BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ THANH HƢƠNG
TÌM HIỂU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM
ĐỂ GIẢNG DẠY CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Quyết Thắng – TP. Sơn La cùng
những người thân yêu của em đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm
kiếm, thu thập tài liệu cũng như thực nghiệm đề tài này.
Chắc chắn đề tài hoàn thành sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất
mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Trần Thị Thanh Hƣơng DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Đọc là
1
2
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp thực nghiệm
và đối chứng tại trường Tiểu học Quyết Thắng
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp thực nghiệm
và đối chứng tại trường Tiểu học Quyết Thắng
50
52
54
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
STT
Số bảng
Tên bảng
Trang
1
2
3
4
5
6
Bảng 3.1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu 2
2.2. Nhiệm vụ 2
2.3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
3.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu 2
3.2. Phương pháp bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh 3
3.3. Phương pháp phân tích số liệu thống kê 3
3.4. Phương pháp thực nghiệm 3
4. Đóng góp của khóa luận 4
5. Cấu trúc của đề tài 4
CHƢƠNG 1. TÌM HIỂU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CÓ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu dạy học ở bậc tiểu học nhằm bước đầu hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách của con người, là nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ
thông và cho toàn hệ thống giáo dục quốc dân. Để đạt được mục tiêu này cần
phải đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực của
học sinh. Một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp đó là giáo viên
phải nắm chắc kiến thức để có thể giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách dễ
dàng và đầy đủ nhất.
Trong bộ môn Tự nhiên - Xã hội lớp 4 và lớp 5 phân môn địa lí chiếm vai
trò quan trọng, cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản, ban đầu về tự
nhiên, kinh tế - xã hội của Việt Nam và các châu lục trên thế giới. Trên cơ sở đó
giúp học sinh vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống và
trong chương trình lớp 5.
- Tiến hành thực nghiệm tại trường tiểu học, phân tích kết quả thực nghiệm
rút ra kết luận cần thiết.
2.3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về điều kiện và thời gian nghiên cứu nên tôi chỉ tập trung
nghiên cứu những vấn đề địa lí kinh tế - xã hội có liên quan đến chương trình
địa lí lớp 5 để thiết kế và vận dụng chúng vào giảng dạy phần địa lí Việt Nam
trong chủ đề địa lí lớp 5.
Địa bàn nghiên cứu chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học
Quyết Thắng – Thành phố Sơn La.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.1 . Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
Phương pháp nghiên cứu này giúp chúng ta tiếp cận vấn đề nhanh hơn.
Việc thu thập tài liệu về mặt lí luận giúp chúng ta hiểu kĩ hơn, sâu hơn và cắt
nghĩa được các hiện tượng, sự vật và các mối quan hệ địa lí ở Việt Nam.
Sau khi thu thập được những tài liệu cần thiết tiến hành hệ thống hóa, sắp
xếp các tài liệu, thông tin thu được có liên quan tới nội dung nghiên cứu theo
một cấu trúc khoa học với kết cấu chặt chẽ, các nguồn tài liệu được lựa chọn
3
theo từng nội dung cụ thể để có hệ thống khái quát giải thích cho chúng ta hiểu
những vấn đề cơ bản về địa lí Việt Nam.
3.2. Phương pháp bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh
Bản đồ, biểu đồ tranh ảnh là nguồn tài liệu hết sức quan trọng trong việc
khai thác vấn đề địa lí Việt Nam cho giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn địa lí
cũng như những người muốn tìm hiểu tới môn địa lí.
Nghiên cứu biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh nhằm tìm hiểu về lí thuyết từ đó vận
dụng vào thực tiễn giảng dạy để đạt dược hiểu quả dạy học, giúp học sinh hiểu
bài nhanh hơn, nhớ bài lâu và kĩ hơn.
