Tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết dân tộc và vận dụng của đảng ta
trong phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay
Mở đầu
Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế
giới, là Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng của
Người về đại đoàn kết dân tộc là sự kế thừa, phát triển những giá trị truyền
thống dân tộc và thời đại; là sự sáng tạo những giá trị mới, làm phong phú
kho tàng trí tuệ của dân tộc Việt Nam; là ngọn cờ tập hợp mọi người Việt
Nam yêu nước, thiết tha mong muốn dân tộc được độc lập, đất nước được
thống nhất dân chủ và giàu mạnh.
Với cương vị là lãnh tụ tối cao của Đảng và của dân tộc, đứng đầu Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 24 năm liền Người đã tập hợp, quy tụ
được các dân tộc, các giai cấp tầng lớp, đảng phái vv… xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người đã trở thành
linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng rộng rãi và bên vững. Đại
đoàn kết dân tộc rõ ràng là một nội dung xuyên suốt trong tư tưởng cũng như
trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh.
Trong những cống hiến to lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách
mạng Việt Nam, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người là một cống hiến
đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn hết sức quan trọng là một trong
những nhân tố quan trọng nhất bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc,
ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn coi trọng củng cố
và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp
1
với sức mạnh quốc tế, sức mạnh truyền thống với sức mạnh thời đại, lãnh đạo
nhân dân Việt Nam liên tiếp giành được những thắng lợi vĩ đại trong cuộc đấu
tranh vì độc lập của tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội
quan hệ ba tầng chặt chẽ: gia đình - làng xã - quốc gia và cũng trở thành sợi
dây liên kết các dân tộc, các giai tầng trong xã hội Việt Nam.
Truyền thống ấy không chỉ được phản ánh trong kho tàng văn học dân
gian, mà còn được những anh hùng dân tộc ở các thời kỳ lịch sử khác nhau
như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trải, Quang Trung đúc kết nâng lên
thành phép đánh giặc, giữ nước, “tập hợp bốn phương manh lệ”, “trên dưới
đồng lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức
dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”…
Truyền thống ấy được tiếp nối trong tư tưởng tập hợp lực lượng dân tộc của
các nhà yêu nước trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và các
thế lực phong kiến tiếp tay cho ngoại bang, mà tiêu biểu nhất là cụ Phan Bội
Châu và cụ Phan Chu Trinh ở một phần tư đầu thế kỷ XX.
Hồ Chí Minh đã sớm tiếp thu được truyền thống yêu nước đoàn kết của
dân tộc. Người đã khẳng định: từ xưa đên nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng
thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn
(đoàn kết), nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,, nó nhấn chìm tất cả lũ
bán nước và lũ cướp nước. Hơn nữa còn phải phát huy truyền thống đó trong
giai đoạn cách mạng mới của dân tộc: “Phải ra sức giải thích, tuyên truyền tổ
chức lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được
3
thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”
21
. Về mặt thực
tiễn, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ
sở tổng kết dân tộc những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam
và phong trào cách mạng của nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải
phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Những thành công hay thất bại của các
phong trào ấy đều được Người nghiên cứu để rút ra những bài học cần thiết
cho việc hình thành tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc.
Phong trào yêu nước Việt Nam đã diễn ra rất mạnh mẽ từ khi thực dân
cách mạng tháng Mười, và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách
mạng này đã đem lại cho phong trào cách mạng thế giới ; đặc biệt là bài học
về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và
giữ chính quyền cách mạng để đánh tan sự can thiệp của 14 nước đế quốc để
xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới cho lịch sử nhân
loại. Hồ Chí Minh nghiên cứu cách mạng tháng Mười không chỉ phải qua
sách vở, mà còn ngay trên đất nước của Lênin. Điều này đã giúp Người hiểu
sâu sắc thế nào là một cuộc “cách mạng đến nơi”, để chuẩn bị cho việc lãnh
đạo nhân dân Việt Nam đi vào con đường cách mạng mới những năm sau
này.
* Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về đoàn kết
dân tộc
Cở Sở lý luận quan trọng nhất đối với quá trình hình thành tư tưởng Hồ
Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là những quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra
lịch sử, giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh
công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng, đoàn kết dân
5
tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế, “vô sản các nước, đoàn kết lại”, “vô sản tất
cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”, vv
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là vì chủ nghĩa Mác-Lênin,
đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng, đã chỉ ra sự cần
thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng cách mạng trong phạm vi
từng nước và trên thế giới để giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấu tranh
chống đế quốc chủ nghĩa thực dân. Nhờ đó Người đã có cơ sở khoa học để
đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản
truyền thống, trong tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam
tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, những bài học rút ra từ cách
mạng các nước, từ đó hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng của Người về đại
đoàn kết dân tộc.
.
* Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của
cách mạng.
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo cách mạng duy nhất
đối với cách mạng Việt Nam. Trong Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng lao
động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố
trước toàn thể dân tộc: “Mục đích của Đảng lao động Việt Nam có thể gồm 8
chữ là: Đoàn kết tòan dân, phụng sự tổ quốc”
27
. . Nói chuyện với cán bộ tuyên
huấn miền núi về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Người chỉ rõ: Trước cách
mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm sao
cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc. Một là đoàn kết. Hai là làm
cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi. Bây giờ
mục đích tuyên truyền huấn luyện là: “Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”
28
.
Đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ
hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả
22
. Hå ChÝ Minh, Toµn tËp, t.7, Nxb, CTQG, H. 2002, tr. 392.
3.4. S® d, t.11, tr. 22-154.
23
24
25
. S® d, t.8, tr.392.
26
trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam.
Muốn thực hiện được việc đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền
thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan
dung độ lượng với con người. Hồ Chí Minh cho rằng ngay đối với những
29
. Hå ChÝ Minh, Toµn tËp, t.7, Nxb, CTQG, H. 2002, tr. 438.
8
người lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải, chúng ta vẫn kéo họ về với dân
tộc, vẫn đoàn kết với họ, mà hoàn toàn không định kiến, khoét sâu cách biệt.
Người đã lấy hình tượng năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn, nhưng cả năm
ngón tay đều thuộc về một bàn tay, để nói lên sự cần thiết phải thực hiện đại
đoàn kết rộng rãi. Thậm chí đối với những người trước đây đã chống chúng
ta, nhưng nay không chống nữa, khối đại đoàn kết dân tộc vẫn mở rộng cửa
đón họ. Người nhiều lần nhắc nhở: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ thì những người đó trước đây chống chúng ta,
bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”
30
. Đối với tấm lòng độ lượng
bao dung, Người tha thiết kêu gọi tất cả những người thật thà yêu nước,
không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây
đứng về phe nào; chúng ta phải thật thà, cộng tác vì dân vì nước. Để thực hiện
được đoàn kết, Người còn căn dặn: cần xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật
thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân.
Sở dĩ Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm đại đoàn kết dân tộc một
cách rộng rãi như trên là vì Người có lòng tin ở nhân dân, tin rằng trong mỗi
người, “ai cũng có ít hay nhiều tấm lòng yêu nước” tiềm ẫn bên trong. Tấm
lòng yêu nước ấy có khi bị bụi bậm che mờ, chỉ cần làm thức tỉnh lương tri
con người thì lòng yêu nước lại bộc lộ. Vì vậy mẫu số chung để quy tụ mọi
người vào khối đại đoàn kết dân tộc chính là nền độc lập thống nhất của tổ
quốc, là cuộc sống tự do và hạnh phúc của nhân dân cần phải xây dựng từ
Cả dân tộc hay toàn dân chỉ trở thành lực lượng to lớn, trở thành sức
mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, được tổ chức
lại thành một khối vững chắc và hoạt động theo đường lối chính trị đúng đắn.
Nếu không thế, quần chúng nhân dân dù có hàng triệu, hàng triệu con người
cũng chỉ là một số đông không có sức mạnh. Thất bại của phong trào yêu
nước trước kia đã chứng minh rất rõ vấn đề này.
