Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng tại công ty cổ phần dược phẩm cửu long - Pdf 23


CHƢƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Sự cần thiết để trở thành một nhà quản lý xuất sắc, đồng thời để tuyển chọn đội
ngũ nhân viên bán hàng thành thạo và làm việc có hiệu quả… Trong điều kiện cạnh tranh
gay gắt như hiện nay, nhiều công ty đã dần dần nhận thức được rằng bộ phận bán hàng
cần được đặt tại tâm điểm của sự chú ý. Đặc biệt ở các lĩnh vực mà nhu cầu người tiêu
dùng luôn thay đổi và chất lượng phải đi đầu về chăm sóc sức khỏe: y dược, nha khoa…,
thì việc quản lý bộ phận bán hàng hiệu quả cho phép tăng doanh thu và nâng cao giá trị
thương hiệu lên đáng kể. Ở đây, khả năng đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi của khách hàng
chính là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất. Các nhà quản trị bán hàng có quan hệ trực
tiếp với việc tăng doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Một nhà quản trị bán hàng không
chỉ dựa vào bản năng kinh nghiệm giới hạn về mặt quản lý là đủ, mà phải biết cách ứng
dụng kết quả nghiên cứu về quản trị bán hàng một cách hữu ích. Một công tác quản trị
bán hàng có hiệu quả không những sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến sự thành công của công ty
trong hiện tại mà cả tương lai trên thị trường.
Người tiêu dùng ngày nay đang trở nên khó tính hơn trong việc chọn lựa các sản
phẩm chăm sóc sức khỏe cho cuộc sống của họ, vì có rất nhiều sản phẩm cạnh tranh trên
thị trường, những nhân tố trên đây tạo nền tảng cho sự thay đổi hoạt động của bộ phận
bán hàng. Gánh nặng lớn nhất trong điều hành quy trình bán hàng ở một doanh nghiệp
nằm ở các cấp Quản lý bán hàng, các Giám sát kinh doanh, các vị trí quản lý khác, họ đại
diện cấp quản lý lãnh đạo quan trọng nhất trong toàn bộ cơ cấu kinh doanh của một công
ty, vì họ trực tiếp điều hành lực lượng bán hàng ngoài thị trường và chịu trách nhiệm khu
vực kinh doanh được giao phó.

Lấy số liệu 3 năm 2010 đến 2012 và 6 tháng đầu năm 2013
1.5 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Công tác Quản trị bán hàng tại Công ty Cổ Phần Dược Phẩm Cửu Long. CHƢƠNG 2

nhân viên bán hàng. Thiết kế chiến lược cho nhân viên bán hàng đến việc tuyển dụng,
huấn luyện và giám sát, đánh giá kết quả công việc của nhân viên bán hàng
(Lanscarter,Jobber,2003)
2.1.1.3 Vai trò của bán hàng
- Bán hàng là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp, nó ảnh
hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Công tác quản trị bán hàng có rất

nhiều vai trò đối với hoạt động thương mại của doanh nghiệp, nhưng chủ yếu hoạt đông
quản trị bán hàng có các vai trò cơ bản sau:
Bán hàng giúp hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nên nếu không có hoạt
động bán hàng thì nền sản xuất sẽ bị đình trệ, doanh nghiệp sản xuất ra không thể nào
tiêu thụ, người tiêu dùng có nhu cầu về sản phẩm thì không biết lấy từ đâu. Do đó nếu
không có bán hàng thì nền sản xuất chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế sẽ bị
suy thoái vì khủng hoảng cung cầu, xã hội vì thế không thể phát triển.
- Bán hàng giúp cho luân chuyển hàng hóa từ nơi dư thừa sang nơi có nhu cầu.
Theo quy luật cung cầu, những nơi dư thừa hàng hóa thì giá sẽ thấp, ngược lại những nơi
khan hiếm hàng hóa thì giá sẽ cao, do đó việc bán hàng ở những nơi thiếu hàng hóa sẽ
thu về lợi nhuận cao hơn những nơi hàng hóa dư thừa. Đây chính là động lực để doanh
nghiệp di chuyển hàng hóa từ những nơi dư thừa, giá thấp đến bán ở những nơi hàng hóa
khan hiếm, giá cao mong kiếm được lợi nhuận cao hơn. Do đó tình trạng khan hiếm hàng
hóa sẽ giảm dần cho đến khi không còn cảnh nơi thì khan hiếm, nơi thì dư thừa hàng hóa
nữa. Cho nên bán hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cân bằng nhu cầu xã
hội.
- Quản trị bán hàng giúp xây dựng một lực lượng bán hàng chuyên nghiệp