3.3. Phương pháp phân tích số liệu thống kê
Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tìm hiểu địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam có liên quan đến chủ
đề địa lí lớp 5;
Chương 2: Vận dụng những kiến thức địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam để
thiết kế một số giáo án vào giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5;
Chương 3: Thực nghiệm. 5
CHƢƠNG 1
TÌM HIỂU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ
Diện tích lãnh thổ đất liền của nước ta là 331212 km
2
(Niên giám thống kê
2009). Nếu tính đến đường cơ sở, thì tổng diện tích đất liền và nội thủy là
khoảng 560 nghìn km
2
.
Nhà nước ta tuyên bố lãnh thổ hải Việt Nam rộng khoảng 12 hải lý, ở phía
ngoài đường cơ sở ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là biên giới của nước ta.
Vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hải lý hợp với lãnh hải thành vùng biển 24 hải
lý. Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Ở vùng biển
này, nước ta có quyền hoàn toàn riêng biệt về mặt kinh tế như: có chủ quyền
hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ, sử dụng và bảo vệ tất cả các tài nguyên
6
thiên nhiên, quyền riêng biệt về thiết lập các công trình, đảo nhân tạo, quyền
riêng biệt về nghiên cứu khoa học và bảo vệ, chống ô nhiễm môi trường.
Thềm lục địa Việt Nam gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần
kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam, mở rộng ra lãnh hải Việt Nam cho đến bờ
ngoài của lục địa. Nơi nào bờ ngoài rìa lục địa cách đường cơ sở chưa đến 200
hải lý thì thềm lục địa được mở rộng ra cách đường cơ sở 200 hải lý. Nước ta có
chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác và bảo vệ và quản lý các tài
nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam.
Dọc theo bờ biển nước ta suốt từ Bắc vào Nam có khoảng 4000 nghìn đảo
lớn nhỏ, tập trung nhiều nhất ở vùng biển thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng
(vịnh Bắc bộ) và các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau thuộc vùng biển Tây Nam nước
ta (trong vịnh Thái Lan). Cách bờ tương đối xa, từ 170 đến 250 hải lý là huyện
Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) và huyện Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa).
Nước ta nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến, nóng ẩm, ở giữa vùng
Châu Âu gió mùa, lại ở rìa phía đông bán đảo Trung - Ấn, thông ra Thái Bình
chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các nước láng
giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Theo quan điểm địa lí chính trị và địa lý quân sự, nước ta có vị trí đặc biệt
quan trọng ở vùng Đông Nam Á, một khu vực kinh tế năng động và nhạy cảm
với những biến động chính trị trên thế giới. Đặc biệt Biển Đông đối với nước ta
là một hướng chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế
và bảo vệ tổ quốc.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1.1.2.1. Địa hình
Nước ta có tới hơn 3/4 diện tích là đồi núi, không đến 1/4 là đồng bằng.
Điều kiện địa hình đồi núi làm cho thiên nhiên nước ta phân hóa đa dạng, phân
hóa theo chiều kinh tuyến rõ rệt từ Bắc vào Nam và sự phân hóa theo đai cao.
Chính đặc điểm địa hình của nước ta đã tạo ra nét đặc sắc trong sử dụng tự
nhiên, với sự tương tác giữa miền núi, trung du và vùng châu thổ, với các dòng
vật chất, năng lượng trao đổi giữa miền núi và đồng bằng theo các lưu vực sông.
8
Sự phân hóa của các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên giữa đồng
bằng và miền núi, trung du đã tạo ra những tiền đề tự nhiên cho sự hình thành
những cấu trúc kinh tế khác nhau, bổ sung cho nhau.
1.1.2.2. Điều kiện khí hậu
Khí hậu nước ta là nhiệt đới ẩm gió mùa. Tính chất nhiệt đới thể hiện ở
tổng xạ ở miền Bắc trên 120 kcal/cm
2
/năm, còn ở miền Nam 130 kcal/cm
2
/năm.
Cân bằng bức xạ quanh năm dương ở miền Bắc là 86 kcal/cm
2
/năm, còn ở miền
bằng này phát triển nền nông nghiệp lúa nước và các ngành kinh tế khác. Ven
9
sông có nhiều địa điểm thuận lợi cho việc lập làng, phát triển các đô thị. Nhiều
trung tâm công nghiệp, dịch vụ đều được phân bố ven sông. Ven sông có các
cảng sông, thậm chí có cảng ý nghĩa quốc tế như cảng Cần Thơ. Ngoài ra, sông
ngòi nước ta còn có giá trị rất lớn về thủy điện.
