 2005” làm đề tài
nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Về khoa học:
+ Tái hiện lại một cách sinh động, chính xác bước phát triển kinh tế của
huyện Lục Ngạn từ 1986 đến 2005 cùng những thành tựu đạt được.
+ Làm rõ sự vận dụng sáng tạo chủ trương đường lối chính sách của Đảng
vào huyện lục ngạn, một huyện miền núi có nhiều thành phần dân tộc sinh sống,
kinh tế xã hội chậm phát triển, trình độ dân trí còn thấp.
+ Làm phong phú thêm tư tưởng đường lối đổi mới của Đảng.
Về thực tiễn:
+ Làm tài liệu tham khảo để giảng dạy lịch sử địa phương.
xã hội, văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
2.2. Các công trình nghiên cứu, luận văn, bài báo.
Năm 1996, Ban thường vụ Huyện ủy đã cho xuất bản cuốn lịch sử Đảng
bộ huyện Lục Ngạn. Cuốn sách này đã trình bày một cách cụ thể về quá trình ra
đời và lãnh đạo nhân dân đấu tranh trong sự nghiệp cách mạng của Đảng bộ
huyện Lục Ngạn cũng như quá trình phát triển kinh tế của huyện.
4
Các báo cáo hàng năm, báo cáo trong nhiệm kỳ đại hội về tình hình kinh
tế của huyện Lục Ngạn từ 1986 - 2005 của Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện
Lục Ngạn tổng kết tình hình kinh tế của huyện.
Phòng thống kê huyện Lục Ngạn 1986 - 2005 đã phản ánh kinh tế hàng
năm của huyện, nhưng nó chỉ mang tính chất thống kê.
Trên cơ sở những tài liệu đó, tôi nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá cao
những tài liệu này, chúng đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về quá trình phát triển
kinh tế của huyện Lục Ngạn. Tuy nhiên do mục đích và nhiệm vụ khác nhau nên
chưa có tài liệu nào nghiên cứu và trình bày một cách đầy đủ và hệ thống. Vì
vậy khóa luận này xin tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế
của huyện Lục Ngạn từ 1986 - 2005.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài
3.1.Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng mà khóa luận tập trung nghiên cứu là sự phát triển kinh tế của
huyện Lục Ngạn từ 1986 - 2005.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian: Đề tài giới hạn trong huyện Lục Ngạn của tỉnh Bắc
Giang địa giới hành chính gồm 29 xã và 1 thị trấn.
* Về thời gian: Tập trung tìm hiểu quá trình Đảng bộ và chính quyền
nhân dân huyện Lục Ngạn thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế
từ 1986 - 2005.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
đã dùng phương pháp lịch sử và phương pháp logic, nhằm tái hiện lại quá trình
phát triển kinh tế của huyện Lục Ngạn trong 20 năm thực hiện đường lối đổi
mới 1986 - 2005.
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp định lượng,
phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tổng hợp.
5. Bố cục của khóa luận
Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo. Nội dung
của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: khái quát tình hình huyện Lục Ngạn trước năm 1986
Chương 2: Sự phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn từ 1986 - 1995
Chương 3: sự phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn từ 1996 - 2005
6
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HUYỆN LỤC NGẠN
TRƢỚC NĂM 1986
1.1. Vài nét về huyện Lục Ngạn
1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình
Lục Ngạn là một huyện miền núi, nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Bắc
Giang có diện tích tự nhiên là 101.223,72 km
2
.
Phía Bắc giáp huyện Chi Lăng và Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn.
Phía Đông giáp huyện Sơn Động (Bắc Giang) và huyện Lộc Bình tỉnh
Lạng Sơn.
Phía Nam và phía Tây giáp huyện Lục Nam ( Bắc Giang).
Huyện Lục Ngạn là một bồn địa do hai dải núi lớn là Bảo Đài và Huyền
Đinh viền bọc mà thành. Chảy qua giữa bồn địa này theo hướng Đông - Tây là
sông Lục Nam (tên chữ là Minh Đức Giang). Sông Lục Nam hòa cùng núi rừng
triển, tiềm năng đất đai còn nhiều, có thể phát triển kinh tế rừng, chăn nuôi đại
gia súc và trồng cây ăn quả.
