1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Luận án:
Để giữ vững thị phần, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc
nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là việc làm hết sức quan trọng. Câu hỏi
làm thế nào để giúp các doanh nghiệp đưa ra được các quyết định nâng cao năng lực
cạnh tranh đúng đắn hơn, có hiệu quả hơn; các giải pháp nào sẽ giúp doanh nghiệp nâng
cao lợi thế cạnh tranh của mình không chỉ có ý nghĩa đối với các nhà quản trị mà còn là
chủ đề rất quan trọng đối với các nhà nghiên cứu.
Chính vì vậy, trong môi trường cạnh tranh ngày nay, việc nâng cao lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
thuộc Bộ là yêu cầu hết sức cấp thiết. Đề tài “Nâng cao lợi thế cạnh tranh của các
doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng” là một đề tài nghiên
cứu hết sức cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu của Luận án:
Do tính cấp thiết nêu trên, mục tiêu của đề tài này là nhận diện các lợi thế cạnh
tranh của các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng và tìm ra các
nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực vô hình góp phần tạo ra những lợi thế cạnh tranh này.
Mục tiêu nghiên cứu này được cụ thể hóa bằng các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Thứ nhất: Hiện trạng lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng thuộc Bộ Xây dựng?
- Thứ hai: Các nguồn lực hữu hình và vô hình nào đóng vai trò quan trọng trong
việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thuộc
Bộ Xây dựng?
- Thứ ba: Các giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp sản
xuất thuộc Bộ Xây dựng?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
là Lợi thế cạnh tranh và tác động của các Nguồn
lý thông tin
1
Tổng hợp lý thuyết, xây dựng mô
hình nghiên cứu, kiểm tra ý nghĩa
thực tiễn và lý luận của mô hình
nghiên cứu;
- 05 lãnh đạo doanh
nghiệp
- 08 khách hàng hiện tại
của các doanh nghiệp
- 05 nhà nghiên cứu về
quản trị doanh nghiệp
Nghiên cứu thứ
cấp
Phỏng vấn sâu
2
C
ụ thể hóa các lợi thế cạnh tran
h;
Cụ thể hóa các nguồn lực tạo ra lợi
thế cạnh tranh của các doanh
nghiệp
-
04 cu
ộc phỏng vấn theo
nhóm đối với các khách
hàng ở bốn lĩnh vực
3
5. Kết cấu:
Luận án được chia làm các phần cơ bản sau:
- Giới thiệu chung về đề tài
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp sản
xuất
- Chương 2: Động thái phát triển của các doanh nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng thuộc Bộ Xây dựng
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Phân tích và nhận diện các lợi thế cạnh tranh của các doanh
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng
- Chương 5: Giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp
sản xuất vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng
- Kết luận. 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Mục này gồm ba nội dung chính được tóm tắt ở phần dưới đây.
1.1 Nguồn gốc hình thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Về mặt lý luận, vẫn còn rất nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về lợi thế
cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh bền vững và nguồn gốc hình thành các lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp. Tuy có nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích nguồn gốc hình thành
trong cùng một lĩnh vực và trên cùng một thị trường với doanh nghiệp.
1.2.1.3 Lợi thế cạnh tranh bền vững
Lợi thế cạnh tranh bền vững (Sustained Competitive Advantages) cũng đã được
đề cập từ khá lâu bởi nhiều học giả. Alderson (1965), Hamel và Prahalad (1989) và
Dickson (1992), Hall (1980) và Henderson (1983) có những lập luận này là cơ sở cho
việc duy trì được lợi thế cạnh tranh bền vững.
Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh bền vững được đề cập đến lần đầu tiên vào năm
1984 khi Day đề cập đến các chiến lược có thể giúp “duy trì lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp”. Trên thực tế, thuật ngữ “lợi thế cạnh tranh bền vững” được chính thức
xuất hiện vào năm 1985 khi Porter thảo luận về các chiến lược cạnh tranh cơ bản mà
doanh nghiệp có thể sử dụng (chi phí thấp hoặc khác biệt hóa) để có được lợi thế cạnh
tranh bền vững, và được bổ sung bởi Barney (1991) và Collins & Montgomery (1995).