được khách hàng có thích hay không thích, chấp nhận hay không chấp nhận. Để biết
được điều này thì các doanh nghiệp cần phải tiến hành nghiên cứu thị trường, tìm hiểu xu
hướng tiêu dùng hiện tại cũng như nhu cầu của khách hàng để từ đó có được một chiến
lược, một kế hoạch bán hàng cụ thể và áp dụng vào thực tiễn. Có rất nhiều cách thức
khác nhau để triển khai hoạt động nghiên cứu thị trường nhưng phần lớn các công ty đều
kết hợp một vài phương pháp trong 5 phương pháp cơ bản.
- Điều tra và khảo sát: Dựa vào bảng câu hỏi điều tra thông tin và thẳng thắn,
doanh nghiệp có thể phân tích một nhóm khách hàng mẫu đại diện cho thị trường mục
tiêu. Quy mô nhóm khách hàng mẫu càng lớn bao nhiêu, thì kết quả thu được càng sát
thực và đáng tin cậy bấy nhiêu.
- Nhóm trọng điểm: Trong các nhóm trọng điểm, người điều phối sẽ sử dụng một
chuỗi các câu hỏi được soạn sẳn hay các chủ đề để dẫn dắt cuộc thảo luận của một nhóm
người. Hoạt động này được diễn ra tại các địa điểm trung lập, thường đi kèm theo các
thiết bị video và phòng quan sát với các tấm gương. Mỗi cuộc thảo luận như thế thường
được kéo dài 1-2 giờ và phải khảo sát ít nhất 3 nhóm kết quả mới đáng tin cậy.
- Phỏng vấn cá nhân: Cũng như các nhóm trọng điểm, phỏng vấn cá nhân bao
gồm nhiều câu hỏi mở và không có cấu trúc nhất định. Các cuộc phỏng vấn này thường
được kéo dài trong khoảng 1 giờ đồng hồ và được ghi âm. Phỏng vấn cá nhân đồi hỏi
doanh nghiệp phải có một lực lượng phỏng vấn viên có kỹ năng tiếp thị giỏi. Tùy theo dự
án nghiên cứu mà phỏng vấn viên phải đáp ứng được những đòi hỏi khác nhau.
- Quan sát: Dựa vào việc quan sát doanh nghiệp sẽ có được cách thức sử dụng sản
phẩm cũng như những thói quen tiêu dùng, những xu hướng tiêu dùng được ưa chuộng
của khách hàng.
- Thử nghiệm: Việc đặt những sản phẩm mới vào một vài cửa hàng để thử phản
ứng của khách hàng trong các điều kiện bán hàng thực tế có thể giúp các doanh nghiệp
chỉnh sửa và hoàn thiện sản phẩm, điều chỉnh lại giá cả hay cải tiến chất lượng tốt hơn.
Các doanh nghiệp nhỏ nên cố gắng xây dựng mối quan hệ với các chủ cửa hàng bán lẻ
địa phương và các trang web mua sắm để có thể đưa sản phẩm mới của họ mới thử
nghiệm ra thị trường
2.1.2.3 Lập chính sách phục vụ cho việc bán hàng