Địa hình vùng đồi thấp: Bao gồm 17 còn lại và 1 thị trấn gồm Thị trấn
Chũ, Biên sơn, Kiên Lao, Thanh Hải, Kiên Thành, Giáp Sơn, Biển Động, Tân
Hoa, Hồng Giang, Trù Hựu, Quý Sơn, Phượng Sơn, Mỹ An, Phì Điền, Đồng
Cốc, Nghĩa Hồ, Tân Quang, Nam Dương. Diện tích chiếm trên 40% diện tích
toàn huyện. Địa hình có độ chia cắt trung bình với độ cao trung bình từ 80 -
120m so với mực nước biển. Đất đai trong vùng phần lớn là đồi thoải, một số
nơi đất bị xói mòn, thường thiếu nguồn nước tưới cho cây trồng. Nhưng ở vùng
này đất đai lại thích hợp với trồng các cây ăn quả như: hồng, nhãn, vải thiều
1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất:
Lục Ngạn là huyện miền núi phía Đông Bắc tỉnh Bắc Giang, có tổng diện
tích đất tự nhiên là 101.223,72 ha. Lục Ngạn có 6 nhóm đất chính và 14 nhóm
đất phụ sau:
Nhóm đất phù sa sông suối có diện tích là 2.148,15 ha, chiếm 2,16% diện
tích đất điều tra. Trong nhóm đất này có tới 80% diện tích có thể trồng các cây
hoa màu và 20% diện tích đất có thể cấy 2 vụ lúa và 1 vụ màu.
8
Nhóm đất bùn lầy có diện tích 18,79 ha chiếm 0,02% diện tích đất điều
tra thổ nhưỡng phân bố ở vùng trũng, thường xuyên bị ngập úng. Số diện tích
này có thể cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản.
Nhóm đất Feralít vàng nhạt ở trên núi có độ cao từ 700 - 90 m so với
mực nước biển có diện tích là 1.728,72 ha chiếm 1,82% diện tích đất điều tra.
Nhóm đất này có độ dốc tương đối lớn, tầng dày từ 30 - 100 cm thích hợp với
phát triển cây lâm nghiệp, cần trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng.
Nhóm đất Feralít trên núi, ở độ cao từ 200 - 700 m so với mặt nước biển
có diện tích 23.154,73 ha, chiếm 24,4% diện tích đất điều tra, phân bố chủ yếu ở
vùng đồi cao, độ dốc lớn, thích hợp với việc phát triển lâm nghiệp
= 1 m
3
/s.
Ngoài sông Lục Nam, trên địa bàn huyện còn có nhiều suối nhỏ nằm rải
rác ở các xã vùng cao, hệ thống ao hồ chứa tương đối nhiều do kết quả hoạt
động tích cực của phong trào thuỷ lợi, đắp đập ngăn nước, cùng với hệ thống
sông suối đã cung cấp một lượng nước khá lớn đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời
sống của nhân dân.
Nguồn nước ngầm:
Hiện tại chưa được điều tra kỹ để đánh giá về trữ lượng nước ngầm
nhưng qua khảo sát sơ bộ các giếng ở một số vùng trong huyện cho thấy mực
nước ngầm nằm không quá sâu (khoảng 20 - 25 m), chất lượng nước khá tốt, có
thể khai thác dùng trong sinh hoạt của các điểm dân cư.
Nhìn chung nguồn nước trong huyện có trữ lượng và chất lượng tương đối
tốt, có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, do
đặc điểm lượng mưa thấp hơn các vùng khác trong tỉnh nên sản xuất nông
nghiệp cũng gặp không ít khó khăn gây ảnh hưởng lớn đến thời vụ sản xuất và
đời sống của nhân dân.
* Khí hậu:
Lục Ngạn nằm trọn trong vùng Đông Bắc Việt Nam nên chịu ảnh hưởng
của vùng nhiệt đới gió mùa, trong đó có tiểu vùng khí hậu mang nhiều nét đặc
trưng của vùng miền núi, có khí hậu tương tự các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên.
Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,5
0
C, vào tháng 6 cao nhất là 27,8
0
C, tháng 1 và
tháng 2 nhiệt độ thấp nhất là 18,8
0
C.
Lục Ngạn có 161.394 người, gồm 8 dân tộc (trong đó dân tộc Kinh chiếm 51%,
các dân tộc khác chiếm 49% như Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cao Lan, Dao,
Thái, Ê Đê và Hoa).
Năm 2005, toàn huyện có 202 làng bản được công nhận làng văn hoá và
có 27.226 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hoá. Nhân dân các dân tộc
trong huyện đang tích cực lao động sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp
với nền kinh tế thị trường, phát triển mạnh kinh tế vườn rừng, kinh tế trang trại
tạo nên những vườn cây đặc sản vải thiều, môi trường sinh thái đẹp và có sức
hấp dẫn du khách tham quan du lịch sinh thái. Lục Ngạn có khu di tích lịch sử
11
Đền Hả được xếp hạng cấp Quốc gia, một di tích xếp hạng cấp tỉnh đồng thời có
nhiều cảnh đẹp thiên nhiên nổi tiếng như hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần, hồ Làng
Thum có thể đầu tư xây dựng thành các khu nghỉ ngơi du lịch phục vụ nhân dân
trong huyện và các du khách trong và ngoài nước.
1.2. Tình hình kinh tế - xã hội huyện Lục Ngạn trƣớc năm 1986
1.2.1. Kinh tế
Mùa xuân năm 1975 đã đánh dấu một mốc son chói lọi trên tiến trình lịch
sử của dân tộc Việt Nam.Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, nước ta bước vào một thời kỳ mới - cả nước độc lập thống nhất cùng thực
hiện nhiệm vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Cùng với cả nước, Lục Ngạn bước vào thời kỳ khắc phục hậu quả của
chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế.
Bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, Lục Ngạn gặp rất nhiều
khó khăn do thiên tai, thiếu vật tư, tiền vốn nhất là chiến tranh biên giới đã thu
hút phần lớn nhân lực, vật lực phục vụ cho chiến tranh.
Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, Lục Ngạn đã đạt được kết quả bước đầu
trên mọi lĩnh vực, từng bước ổn định đời sống nhân dân, góp phần xây dựng đất
nước và bảo vệ tổ quốc.
hợp tác xã và chỉ đạo hợp tác xã thực hiện đúng tinh thần chỉ thị của Ban Bí thư.
Hợp tác xã chịu trách nhiệm 5 khâu: làm đất, phân bón, thủy lợi, giống, phòng trừ
sâu bệnh; xã viên chịu trách nhiệm 3 khâu: gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch.
Sau hơn 2 năm thực hiện chỉ thị 100/CT-TW, Huyện ủy nhận thấy quy mô
hợp tác xã như hiện tại không phù hợp, nên từ năm 1983 đã chỉ đạo chia 85 hợp
tác xã thành 112 hợp tác xã, trong đó có 4 hợp tác xã quy mô toàn xã, 50 hợp tác
xã quy mô thôn và 58 hợp tác xã theo khoảnh tre.
Trong kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, mặc dù thiên tai xảy ra liên tiếp, vật
tư, nhiên liệu cung cấp cho nông nghiệp thiếu, nhưng nhờ có chỉ thị 100/CT-
TW, sản xuất nông nghiệp của Lục Ngạn vẫn đạt được những kết quả khả quan.