1.2.1.4 Các khối cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh
Theo Lê Thế Giới và cộng sự (2007), bốn khối cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh
là: hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến, và đáp ứng khách hàng. Chúng là những khối
chung của lợi thế cạnh tranh mà mọi công ty có thể làm theo, bất kể công ty đó làm ở
ngành nào, cung cấp dịch vụ gì. Mặc dù chúng ta nghiên cứu chúng tách biệt nhưng
giữa bốn khối này có sự tương tác lẫn nhau rất mạnh.
1.2.1.5 Chiến lược chung của doanh nghiệp
Theo Porter, những doanh nghiệp có thể thành công trong việc áp dụng nhiều
chiến lược thường phải thành lập các đơn vị kinh doanh riêng biệt, trong đó mỗi đơn vị
theo đuổi một chiến lược. Bằng cách tách riêng chiến lược cho các đơn vị khác nhau
về chính sách hay thậm chí cả văn hóa, một doanh nghiệp có thể giảm bớt rủi ro bị rơi
vào trì trệ không thể phát triển.
1.2.1.6 Lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất
Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản
xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Các
6
(2002) cho rằng việc sử dụng chuỗi giá trị khó phát hiện được những nguồn lực riêng
có, mang tính vô hình, nhưng lại có vai trò rất lớn đối trong việc tạo ra lợi thế cạnh
7
tranh của doanh nghiệp: các nguồn lực dựa trên tri thức, các kỹ năng đặc biệt của các
nhân viên phát triển sản phẩm mới, các khả năng thiết lập mối quan hệ với các đối tác
như khách hàng, các nhà cung ứng, các nhà phân phối có liên quan trong quá trình hoạt
động, v.v… Vì vậy, các nhà nghiên cứu lại tiếp tục xây dựng lý thuyết mới để giải thích
nguồn hình thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.2.4 Lý thuyết nguồn lực của doanh nghiệp (Resource Based Theory)
Các nhà nghiên cứu đã phân chia các nguồn lực của doanh nghiệp theo nhiều
cách thức khác nhau. Barney (1991) phân loại các nguồn lực thành nguồn lực về vốn
con người, vốn vật chất, vốn tổ chức. Grant (1991) chia thành nguồn lực hữu hình, vô
hình, và con người. Các cách phân loại này không thể hiện được các đặc tính theo mô
hình VRIN do vậy ít có giá trị trong việc giải thích nguồn gốc hình thành nên lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Miller và Shamsie (1996) dựa trên rào cản để đối thủ cạnh tranh bắt chước lại
chia thành nguồn lực dựa trên tri thức (kỹ năng và bí quyết liên quan đến năng lực quản
lý, năng lực công nghệ, và năng lực Marketing) và nguồn lực dựa trên sở hữu tài sản
(thiết bị, nhà xưởng, nhà máy, đất đai, v…). Cách phân loại này thể hiện được đặc tính
của nguồn lực theo mô hình VRIN vì vậy đã góp phần giải thích được việc hình thành
nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các nguồn lực có thể là hữu hình hoặc vô hình được doanh nghiệp sở hữu và sử
dụng trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược (Barney và Hesterley, 2006).
Các nguồn lực vô hình có thể bao gồm các kỹ năng, vốn con người, vốn tổ chức và
thông tin, vốn danh tiếng và quan hệ. Tất cả những nguồn lực này thể hiện những
nguồn lực mà doanh nghiệp sở hữu. Nguồn lực hữu hình là số lượng cán bộ công nhân
viên, là quy mô tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Nguồn lực vô hình là định hướng
học hỏi, định hướng thị trường của doanh nghiệp.
Định hướng thị trường (market orientation):
tranh của ngành viễn thông.
Tác giả Phạm Quang Trung (2009) cho rằng các nguồn lực có ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: vốn và tiềm lực tài chính, chất lượng
nguồn nhân lực và trình độ công nghệ, thương hiệu và hoạt động Marketing.
Tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) đã hệ thống hóa các lý thuyết đánh giá về khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp, phân tích hiện trạng về khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. 9
CHƯƠNG 2: ĐỘNG THÁI PHÁT TRIỂN PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG THUỘC BỘ XÂY DỰNG
Chương này gồm bốn nội dung chính sau đây:
2.1.