Ngay từ khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã rất chú ý
đến việc đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với
31
. Hå ChÝ Minh, Toµn tËp, t.7, Nxb, CTQG, H. 2002, tr. 438
32
. Hå ChÝ Minh, Toµn tËp, tËp. 10, Nxb, CTQG, H. 2000, tr. 18.
10
từng giai tầng, từng giới, từng ngành nghề, từng lứa tuổi, từng tôn giáo; hơn
nữa còn phù hợp với từng bước phát triển của phong trào cách mạng. Đó là
các hội hữu ái, hay tương trợ, công hội hay nông hội, đoàn thanh niên hay phụ
nữ, đội thiếu niên nhi đồng hay hội phụ lão, hội phật giáo cứu quốc, công giáo
yêu nước hay hội nghiệp đoàn, vv Và bao trùm nhất là Mặt trận dân tộc
thống nhất, nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi con dân
nước Việt, không phải chỉ ở trong nước mà còn bao gồm cả những người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời nào nếu tấm lòng vẫn
hướng về quê hương đất nước, về tổ quốc Việt Nam.
Tuỳ theo từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Mặt trận dân tộc
thống nhất có thể có những tên gọi khác nhau; Hội phản đế đồng minh (1930),
Mặt trận dân chủ (1936), Mặt trận nhân dân phản đế (1939), Mặt trận việt
minh (1941), Mặt trận liên việt (1946), Mặt trận giải phóng Miền Nam
(1960), Mặt trận tổ quốc Việt Nam (1955), (1976), nhưng thực chất chỉ là
một, đó là tổ chức chính trị rộng rãi, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp,
dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và cá nhân yêu nước ở trong nước và
nước ngoài, phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập, thống nhất của tổ quốc và
Người nêu rõ:”Trong đại hội này, chúng ta có đại biểu được các tầng lớp, các
tôn giáo, các dân tộc, già có, trẻ có, nam có, nữ có, thật là một gia đình tương
thân, tương ái. Chắc rằng sau cuộc Đại hội, mối đoàn kết thân ái sẽ phát triển
và củng cố khắp toàn dân”
33
. Trong bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ
về công tác Mặt trận (tháng 8-1962), Người yêu cầu: “Chúng ta phải đoàn kết
chặt chẽ các tầng lớp nhân dân…Phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn
33
. S® d, t6, tr.182.
12
thể, các nhân sĩ trong Mặt trận tổ quốc Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu dài,
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau
xây dựng tổ quốc…Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào
các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hoà thuận ấm no, xây dựng tổ
quốc”
34
. Giữa các thành viên của khối đại đoàn kết dân tộc, bên cạnh những
điểm tương đồng vẫn có những điểm khác nhau cần phải bàn bạc để đi đến
nhất trí, bên cạnh những nhân tố tích cực vẫn có những nhân tố tiêu cực cần
phải khắc phục. Để giải quyết vấn đề này, một mặt Hồ Chí Minh nhấn mạnh
phương châm “cầu đồng tồn dị”, lấy cái chung để hạn chế cái riêng, cái khác
biệt; mặt khác, Người nêu rõ: “Đoàn kết phải gắn với đấu tranh, đấu tranh để
tăng cường đoàn kết”. Người thường xuyên căn dặn mọi người phải khắc
phục tình trạng đoàn kết xuôi chiều, phải nêu cao tinh thần tự phê bình, và
phê bình để biểu dương mặt tốt, khắc phục mặt chưa tốt, củng cố đoàn kết nội
bộ: “Đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải
nhất trí. Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái
tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân
ái, vì nước, vì dân”
dân lao động, đại biểu cho cả lợi ích dân tộc. Hơn nữa, trong cách mạng giải
phóng dân tộc, Đảng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết và trước hết, vì nếu không
giành được độc lập cho dân tộc thì lợi ích của giai cấp công nhân “ngàn vạn
năm cũng không giải quyết được”.