thực hiện trong cửa hàng, quảng cáo ngoài cửa hàng, quảng cáo trên bao bì hàng hoá và
trên các phương tiện truyền thông …
- Bán hàng nhờ sự hỗ trợ: Thông qua các phương tiện truyền thông như báo, web,
tivi Để người tiêu dùng biết về sản phẩm và dịch vụ của công ty.
- Bán hàng theo cách tự chọn: Khách hàng đến cửa hàng và tự chọn sản phẩm hay
dịch vụ phù hợp với nhu cầu và sở thích của họ. Người bán hàng chỉ ngồi tại quầy để tính
tiền và thu tiền.
- Bán hàng theo cách tự phục vụ: Theo phương pháp này thì khách hàng được tận
mắt nhìn, được tiếp xúc với hàng hoá, trên hàng hoá có ghi sẵn giá tiền. Khách hàng tự
chọn và lấy hàng, có phương tiện để khách hàng chuyển hàng. Nhân viên thu tiền với các
trang thiết bị máy tính đảm bảo nhanh chóng và chính xác.
- Bán hàng theo đơn đặt hàng: Khách hàng liên hệ với người bán hàng và đặt hàng
với đầy đủ các nội dung về tên hàng, số lượng, chủng loại, khối lượng, thời gian và địa
điểm giao hàng.
- Bán hàng qua trung tâm thương mại: Ở đây người bán đưa hàng tới trung tâm
thương mại để bán và khách hàng có thể mua tại đó hay có thể ký kết hợp đồng mua
hàng.
2.1.2.6 Tổ chức lực lượng bán hàng
* Các mô hình bán hàng: Theo P.Q.Luyến (2011) có ba mô hình bán hàng cơ bản
- Mô hình tiêu chuẩn hóa – Standardized Model: Chương trình tiếp xúc khách
hàng đã được lập trình sẵn, áp dụng chung cho mọi khách hàng. Một loạt các câu chào
hàng đã được chuẩn bị sẵn, nhắm đến việc khơi gợi những phản ứng tích cực từ khách
hàng. Mô hình này áp dụng cho các sản phẩm đã được chuẩn hóa hoặc có đặc tính chung


bán hàng phụ trách nhóm sản phẩm đó. Mỗi nhóm nhân viên bán hàng chỉ phụ trách một
số sản phẩm tập trung vào một số nhóm khách hàng, đặt ra mục tiêu riêng, đánh giá thành
tích kinh doanh thêm. Tuy nhiên cũng còn một số hạn chế là mỗi nhân viên bán hàng
phải hoạt động trên một địa bàn rộng lớn nên tốn chi phí đi lại và làm giảm thời gian tiếp
xúc với khách hàng, đôi lúc cũng làm cho khách hàng bối rối vì nhiều nhân viên bán hàng
cùng cố tiếp xúc một khách hàng, cạnh tranh lẫn nhau.
- Cấu trúc lực lượng bán hàng chuyên biệt theo khách hàng: Là việc tổ chức lực
lượng bán hàng qua đó nhân viên bán hàng chuyên trách việc chào bán chỉ với một số
khách hàng cụ thể. Cấu trúc này ngày càng có nhiều công ty sử dụng. Việc tổ chức lực

lượng bán hàng xoay quanh khách hàng có thể giúp công ty trở nên chuyên chú hơn đến
khách hàng và xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với khách hàng quan trọng.
- Cấu trúc lực lượng bán hàng chuyên biệt theo chức năng: Nhấn mạnh vào các
công việc hay chức năng cho những người tiếp xúc với khách hàng và đòi hỏi nhiều kiến
thức và kỷ thuật khác nhau, thường gặp ở các công ty lớn. Một số chức năng như chuyên
gia về khách hàng mới, chuyên gia về duy trì quan hệ, chuyên gia người dùng cuối, tư
vấn dịch vụ Dựa vào điều kiện của từng doanh nghiệp mà lựa chọn mô hình phù hợp để
có thể giúp cho việc bán hàng của doanh nghiệp được thuận lợi và phát triển hơn. Lực
lượng bán hàng là cầu nối cơ bản nhất của công ty với thị trường. Lực lượng bán hàng
được chia ra làm ba loại:
• Lực lượng bán hàng của công ty: Bao gồm tất cả những nhân viên có trách
nhiệm trực tiếp đến hoạt động bán hàng lực lượng này có thể chia ra làm 2 loại:
+ Lực lượng bán hàng bên trong: hầu hết lực lượng bán hàng bên trong thường tập
trung ở một cơ sở, văn phòng và liên hệ chủ yếu với khách hàng thông qua điện thoại hay