Giới thiệu ngành sản xuất vật liệu xây dựng
Hiện nay, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng của Việt nam đã sớm tiếp cận và
hội nhập với khoa học công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại của quốc tế để đầu tư phát
triển sản xuất, nhanh chóng chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn, từ công nghệ lạc
hậu sang công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại. Tiềm năng về tài nguyên khoáng sản,
thị trường, công nghệ, lao động sẽ được khai thác để phát triển ngành vật liệu xây dựng
thành ngành kinh tế mạnh, từ năm 2010, đáp ứng về số lượng, chất lượng và các chủng
loại vật liệu xây dựng cơ bản cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Ngoài ra, các công ty từ rất nhiều thành phần kinh tế đã tham gia vào sản xuất
và kinh doanh vật liệu xây dựng: sở hữu nhà nước, tư nhân, cổ phần, liên doanh trong
và ngoài nước, đầu tư nước ngoài 100%. Hiện nay, có 43 doanh nghiệp sản xuất vật
liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng (phụ lục 3) với gần 25.000 cán bộ công nhân viên.
Ngoài ra còn có một số doanh nghiệp sản xuất, khai thác nguyên liệu để cung cấp đầu
vào cho các doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, hai Tổng Công ty là Tổng Công ty Vật
liệu xây dựng và Tổng Công ty Viglacera cũng có mảng kinh doanh bất động sản, xây
hành của doanh nghiệp, (5) Về hoạt động nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường
mục tiêu, (6) Về chiến lược sản phẩm, (7) Về chiến lược phân phối, (8) Về đầu tư chi
phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.
2.2.3. Cơ hội và thách thức
Ngành vật liệu xây dựng Việt nam trong những năm qua vẫn có tốc độ phát triển
và thành tựu rất ấn tượng: đáp ứng cơ bản và ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong
nước về sản lượng, chất lượng, và chủng loại sản phẩm; chất lượng sản phẩm tương
đương với nhiều nước trong khu vực, có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm nhập
khẩu; sản phẩm đã được xuất khẩu đến trên 100 quốc gia trên thế giới; đóng góp
khoảng 9 - 10% GDP toàn ngành công nghiệp; đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước;
thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển; tạo nhiều công ăn việc làm [10].
Một trong những mục tiêu theo Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng
Việt nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê chuẩn tại Quyết định số 121/2008/QĐ-
TTg ngày 29 tháng 8 năm 2008 là “tiếp tục đầu tư phát triển các loại vật liệu cơ bản như
11
ximăng, vật liệu ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, vật liệu xây, vật liệu lợp” (trang 2) và
“không ngừng đào tạo nâng cao năng lực quản lý” (trang 1), “sản phẩm có sức cạnh
tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế” (trang 2). Qui hoạch này cũng xác định
rõ Bộ Xây dựng là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng và đại
diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước về sản xuất
vật liệu xây dựng.
2.3.
Động thái phát triển các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thuộc
Bộ Xây dựng
Trong các ngành sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam hiện nay, có tất cả 5
ngành sản xuất chính là xi măng, gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, gạch ngói và
các sản phẩm đất sét nung. Trong đó, riêng sản phẩm xi măng tuy là một ngành chính
song nó chủ yếu chỉ phụ thuộc vào công nghệ, các sản phẩm đồng nhất, chênh lệch
nhau không nhiều như các sản phẩm còn lại. Do đó, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu
Lợi nhuận thuần của hầu hết các doanh nghiệp đều không ổn định và có chiều
hướng suy giảm trong những năm qua. Tính theo giá trị tồn kho hàng hóa, chúng ta có
thể thấy ngay rằng, giá trị này gần bằng giá trị vốn chủ sở hữu. Các doanh nghiệp này
hiện tại đang sản xuất chỉ ở mức cầm chừng, duy trì hoạt động. Và vấn đề này càng
khẳng định sự cấp thiết của việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp này. 13
Nguồn lực hữu hình:
- Số lượng lao động
- Quy mô Tổng nguồn vốn
Nguồn lực vô hình:
- Định hướng học hỏi
- Định hướng thị trường
Lợi thế
cạnh
tranh
Kết quả
kinh
doanh
Mức độ
phát
tri
ển
Mức độ
biến
đ
ộng thị
Phần này tác giả trình bày khái niệm nghiên cứu và thang đo của các biến độc
lập và biến phụ thuộc có trong mô hình nghiên cứu đã xây dựng. Đó là: (1) Lợi thế cạnh
tranh của công ty; (2) Số lượng cán bộ nhân viên trong công ty, (3) Quy mô Tổng
nguồn vốn, (3) Định hướng học hỏi; (4) Định hướng thị trường; (5) Mức độ biến động
thị trường, (6) Mức độ cạnh tranh, (7) Mức độ phát triển công nghệ, (8) Kết quả kinh
doanh. Các biến được trình bày dưới đây dựa trên mô hình và thang đo được xây dựng
14
từ cơ sở lý luận, các nghiên cứu trước đây và được chỉnh sửa từng biến qua bước
nghiên cứu định tính.