Năm 1981, tổng diện tích gieo trồng đạt 98,2% kế hoạch, tổng sản lượng
lương thực đạt 107% kế hoạch. Những năm 1983, 1984 diện tích trồng trọt có bị
thu hẹp do một số đất chuyển sang trồng cây ăn quả và sử dụng các mục đích
13
khác, nhưng huyện đã lãnh đạo nhân dân khai hoang phục hóa, đồng thời chú ý
chỉ đạo thâm canh kết hợp với việc đưa các loại giống mới năng xuất cao vào
sản xuất. Do vậy, tổng sản lượng lương thực 2 năm 1983 - 1984 bình quân đạt
37.000 tấn, trong đó tỷ trọng màu trong lương thực chiếm 50%. Năm 1985, do
hạn hán, diện tích gieo trồng của huyện đạt 23.057 ha, giảm 4% so với kế hoạch,
nên tổng sản lượng lương thực giảm 1.000 tấn.[1,tr.141.142]
Trong các loại cây màu lương thực, cây sắn chiếm vị trí quan trọng cả về
diện tích và sản lượng, có năm diện tích lên 4.000 ha, với sản lượng 26.000 tấn.
Có thể nói thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy Lục Ngạn đã
đưa sắn lên đồi, vào rừng, đi đến Lục Ngạn ở đâu cũng có sắn. Trong cơ cấu bữa
ăn, sắn cũng chiếm tỷ trọng lớn trong khẩu phần lương thực.
Đối với cây công nghiệp, cây đậu tương có tốc độ phát triển nhanh nhất cả
về diện tích và sản lượng, từ 444 ha năm 1976 lên 2.900 ha năm 1980, sản lượng
từ 434 tấn năm 1976 lên 1.000 tấn năm 1980.
Trồng cây ăn quả bắt đầu phát triển mạnh ở Lục Ngạn từ năm 1982 sau
xanh đồi núi trọc bằng cả ba lực lượng: lâm trường, bộ đội và tập thể các hợp tác
xã ”.[1,Tr.144]
Ngành lâm nghiệp đã cùng nhân dân trồng được hàng chục vạn cây tre bao
quanh các đồi chống xói mòn, hạn chế lũ. Từ năm 1976 - 1980, toàn huyện đã
trồng được 10.873 ha rừng, trong đó có 5.034 ha thuộc quốc doanh, khai thác
5.764m
3
gỗ tròn và hàng triệu cây tre, nứa
Từ năm 198 - 1985, song song với công tác trồng rừng, công tác bảo vệ
rừng đã được ngành lâm nghiệp và các cấp đặc biệt chú ý. Ngành lâm nghiệp đã
tổ chức cho gần 10.000 lượt người học tập pháp lệnh bảo vệ rừng. Nhiều tổ bảo
vệ rừng được thành lập. Trên 80% diện tích rừng đã được bảo vệ. Trong 3 năm
1983 - 1985, trồng được 5.087 ha.Trong đó quốc doanh trồng 4.000 ha, nhân dân
trồng 1.087 ha.Việc khoanh nuôi và bảo vệ rừng đầu nguồn đã được coi trọng. Đến
1985, đã giao 18.697 ha đất rừng cho hợp tác xã.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành lâm nghiệp Lục Ngạn vẫn có
những yếu kém, số hợp tác xã kinh doanh nghề rừng có ít (40% số hợp tác xã,
trong đó chỉ có 20% kinh doanh có hiệu quả); việc tuyên truyền ý thức bảo vệ
rừng trong nhân dân còn yếu, diện tích rừng bị cháy năm 1984 tới 600 ha, việc
15
phá rừng làm nương rẫy, tình trạng khai thác và buôn bán lâm sản trái phép còn
diễn ra nhiều nơi.
* Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Lục Ngạn tuy còn nhỏ bé
nhưng đã góp phần đáng kể vào việc phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Giá
trị tổng sản lượng toàn ngành trong 5 năm 1976 - 1980 đạt 18.37 triệu đồng,
tăng gấp 2 lần so với thời kỳ 1971 - 1975. Năm 1981, giá trị tổng sản lượng đạt
3.23 triệu đồng, bằng 114% kế hoạch. Những năm 1983 - 1985, trong công
nghiệp quốc doanh và tiểu thủ công nghiệp được tăng cường về quy mô và năng
- 1986 có 25.150 em.Tăng 23% so với năm học 1975 - 1976. Chất lượng giảng
dạy và học tập từng bước được nâng lên, số lượng học sinh thi lên lớp năm học
1978 - 1979 đạt 98,7%; thi hết cấp III năm học 1978 - 1979 đỗ 91%. Những năm
1981-1985, số học sinh thi lên lớp và thi cuối cấp đỗ trung bình từ 80 - 85%.