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tư bản mang
tính chất quốc tế, nhưng cuộc đấu tranh ấy lại diễn ra trước hết trong từng
quốc gia dân tộc. Vì vậy giai cấp công nhân và Đảng của nó trước hết phải trở
thành dân tộc, như Mác-Ăngghen đã nêu ra trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản.
ở Việt Nam, điều ấy đã là đương nhiên ngay từ khi Đảng Cộng sản ra đời,
cũng như trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết
dân tộc, tập hợp toàn dân trong cuộc đấu tranh cách mạng đã trở thành vấn đề
14
máu thịt của Đảng. Đại bộ phận nhân dân Việt Nam đã coi Đảng Cộng sản là
Đảng của mình, đó cũng là điều dễ hiểu. Đây là đặc điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam, khác rất nhiều so với Đảng Cộng sản ở Tây Âu. Vinh dự ấy rất lớn
lao, nhưng trách nhiệm của Đảng trước dân tộc cũng rất nặng nề.
Như Hồ Chí Minh đã nói, muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng phải
“vừa là đạo đức, vừa là văn minh”. Điều này hoàn toàn thống nhất với mệnh
đề của Lênin mà người ta thường nhắc lại “Đảng Cộng sản phải tiêu biểu trí
tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại”. Văn minh cũng có nghĩa là
trí tuệ, danh dự lương tâm là đạo đức. Tiên phong về trí tuệ, mẫu mực về đạo
đức, Đảng đã được nhân dân ủng hộ và đã trở thành hạt nhân của khối đại
đoàn kết dân tộc.
Là tổ chức chính trị to lớn nhất, là bộ tham mưu của giai cấp công nhân
và của cả dân tộc, Đảng lãnh đạo xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng
thời cũng là thành viên của mặt trận. Quyền lãnh đạo Mặt trận không phải
Đảng tự phong cho mình, mà là được nhân dân thừa nhận. Điều này đã được
Hồ Chí Minh phân tích rất cặn kẽ: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa
nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất,
hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày,
có quyết tâm làm như thế thì công tác Mặt trận nhất định sẽ tiến bộ nhiều.
Muốn lãnh đạo Mặt trận, lãnh đạo xây dựng khối đoàn kết toàn dân,
Đảng phải thực sự đoàn kết nhất trí. Sự đoàn kết của Đảng là cơ sở vững chắc
để xây dựng sự đoàn kết của toàn dân. Sự đoàn kết của Đảng càng được củng
cố thì sự đoàn kết của dân tộc càng được tăng cường. Đảng đoàn kết, dân tộc
đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân đã tạo nên sức mạnh
bên trong của cách mạng Việt Nam để vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng
mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng.
* Đại đoàn kết dân tộc phải gắn với đại đoàn kết quốc tế
Chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong
sáng của giai cấp công nhân, đây cũng là tư tưỏng lớn của Hồ Chí Minh.
Khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam
38
16
chỉ có thể giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách
mạng thế giới.
Trong những năm chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam, Người đã nêu rõ “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ
chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp
mọi nơi”
39
. Từ đó về sau, tư tưởng của Người về đoàn kết với phong trào cách
mạng thế giới càng làm được rõ hơn và đầy đủ hơn. Trong kháng chiến chống
chủ nghĩa đế quốc thực dân, tư tưởng Hồ Chí Minh đã định hướng cho ba
tầng Mặt trận: Một là, Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Hai là,Mặt trận đoàn kết
Việt - Miên -Lào; Ba là, Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam
chống đế quốc xâm lược. Đây thực sự là sự phát triển rực rỡ nhất và thắng lợi
to lớn nhất của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh
II. vận dụng của đảng ta trong phát huy sức mạnh tổng hợp thực
lợi để chủ trương đại đoàn kết dân tộc của Đảng tiếp tục đi vào cuộc sống và
đã thu được những kết quả tốt đẹp. Đó là: sự nhất trí về chính trị và tinh thần
trong nhân dân tăng lên, trở thành một nhân tố căn bản bảo đảm sự ổn định
chính trị xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển và tiếp tục nâng cao đời
sống của đại bộ phận nhân dân; liên minh công nông trí thức được mở rộng và
mang nội dung mới là chủ động hợp tác giữa lao động trí óc và lao động chân
tay chặt chẽ hơn để cùng sản xuất ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn và
có chất lượng cao hơn cho xã hội.