Thang đo sử dụng là các thang đo đa biến (multi-item scale) để đo các khái niệm
chính. Các thang đo đa biến được áp dụng trong nghiên cứu này đã được chứng minh là
phù hợp với tiêu chuẩn về độ giá trị và độ tin cậy bởi những nghiên cứu trước đó.
3.4.
Thiết kế bảng câu hỏi trong phiếu điều tra
Nội dung của bảng câu hỏi bao gồm:
Thông tin mở đầu: Nội dung phần này bao gồm phần giới thiệu nội dung, mục
đích nghiên cứu. Tác giả hướng dẫn ngắn gọn cách trả lời các câu hỏi trong bảng và
thông tin liên hệ khi người được điều tra có những thắc mắc.
Thông tin chính cần nghiên cứu: Trong phần này, tác giả đặt ra những câu hỏi
định lượng nhằm ghi lại mức độ ý kiến của người trả lời. Nội dung của những phát
biểu được thiết kế thành các thang đo đã được nghiên cứu. Các thang đo này gồm
nhiều biến quan sát về (1) Lợi thế cạnh tranh của công ty, (2) Định hướng học hỏi, (3)
Định hướng thị trường, (4) Kết quả kinh doanh của công ty.
Thông tin bổ sung: Nhằm thu thập thêm những nội dung khác liên quan đến mô
hình nghiên cứu. Những thông tin bổ sung này gồm các thang đo về (5) Các thông tin
về môi trường kinh doanh, (6) Các thông tin chung về công ty, (7) Thông tin về người
trả lời trong trường hợp họ muốn biết kết quả nghiên cứu này.
3.5.
Thiết kế mẫu điều tra
Lĩnh vực kinh doanh Tỉ lệ phần trăm
1 Kính xây dựng 23,6
2 Sứ vệ sinh 24,4
3 Gạch ốp lát 26,8
4 Gạch ngói và đất sét nung 25,2
Tổng số 100,0
(Nguồn: Khảo sát về mô hình ảnh hưởng nguồn lực tới lợi thế cạnh tranh, tác
giả) 16
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ NHẬN DIỆN LỢI THẾ CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG THUỘC
BỘ XÂY DỰNG
Sau khi thu thập các phiếu điều tra, tác giả đã tiến hành làm sạch thông tin, lọc
bảng câu hỏi và mã hóa những thông tin cần thiết trong bảng câu hỏi, nhập liệu và
phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.
4.1. Đánh giá độ tin cậy của các biến khảo sát
Để đo độ tin cậy của dữ liệu khảo sát, chúng ta phân tích các nhóm nhân tố
bằng mô hình Cronbach’s Alpha. Phương pháp Cronbach’s Alpha dùng để loại bỏ các
câu không phù hợp và hạn chế các câu nhiễu trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ
tin cậy của các biến. Hệ số Cronbach’s Alpha biến thiên từ 0 đến 1. Về lý thuyết,
Cronbach’s Alpha càng cao thì các biến có độ tin cậy càng cao. Những biến có Hệ số
tương quan khi đã khắc phục nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại. Thang đo có hệ số Cronbach’s
Alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên
cứu mới. Thông thường, thang đo có Cronbach alpha từ 0,7 đến 0,8 là sử dụng được.