1.1.2.4. Tài nguyên đất
Nước ta có hai nhóm đất chính là đất ferarit ở miền núi và đất phù sa ở
đồng bằng.
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phần lớn diện tích đồi núi
của nước ta là đất ferarit loại đất này thích hợp cho trồng cây công nghiệp.
Ngoài đất ferarit còn một số loại đất khác. Đất xám phù sa cổ ở rìa Đồng bằng
sông Hồng và tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Bộ, có khả năng phát triển cây
công nghiệp và cây ăn quả.
Đất bazan được tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, một phần Đông Nam Bộ.
Đây là loại đất rất thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp (đặc biệt cao su, cà
phê…) trên quy mô lớn.
Ở các châu thổ dọc theo các thung lũng, đất phù sa chiếm ưu thế. Hai đồng
bằng rộng nhất đồng thời là hai vựa lúa lớn nhất của nước ta có nhiều diện tích
đất phù sa. Đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính,
rất thích hợp cho việc trồng lúa nước.
Ngoài đất phù sa, ở vùng đồng bằng tồn tại các loại đất khác (đất mặn, đất
chua mặn ven biển, đất cát, đất gây hóa trong các vùng trũng, đất lầy thụt than
bùn), nhưng giá trị đối với sản xuất nông nghiệp bị hạn chế rất nhiều.
1.1.2.5. Hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật
Các hệ sinh thái ở nước ta rất đa dạng và phong phú, gồm có các hệ sinh
thái: hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa; hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới; hệ sinh
thái rừng thưa nhiệt đới và xavan; hệ sinh thái trên các loại thổ nhưỡng đặc biệt;
hệ sinh thái do ảnh hưởng của độ cao.
(vào năm 2012: 241,0 triệu người) và Philippin (năm 2012: 96,2 triệu người).
Dân số là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế. Với dân số đông,
nước ta có nguồn lao động dồi dào. Đồng thời đây còn là thị trường tiêu thụ rộng
lớn. Tuy nhiên, trong điều kiện của nước ta hiện nay, dân số đang là một trở ngại
11
lớn cho việc phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống tinh thần
và vật chất cho nhân dân.
1.2.1.2. Dân số tăng nhanh
Dân số nước ta tăng nhanh, đặc biệt là nửa cuối thế kỉ XX, đã dẫn đến hiện
tượng bùng nổ dân số. Trong 70 năm (1921 – 1990), dân số nước ta tăng thêm
50,7 triệu người, trong 35 năm đầu (1921 – 1955) chỉ tăng thêm 9,4 triệu, còn 35
năm sau (1956 – 1990) đã tăng thêm 41,3 triệu người.
Do kết quả của việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình
nên thời gian qua mức gia tăng dân số ở nước ta có giảm đi (1989 – 1999) tỉ lệ
gia tăng dân số là 1,7%, giai đoạn (2002 – 2005) là 1,32%, tuy giảm nhưng còn
chậm, mỗi năm dân số nước ta vẫn tăng thêm trung bình hơn 1 triệu người. So
với khả năng kinh tế của đất nước, nhất là trong điều kiện mức gia tăng dân số
cao. Nước ta vẫn tiếp tục phải duy trì mức gia tăng dân số thấp hơn nữa để đảm
bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
Gia tăng dân số nhanh đã tạo nên sức ép rất lớn đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và việc
nâng cao chất lượng cuộc sống của từng thành viên trong xã hội.
1.2.2. Dân tộc
1.2.2.1. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc
Theo tổng cục thống kê công bố ngày 2/3/1979 đã xác định 54 dân tộc khác
nhau đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đại đa số các dân tộc có nguồn gốc
bản địa, có quá trình hình thành và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ
nước, cùng sống chung dưới mái nhà của Việt Nam thống nhất .