trình đào
tạo nhân
viên bán
hàng
Kế
t thúc quá
trình đào
tạo, các
nhân viên
mới sẽ
được đưa
vào làm
việc thực
tế và việc
đào tạo
của họ sẽ
được
đánh giá
dựa trên
thái độ
làm việc,
số lượng
khách hàng tìm được và doanh số bán…
* Cải thiện kết quả bán hàng
- Xây dựng mối quan hệ tốt với khách hàng.
- Nâng cao kỹ năng bán hàng.
- Phát triển các phẩm chất cá nhân.
- Tự quản lý thời gian.
nơi xuất hàng tới người tiêu dùng mà các nhà quản trị thường chia làm các cách sau:
* Tiêu thụ trực tiếp: Là kênh tiêu thụ ngắn, sản phẩm sản xuất ra được bán trực
tiếp cho khách hàng, không qua trung gian.
* Tiêu thụ gián tiếp: Là kênh tiêu thụ dài, người sản xuất bán sản phẩm cho người
tiêu dùng cuối cùng thông qua các trung gian, bán buôn, đại lý
• Các loại trung gian trong mạng lưới tiêu thụ sản phẩm

- Người bán buôn: Là người trực tiếp mua sản phẩm của doanh nghiệp, bán lại cho
người bán lẻ, họ có vai trò quan trọng trong thị trường, làm nhiệm vụ phân phối, cho nên
họ có thể làm ảnh hưởng tới các quan hệ trên thị trường. Mặt khác những người bán buôn
có vốn lớn, mạng lưới bán đại lý, bán lẻ rộng, giúp cho doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm
nhanh chóng và thu được nhiều thông tin hữu ích.
- Người đại lý: Là người có thể thực hiện bán buôn hoặc bán lẻ sản phẩm, họ có
thể làm đại lý trực tiếp qua doanh nghiệp hoặc qua người bán buôn. Có nhiều loại đại lý
như:
+ Đại lý uỷ thác.
+ Đại lý hoa hồng
+ Đại lý độc quyền.
- Người môi giới: Do tính đa dạng và phức tạp của nền kinh tế thị trường, đặc biệt
là những biến động nhanh chóng của cung-cầu-giá cả, cùng với sự cạnh tranh gay gắt
giữa các doanh nghiệp, bán buôn Không nắm bắt kịp thời tình hình thị trường một cách
chính xác. Vì vậy xuất hiện người môi giới, có nhiệm vụ chắp nối các quan hệ kinh tế
giữa các đối tượng tham gia trên thị trường:
+ Giúp người mua tìm người bán

+ Thứ hai bằng cách đo lường khác nhau, nhà quản trị bán hàng phải xác định
được mức độ hoàn thành công việc của nhân viên, phân tích rõ nguyên nhân của việc
hoàn thành hay không hoàn thành công việc.
+ Thứ ba là khâu khi phân tích nguyên nhân, nếu thấy có sự sai lệch hay không đạt
yêu cầu mong muốn thì cần phải tìm ra được các lý do, các ảnh hưởng để điều chỉnh để
kết quả công việc được hoàn thành đảm bảo đạt được các mục tiêu mà công tác bán hàng
đề ra.
Nhà quản trị có thể sử dụng biện pháp kiểm soát trước, kiểm soát sau hoặc kiểm
soát tất cả để đảm bảo kết quả cuối cùng phù hợp với mục tiêu mong muốn.
2.1.3 Một số chính sách hổ trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng
2.1.3.1 Chính sách sản phẩm
Theo quan điểm của marketing, sản phẩm được xem là một hệ thống bao gồm mặt
vật chất của sản phẩm, môi trường bao bọc lấy sản phẩm (bao bì, kiểu dáng, nhãn hiệu…)
những thông tin từ người sản xuất kinh doanh và những thông tin từ thị trường do khách
hàng mang lại.
Như vậy đối với các nhà sản xuất kinh doanh, trước khi đưa ra thị trường sản
phẩm hay một dịch vụ nào đó thì không thể chỉ đơn thuần nghiên cứu về mặt kỹ thuật của
nó mà còn phải nghiên cứu những biến động không ngừng về nhu cầu của khách hàng
trên thị trường. Trong thực tế không có gì đảm bảo chắc chắn cho các nhà sản xuất rằng
sản phẩm của mình tung ra thị trường là được khách hàng chấp nhận và thành công, trừ
trường hợp các nhà sản xuất không ngừng nâng cao cải tiến sản phẩm và thường xuyên
đánh giá tổng kết kịp thời mặt mạnh và yếu của sản phẩm.Việc xác định chính sách sản
phẩm quan hệ chặt chẽ đến hai vấn đề cơ bản: Toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp hoặc
công ty sản xuất hoặc kinh doanh trên thị trường đang được chấp nhận ở mức độ nào. Đối