4.2. Mô tả thống kê của các biến
Trước khi đi phân tích mô hình hồi quy, tác giả thống kê các biến trên như sau:
Bảng 4.2: Mô tả thống kê các biến
(Nguồn: Điều tra và phân tích của tác giả)
17
4.3. Phân tích tương quan giữa Lợi thế cạnh tranh và các nguồn lực
Phân tích tương quan hai biến dựa trên giả thuyết H0i: “ Biến i và biến gốc 0
không có mối quan hệ tuyến tính, tức hệ số tương quan bằng 0”. Trong giả thuyết này,
mức ý nghĩa được chọn là 0,01 (tức là xác suất chấp nhận giả thuyết sai là 1%). Khi
Hệ số tin cậy > 0,01 thì sẽ chấp nhận giả thuyết H0i, tức là hai biến đang xét không có
quan hệ tương quan. Còn khi Hệ số tin cậy < 0,01 thì sẽ bác bỏ giả thuyết H0i, hay là
hai biến đang xét có quan hệ tương quan. Sau khi phân tích số liệu qua SPSS ta có: Lợi
thế cạnh tranh chịu ảnh hưởng bởi Định hướng học hỏi và Định hướng thị trường, mà
không chịu ảnh hưởng bởi Số lượng cán bộ nhân viên và Quy mô tổng nguồn vốn.
4.4. Phân tích mô hình hồi quy
Để đánh giá tác động của các yếu tố vào Lợi thế cạnh tranh, tác giả sử dụng mô
hình hồi quy đa biến. Phương trình hồi quy đa biến cho mô hình được đề xuất như sau:
Y = f(x) = β0 + β1X1 + β2X2 + … + βnXn + ε.
Trong mô hình: Y là Lợi thế cạnh tranh. X1, X2,…, X7 lần lượt là các yếu tố
Số lượng nhân viên, Quy mô tổng nguồn vốn, Định hướng học hỏi, Định hướng thị
trường, Mức độ biến động của thị trường, Mức độ cạnh tranh, Mức độ phát triển công
nghệ. β1, β2,…, β7 lần lượt là hệ số của các yếu tố tương ứng.
Kiểm định giả thuyết sử dụng phần mềm SPSS để đánh giá độ phù hợp của mô
hình hồi quy đa biến và kiểm định về độ phù hợp của mô hình, tác giả lần lượt có kết
luận:
- Ba yếu tố môi trường không ảnh hưởng tới Lợi thế cạnh tranh.
- Hai yếu tố nguồn lực hữu hình không ảnh hưởng tới Lợi thế cạnh tranh.
- Hai yếu tố nguồn lực vô hình ảnh hưởng tới Lợi thế cạnh tranh.
Định hướng nhân viên 3,74 1,01
Định hướng cạnh tranh nhân viên 3,39 0,98
Định hướng thị trường 3,57 0,83
(Nguồn: Điều tra và phân tích của tác giả) 19
4.6. Phân tích Mô hình Lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào định hướng học hỏi, định
hướng thị trường
Tác giả sử dụng SPSS phân tích các mô hình và đạt được kết quả như sau:
Lợi thế cạnh tranh = 1,007 + 0,363 x Định hướng học hỏi + 0,356 x Định hướng
thị trường
Lợi thế cạnh tranh = 1,162 + 0,668 x Định hướng học hỏi
Lợi thế cạnh tranh = 1,433 + 0,609 x Định hướng thị trường
Lợi thế cạnh tranh = 1,176 + 0,264 x Cam kết học hỏi + 0,129 x Chia sẻ tầm
nhìn + 0,273 x Tư duy mở
Lợi thế cạnh tranh = 1,004 + 0,505 x Định hướng khách hàng - 0,257 x Định
hướng đối thủ cạnh tranh + 0,007 x Định hướng hợp tác đa chức năng + 0,3 x Định
hướng nhân viên + 0,155 x Định hướng cạnh tranh nhân viên
Kết quả kinh doanh = 1,368 + 0,414 x Lợi thế cạnh tranh
20
CHƯƠNG 5: NÂNG CAO LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG THUỘC BỘ XÂY DỰNG
5.1. Định hướng phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2020
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011 – 2020) đã đặt ra mục tiêu “Xây
dựng Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây, hay
ngay tại Việt Nam, lạm phát tăng cao, lãi suất biến động thất thường,… các doanh
nghiệp đều gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn tài chính.