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Việt (Kinh) chiếm đa số
Hồ Chí Minh.
1.2.3. Sự phân bố dân cư
1.2.3.1. Tình hình chung
Cũng giống như các nước trên thế giới, sự phân bố dân cư ở nước ta phụ
thuộc vào các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử. Tùy theo từng thời gian
và lãnh thổ cụ thể, các nhân tố ấy tác động một cách khác nhau để tạo nên một
bức tranh phân bố dân cư như hiện nay.
13
Năm 2004 với số dân 82,0 triệu người sống trên diện tích hơn 33 vạn km
2
,
mật độ dân số trung bình toàn quốc là 249 người/km
2
. So với năm 1989, mật độ
dân số tăng thêm 53 người/km
2
. Mật độ dân số nước ta cao hơn mật độ dân số
thế giới cũng năm 2004 là 5,2 lần và vượt xa các nước láng giềng trong khu vực
(Lào 24 người/km
2
, Campuchia 72 người/km
2
, Trung Quốc 135 người/km
2
).
1.2.3.2. Dân cư nước ta phân bố không đồng đều
Các vùng đồng bằng chiếm 38% diện tích cả nước, nhưng lại có hơn 80%
dân số. Ngược lại, trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chiếm 1/2 diện
tích cả nước nhưng chỉ có gần 20% dân số.
2
, Thành phố Hồ Chí Minh 2651 người/km
2
.
Dân cư nước ta phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn khoảng 3/4
dân số nước ta sống ở nông thôn, chỉ có khoảng 1/4 dân số sống ở thành thị.
Sự phân bố dân cư chưa hợp lí làm ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng lao
động, khai thác tài nguyên. Vì vậy, thực hiện chính sách chuyển cư phù hợp,
thúc đẩy sự phân bố dân cư và lao động trên phạm vi cả nước là rất cần thiết.
1.3. Sự phát triển kinh tế
1.3.1. Nông nghiệp
1.3.1.1. Điều kiện phát triển ngành nông nghiệp ở nước ta
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Nông nghiệp có những đặc điểm đặc thù khác hẳn với ngành kinh tế khác.
Từ những đặc điểm đó, có thể thấy sự phát triển và phân bố của ngành này phụ
14
thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Chính vì thế, các
nhân tố quan trọng hàng đầu là đất đai, khí hậu và nguồn nước.
Đất đai
Đất đai là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến quy mô, cơ cấu và phân bố
nông nghiệp, đặc biệt là đối với ngành trồng trọt.
Nước ta có hai nhóm đất chính là đất ferarit ở miền núi và đất phù sa ở
đồng bằng. Tùy theo các nhân tố, điều kiện hình thành và mức độ tác động của
con người, các loại đất có sự phân hóa khác nhau.
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phần lớn diện tích đồi núi
của nước ta là đất ferarit loại đất này thích hợp cho trồng cây công nghiệp. ngoài
đất ferarit còn một số loại đất khác. Đất xám phù sa cổ ở rìa Đồng bằng sông
Hồng và tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Bộ, có khả năng phát triển cây công
nghiệp và cây ăn quả. Đất đen (macgalit) phát triển trên đá bazơ (đá bazan, đá
rét đậm và có sương giá. Miền Nam có khí hậu nhiệt đới điển hình với mùa khô
và mùa mưa rõ rệt. Miền Trung là nơi giao thoa khí hậu giữa hai miền Bắc Nam.
Tác động của khí hậu với nông nghiệp nước ta trước hết là việc cung cấp
bức xạ lớn, nguồn ánh sáng dồi dào, nguồn nhiệt phong phú cho cây trồng sinh
trưởng, phát triển quanh năm và năng suất cao hơn. Hơn nữa, độ ẩm không khí
cao, lượng mưa dồi dào cho phép cây trồng có sức tái sinh mạnh mẽ, thúc đẩy
nở hoa kết trái. Điều kiện sinh thái nóng ẩm giúp cho cây ngắn ngày có thể tăng
thêm từ một đến hai vụ trong năm. Đối với cây dài ngày, có thể khai thác nhiều
đợt, nhiều vụ.