Cùng với những chính sách thông thoáng, sản phẩm của tư duy mới về
kinh tế, là các hình thức biện pháp xã hội hoá các hoạt động và chính sách xã
hội như: xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo, cứu giúp
đồng bào những vùng bị bảo lụt thiên tai, vv… đã góp phần củng cố niềm tin
18
của đại bộ phận nhân dân đối với Đảng, với chế độ, củng cố và tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân.
Sự đổi mới từng bước hệ thống chính trị, việc tăng cường dân chủ hoá
đời sống xã hội, nhất là việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã tạo điều
kiện để các tầng lớp nhân dân tham gia ngày càng đông đảo vào các sinh hoạt
chính trị của đất nước, góp phần xoá bỏ những ngăn cách do lịch sử để lại đã
có tác dụng tốt làm cho các thành viên trong xã hội cởi mở, xích lại gần nhau
hơn, có lợi cho việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
Thực hiện tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc củ Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc củng cố tinh thần đoàn kết các
dân tộc anh em điều này thể hiện rõ trong chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta đối với các đồng bào dân tộc thiểu số. Nghị quyết Hội nghi lần
thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX về công tác dân tộc đã nêu rõ:
“Thực hiện tốt chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng
phát triển trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; chống kỳ thị, hẹp hòi, chia
rẽ dân tộc. Tập trung phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản
hin i on kt cỏc dõn tc, tụn giỏo, giai cp, tng lp thnh phn, mi
gii, mi la tui, ngi trong ng v ngi ngoi ng, ngi ang cụng
tỏc v ngi ó ngh hu, mi thnh viờn trong i gia ỡnh dõn tc Vit Nam
dự sng trong nc hay nh c nc ngoi. Phỏt huy sc mnh ca c cng
ng dõn tc, truyn thng yờu nc v lũng t ho dõn tc, ly mc tiờu gi
vng c lp, thng nht, ch quyn quc gia, ton vn lónh th, dõn giu
nc mnh, xó hi cụng bng dõn ch vn minh lm im tng ng, ng
thi tụn trng nhng im khỏc nhau khụng trỏi vi li ớch chung ca c dõn
tc; xoỏ b mc cm, nh kin, phõn bit i x v quỏ kh, giai cp, thnh
40
. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb, CTQG, H. 2006, tr. 121.
20
phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai. Củng
cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận tổ quốc
trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy
dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.
2.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước;
phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong xây dựng khối
đoàn kết toàn dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước
Để phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc trong tình hình hiện nay, điều
kiện quyết định là phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Lịch sử cách mạng
Việt Nam đặt lên vai giai cấp công nhân nước ta sứ mệnh lãnh đạo cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc, dân
chủ bao giờ cũng mang một nội dung giai cấp cụ thể. Giai cấp nào tiêu biểu
nhất cho lợi ích dân tộc và dân chủ của quần chúng nhân dân thì mới lãnh đạo
được cách mạng, mới xây dựng và và phát huy được khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Trong thời đại mới, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp tiêu biểu
nhất cho lợi ích dân tộc và dân chủ, là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo
đổi mới xã hội, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia các
công việc quản lý của Nhà nước; giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật
thiết giữ Đảng và Nhà nước với nhân dân. Các đoàn thể tiếp tục nhiệm vụ
giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức mới, động viên phát huy tính tích cực xã
hội của các tầng lớp nhân dân, đoàn kết toàn dân, phấn đấu cho sự thành công
của công cuộc đổi mới. Vai trò của Mặt trận tổ quốc là cực kỳ quan trọng
22
trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, vì sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2.3. Đoàn kết rộng rãi các giai cấp các tầng lớp nhân dân trên cơ sở
liên minh công-nông- trí thức
Trong công cuộc đổi mới đất nước ngoài hai giai cấp công nhân và
nông dân ra, trí thức cũng là một tầng lớp đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng và phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước, trí thức trở thành tầng
lớp ngày càng đông đảo, họ là con em của nhân dân lao động, và trong nền
công nghệ sản xuất mới, công nhân trí thức trực tiếp điều khiển guồng máy
sản xuất, vì vậy cần thực hiện liên minh công-nông- trí thức và lấy liên minh
này làm nòmg cốt của khối đoàn kết toàn dân, làm nòng cốt của lực lượng
cách mạng.