5.3.2. Mục tiêu cần hướng tới
Là Bộ chủ quản ngành, định hướng chung của Bộ Xây dựng là nâng cao khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam. Bộ Xây
dựng đã đưa ra những mục tiêu cụ thể cần hướng tới:
Thứ nhất là tăng trưởng chiều sâu và đồng bộ.
Thứ hai là tăng trưởng bền vững.
Thứ ba là tăng trưởng thông minh.
5.4. Các giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh tại các doanh nghiệp sản xuất vật
liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng
5.5.1. Nâng cao các yếu tố làm tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Các hoạt trực tiếp nâng cao lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất vật
liệu xây dựng là rất quan trọng. Các giải pháp đó bao gồm:
Thứ nhất, các doanh nghiệp cần giảm chi phí sản xuất, đưa ra mức giá cạnh tranh
bằng hoặc thấp hơn đối với các đối thủ.
Thứ hai, doanh nghiệp cần đẩy mạnh hơn hoạt động nghiên cứu và phát triển
cũng như nghiên cứu thị trường.
5.5.2. Nâng cao định hướng học hỏi của doanh nghiệp
Thức nhất là tăng cường tư duy mở. Các doanh nghiệp cần thường xuyên tập hợp
ý kiến phản biện về cách thức giải thích các thông tin về khách hàng.
Thứ hai là nâng cam cam kết học hỏi. Giá trị cơ bản của công ty bao gồm việc
coi học tập là chìa khóa để cải tiến, mọi người cần cho rằng việc học tập của mỗi cá
nhân là sự đầu tư chứ không phải hoạt động tăng chi phí.
22
Thứ ba là chia sẽ tầm nhìn. Các lãnh đạo cấp cao cần nhận thức được việc này,
cần tuyên truyền, phổ biến cho mọi người nắm được, hiểu được định hướng của doanh
nghiệp, tầm nhìn của cán bộ quản lý.
Thứ sáu, tăng thuế nhập khẩu và thiết lập các hàng rào kỹ thuật đối với các sản
phẩm kính gia công mà trong nước đã sản xuất được.
5.5.2. Sứ vệ sinh
Thứ nhất, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Thứ hai, song song với sản phẩm chính cũng cần phát triển các sản phẩm phụ
kiện đi kèm với sứ vệ sinh.
Thứ ba là xây dựng thương hiệu, quảng bá hình ảnh.
Thứ tư, thực hiện các quy định về quản lý cạnh tranh, quản lý thị trường.
5.5.3. Gạch ốp lát
Thứ nhất, rà soát, chọn lọc những dòng sản phẩm riêng lẻ hiện có thành những
bộ sản phẩm cao cấp, tạo giá trị thặng dư cao, bên cạnh đó vẫn phát triển dòng sản
phẩm giá rẻ, phù hợp với khách hàng có mức thu nhập trung bình.
Thứ hai, trong đầu tư cần tập trung thành cụm, công suất lớn, chuyên môn hóa
sản xuất cao.
Thứ ba, nâng cao quy mô công suất, tiến tới loại bỏ các cơ sở sản xuất gạch ốp
lát có sản lượng thấp.
Thứ tư, đầu tư công nghệ mới hiện đại, dây chuyền tự động hóa cao.
Thứ năm, công nghệ cần đảm bảo để sản xuất được nhiều loại sản phẩm với các
kích thước khác nhau.
5.6.4. Gạch ngói và các sản phẩm đất sét nung
Thứ nhất, tiếp tục đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung
nhằm giảm tiêu hao nguyên nhiên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Thứ hai, phát triển các loại gạch có kích thước lớn, độ rỗng cao từ 50% trở lên.
Thứ ba, phát triển sản xuất gạch nung chất lượng cao có giá trị kinh tế, đặc biệt
là các loại gạch xây không trát phục vụ xây dựng trong nước và xuất khẩu.
Thứ tư, phát triển sản xuất gạch nung bằng nguyên liệu đất đồi, đất ít hiệu quả
trong nông nghiệp và phế thải công nghiệp (đất bìa trong khai thác than, đá sít than,…)
Thứ năm, kiến nghị Bộ Tài chính nghiên cứu đề xuất chính sách về thuế tài
nguyên đất sét sản xuất gạch nung cho phù hợp để giảm dần việc khai thác đất.