- Đưa sản phẩm vào thị trường

- Thu thập thông tin về sản phẩm mới từ người tiêu dùng
2.1.3.2 Chính sách giá cả
Giá cả là một trong những yếu tố cơ bản của marketing nó giữ vai trò quyết định
trong việc mua hàng hoá này hay hàng hoá khác và trong việc thực hiện mối quan hệ
mua bán.
Giá cả là một trong bốn công cụ cơ bản của marketing (sản phẩm, giá cả, phân
phối, xúc tiến). Nó xác định phương hướng hoạt động của marketing trong sự phân phối
giữa sản xuất và thị trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ cơ bản của marketing là không
ngừng thoả mãn nhu cầu của khách hàng, đạt doanh thu cao với lợi nhuận tối đa.
Chính sách giá cả được xây dựng theo hai định hướng sau đây:
+ Định hướng vào doanh nghiệp: Chủ yếu dựa vào nhân tố bên trong có thể kiểm soát
được.
+ Định hướng vào thị trường: Dựa vào các yếu tố như cung cầu thị trường, sự cạnh tranh
trên thị trường.
2.1.3.3 Chính sách phân phối
Theo quan điểm marketing, chính sách phân phối là tổng thể thống nhất bao gồm
những định hướng, nguyên tắc, các biện pháp hoạt động cụ thể trong việc lựa chọn kênh
phân phối thích hợp, được thể hiện trong các tổ chức Marketing trong hệ thống kênh phân
phối, nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng.
Một chính sách phân phối được coi là hợp lý khi nào nó phản ánh được sự phối
hợp về mặt không gian và mặt thời gian giữa các thành phần trung gian, xác định hợp lý
các phương tiện kỹ thuật phục vụ khâu kinh doanh, lựa chọn chính xác người phân phối,

phong phú, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng, nên quảng cáo ngày càng
giữ vai trò quan trọng trên các mặt hoạt động sản xuất khách hàng. Nhờ quảng cáo các
doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn, số lượng khách hàng đông hơn. Thông qua
quảng cáo nhà sản xuất hiểu được nhu cầu thị trường. Quảng cáo còn kích thích nhu cầu
của con người, là phương tiện hữu ích hỗ trợ cạnh tranh.
Các phương tiện quảng cáo chủ yếu:
+ Quảng cáo trên báo chi, tạp chí, ấn phẩm.
+ Quảng cáo qua các phương tiện nghe nhìn, qua truyền hình, radio…
+ Quảng cáo bằng panô, áp phích ngoài trời hay trên các phương tiện công cộng…
2.1.3.6 Chính sách khuyến mại
Khuyến mại là bất kỳ hoạt động nào tạo ra động cơ để mua sản phẩm ngoài các lợi
ích vốn có của sản phẩm.
Các hoạt động của khuyến mại được chia ra làm ba loại chính theo đối tượng mục
tiêu:
+ Kích thích người tiêu dùng dùng thử sản phẩm mới
+ Kích thích tiêu dùng những sản phẩm đang bán.
+ Bảo vệ khách hàng hiện tại của công ty.