Thực hiện đoàn kết rộng rãi “tầng lớp trên” với quần chúng nhân dân
lao động, giữa giàu với nghèo đòi hỏi phải có giải pháp và chính sách khéo
léo. Về bản chất lợi ích của “tầng lớp trên” đối với công nhân, nông dân và
lao động, nhưng cần tranh thủ cả tầng lớp trên nhất là những cá nhân có uy tín
trong quần chúng.
Đoàn kết với các dân tộc ít người trên cơ sở thực hiện chính sách bình
đẳng giữa các dân tộc anh em, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng núi
cao tiến kịp đồng bằng về kinh tế, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp
hòi, hay tự ti dân tộc. Đoàn kết nhân dân các dân tộc ít người đồng thời giáo
dục, cải tạo, giúp đỡ họ, khắc phục những thiếu sót của họ, tranh thủ những
người có uy tín đối với đồng bào các dân tộc ít người như già bản, già làng,
Cần nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc,
làm rõ những đặc trưng mới trong quá trình xây dựng, phát triển khối đại
24
đoàn kết hiện nay, để tránh dập khuôn giáo điều trong chỉ đạo thực tiễn. Cần
đổi mới đồng bộ các giải pháp chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội để phát triển
đoàn kết dân tộc lên một tầm cao mới, chiều sâu mới mà trước hết là đổi mới
công tác tư tưởng văn hoá.
Cần phát động sâu rộng, kiên trì và bền bỉ công cuộc khôi phục những
giá trị đích thực của truyền thống đạo lý Việt Nam. Đồng thời với việc giáo
dục chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo tinh thần phát triển
sáng tạo, cần hết sức coi trọng chủ nghĩa yêu nước, giáo dục đạo lý, lễ nghĩa.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường tuyên truyền nội dung pháp luật,
giáo dục xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm cơ chế
quản lý bằng pháp luật. Kỷ cương phép nước bao giờ cũng là rường cột để cố
kết, điều tiết các quan hệ xã hội và trở thành điều kiện quan trọng để xây
dựng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
Cùng với đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, cần tiếp tục đổi
mới công tác cán bộ, công tác tổ chức. Bởi vì, cán bộ là người chuyển tải
đường lối, chủ truơng, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng; là
người trực tiếp liên hệ giáo dục, tổ chức, hướng dẫn quần chúng, do vậy, có
thể nói độ bền vững và sức sống của khối đại đoàn kết toàn dân phụ thuộc
trực tiếp vào chất lượng đội ngũ cán bộ.
Hoàn thiện cơ chế chính sách xã hội là cơ sở quan trọng để tăng cường
đoàn kết roàn dân. Bởi vì, đoàn kết dân tộc có liên quan trực tiếp đến chính
sách giai cấp, chính sách xã hội. Sai lầm trong chính sách giai cấp, chính sách
xã hội có thể dẫn đến hậu quả vô cùng tai hại. làm rạn vỡ khối đoàn kết toàn
dân, do đó, cần hết sức tỉnh táo, thận trọng khi hoạch định các chính sách này.
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba (khoá VII)
đac hỉ rõ: “ cùng với quá trình đổi mới kinh tế, cơ cấu giai cấp xã hội có
25