Ngành học mầm non trong thời kỳ 1976 - 1980, hàng năm có trên 5.700
cháu theo học. Thời kỳ 1981-1985, ngành học mầm non giảm sút cả về số lớp và
số cháu do tác động của cơ chế khoán mới trong nông nghiệp.
Ngành bổ túc văn hóa tiếp tục duy trì hai hình thức: học tập trung và học
tại chức. Những năm 1976 - 1980, Lục Ngạn có 4 trường bổ túc văn hóa tập
trung với gần 400 học viên, các lớp mở tại các cơ sở có trên 1.200 học viên.
* Về văn hóa
Ngành văn hóa thông tin bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương,
tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Huyện có đội
chiếu bóng, hàng chục đội văn nghệ nghiệp dư, nhiều câu lạc bộ, thư viện và
hiệu sách nhân dân. Trong cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình
văn hóa mới, những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan ngày một giảm, đời sống tinh
thần của nhân dân được nâng lên.
* Về y tế
Ngành y tế không ngừng phát triển, thực hiện tốt việc chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe cho nhân dân với phương châm: phòng bệnh hơn chữa bệnh và trong
giáo dục nâng cao trách nhiệm của người thầy thuốc, lấy câu căn dặn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh “Thầy thuốc như mẹ hiền” làm phương châm và mục tiêu
phấn đấu của ngành y tế trong những năm 1976 - 1985 cũng như sau này. Kết
17
quả “trong 10 năm, ngành y tế huyện Lục Ngạn phát triển cả về số lượng cán bộ
và chất lượng điều trị. Tính đến năm 1985, huyện có 21 cơ sở điều trị gồm 12
trạm xá, 1 bệnh viện”. [8,tr.28]
* Về công tác an ninh quốc phòng
Năm 1979, để tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Đảng
biến động lớn. Đó là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật đã gây nên những tác động lớn, làm thay đổi mối quan hệ giữa các
nước, các nước tư bản như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật… kịp thời điều chỉnh cơ cấu
sản xuất hợp lý và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật, nên đã vượt qua
khủng hoảng và phát triển đi lên. Trong khi đó cuộc khủng hoảng toàn diện
vẫn tiếp tục diễn ra ở Liên Xô và các nước XHCN. Sự khủng hoảng ngày
càng trầm trọng đẫn đến sự sụp đổ của các nước XHCN Đông Âu và sự tan rã
của Liên Xô vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 gây tác động
tiêu cực đến tình hình nước ta.
Trong hơn một thập kỷ từ những năm 1975 đến năm 1986 trải qua hai
nhiệm kỳ Đại hội IV và V của Đảng, thực hiện chủ trương đường lối xây dựng
CNXH, nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng, đặt cơ sở
bước đầu cho sự nghiệp xây dựng và và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Điều đó được thể hiện trong toàn Đảng toàn dân vừa làm, vừa tìm tòi thử
nghiệm hướng đi mới. Song cách mạng Việt Nam không gặp ít những khó khăn
thách thức, sản xuất nông nghiệp đạt năng suất thấp, nạn kham hiếm lương thực
diễn ra triền miên. Sản xuất công nghiệp được nhà nước bao cấp nên luôn trong
tình trạng “ lãi giả, lỗ thật”. Đời sống nhân dân giảm sút nghiêm trọng. Sau thất
bại của đợt điểu chỉnh giá - lương tiền, đại đa số nhân dân không thể duy trì cách
làm, cách nghĩ như trước nữa. Đồng thời những cơ quan lãnh đạo của Đảng và
nhà nước cũng thấy rõ không thể tiếp tục duy trì những chủ trương, chính sách
không còn phù hợp với thực tế.
Đứng trước tình hình đó, đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với
nước ta, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế chung của thời đại với phương
châm “ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” Đại hội toàn quốc lần thứ