+ Phối hợp làm tăng hiệu quả của quảng cáo và các hoạt động marketing khác.
+ Khuyến mại nhằm hỗ trợ và khuyến khích nỗ lực của lực lượng bán hàng.
+ Khuyến mại nhằm động viên những người trung gian, hỗ trợ một cách tích cực trong
việc tiếp thị sản phẩm của công ty.
+ Khuyến mại nhằm khuyến khích người tiêu dùng thử hoặc sử dụng tiếp những sản
phẩm của công ty.
* Nền văn hoá: Mỗi nước, mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán riêng
khác nhau vì vậy yếu tố này cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác bán hàng của các doanh
nghiệp.
* Các chính sách quản lý kinh tế của nhà nước: Ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt
động bán hàng của doanh nghiệp không chỉ đối với những giao dịch trong nước mà còn
trong thương mại quốc tế.
* Sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng: Doanh nghiệp rất khó đánh giá, nhận
xét được đúng sở thích và thị hiếu của người tiêu luôn dùng bởi lẽ nó luôn thay đổi nên
nhu cầu về hàng hoá của họ cũng luôn thay đổi.
* Cạnh tranh không lành mạnh: Sự xuất hiện của những hàng giả, hàng nhái,
hàng kém chất lượng làm mất đi uy tín của sản phẩm cũng như của doanh nghiệp.
2.1.4.2. Nguyên nhân chủ quan
* Trình độ, năng lực của người quản lý: Ảnh hưởng rất lớn bởi lẽ người quản lý
là người ra quyết định mà nhũng quyết định đó không chính xác sẽ ảnh hưởng đến toàn
bộ doanh nghiệp.
* Chất lượng sản phẩm, hàng hoá: Nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi nhũng
hàng hoá có chất lượng đảm bảo bởi lẽ hàng hoá kém chất lượng sẽ không thể canh tranh
được trên thị trường.
* Giá cả hàng hoá: Là nhân tố ảnh hưởng tới quyết định mua của người tiêu dùng
thông thường những hàng hoá có giá cả cao sẽ có ít người mua.
* Uy tín của doanh nghiệp: Uy tín của doanh nghiệp không cao sẽ làm cho uy tín
của sản phẩm hàng hoá cũng không cao
* Đối thủ cạnh tranh: Sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh làm cho người tiêu
dùng có nhiều sự lựa chọn để mua hàng vì vậy doanh nghiệp có thể bị mất vị thế .
2.2 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu:
Số liệu thứ cấp được sử dụng trong đề tài được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau
như sách, các trang web và đặc biệt là từ Báo cáo tài chính của Công ty Cổ Phần Dược

3.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƢỢC PHẨM CỬU LONG
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
1. Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM CỬU LONG
2. Tên đối ngoại:cuulong pharmaceutical import.export company
3. Tên thương mại viết tắt: PHARIMEXCO
4. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 1500202535 cấp lần đầu ngày
09/11/2004, đăng ký thay đổi lần 8 ngày 16/08/2012
5. Vốn điều lệ : 100.594.800.000 đồng
6. Trụ sở chính tại: Số 150 Đường 14/9, phường 5, Thành Phố Vĩnh Long ,Tỉnh
Vĩnh Long
7. Điện thoại: (070)3.822.533, Fax: (070)3.822.129
8. Website: www.pharimexco.com.vn
9. Email:
10. Mã cổ phiếu: DCL
Năm 1976 sau cuộc chiến tranh kéo dài ,cả nước bắt tay vào xây dựng lại toàn bộ
nền kinh tế . cùng với bối cảnh đó hai tỉnh Vĩnh Long –Trà Vinh sáp nhập thành tỉnh Cửu
Long và ngành y tế Cửu Long được thành lập .Xí nghiệp dược phẩm Cửu Long và công
ty Dược Phẩm Cửu Long ra đời trên cơ sở xưởng dược của tỉnh Trà Vinh cùng với một
số cán bộ Dược của tỉnh Vĩnh Long được tổ chức lại để làm nhiệm vụ sản xuất , phân
phối dược phẩm đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân trong tình hình mới
Đến tháng 4 năm 1984 do cơ chế của ngành kinh tế Công ty Dược Cửu Long và
Xí Nghiệp Dược Cửu Long đã sáp nhập thành Xí Nghiệp Liên Hiệp Dược Cửu Long có
nhiệm vụ chính là sản xuất, lưu thông phân phối thuốc, chế biến thuốc và xuất nhập khẩu
các mặt hàng dược phẩm.
Đầu năm 1992 theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội , tỉnh Cửu Long được tách
thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Xí nghiệp Liên Hiệp Dược Cửu Long tiếp tục
được phân chia tài sản để thành lập công ty Dược Trà Vinh và công ty Dược Cửu Long.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status