Trên bình diện cả nước, các đặc trưng về khí hậu tạo điều kiện bố trí được
một tập đoàn cây trồng vật nuôi bao gồm cả nhiệt đới và ôn đới phù hợp với hệ
sinh thái theo hướng phát triển bền vững ở vùng núi cao trên 1.500m khí hậu
quanh năm mát mẻ cho phép có thể hình thành tập đoàn cây trồng vật nuôi có
nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới. Lượng tích ôn đới thuận lợi cho việc tạo ra nhiều
vụ. Riêng miền Bắc, mùa đông lạnh là tiền đề để phát triển cây vụ đông.
Bên cạnh những thuận lợi, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cũng gây ra nhiều
trở ngại đáng kể cho sản xuất nông nghiệp. Tính chất biến động và sự phân hóa
về khí hậu có những mặt trái của nó như bão, lũ lụt, hạn hán … mà trong những
năm gần đây, cường độ có chiều hướng gia tăng. Vùng này đang bị úng lụt trong
16
khi các vùng khác lại thiếu nước nghiêm trọng. Sâu bệnh hại cây trồng, vật nuôi
dễ dàng phát triển thành dịch lớn. Điều này làm tăng thêm tính chất bấp bênh
vốn có của một nền nông nghiệp nhiệt đới và đòi hỏi phải có phương sách hữu
hiệu và đầu tư thích đáng để giảm thiểu thiên tai.
Nguồn nước
Nằm trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có nguồn nước phong phú. Do các hệ
thống sông lớn của nước ta bắt nguồn từ các nước láng giềng (hệ thống sông
Hồng từ Trung Quốc, hệ thống sông Mã, sông Cả từ Lào, sông Cửu Long thuộc
hệ thống sông Mê Công từ Mianma …) nên khối lượng nước mặt lớn hơn nước
giữa các ngành và các vùng trong cả nước. Phần lớn lao động tập trung ở các
vùng đồng bằng, nhất là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long,
và chủ yếu trong ngành trồng trọt.
Như vậy, nguồn lao động với tính chất hai mặt của nó đã tạo ra những
thuận lợi và khó khăn đối với sản xuất nông nghiệp.
Đường lối chính sách phát triển nông nghiệp
Việt Nam là một nước nông nghiệp. Vì thế, từ lâu nông nghiệp đã được
Đảng và Nhà nước coi là mặt trận hàng đầu.
Liên tục từ năm 1986, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính
sách khuyến khích phát triển nông nghiệp. Đường lối đổi mới trong nông nghiệp
là nguyên nhân quan trọng nhất của những thành tựu to lớn mà nông nghiệp đã
đạt được trong những năm qua. Đại hội VI của Đảng (1986) đã vạch ra đường
lối đổi mới, đã xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp.
Các hộ gia đình có quyền tự quyết trong các hoạt động sản xuất của họ. Nhờ vậy
mà người nông dân phấn khởi đầu tư nâng cao năng suất. Từ năm 2000, chính
phủ có quyết định về trang trại, tạo ra giai đoạn mới trong phát triển kinh tế
trang trại ở nước ta. Chính sách nông nghiệp bao gồm các chính sách giá, chính
sách đất đai, chính sách tín dụng nông thôn và chính sách đầu tư.
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ nông nghiệp
Cơ sở hạ tầng nông thôn tuy còn thiếu và chất lượng còn hạn chế nhưng đã
tạo được những điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế nông thôn. Hầu hết các
xã có thể giao lưu bằng ôtô nhờ hệ thống giao thông nông thôn; các tuyến đường
quốc lộ huyết mạch đã nối các vùng kinh tế của cả nước, miền núi với đồng bằng,
18
nông thôn với các trung tâm kinh tế lớn và với các cửa khẩu. Những tiến bộ trong
việc điện khí hóa nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rút ngắn khoảng
cách giữa nông thôn và thành thị, đưa công nghệ mới vào công nghiệp hóa nông
thôn. Cơ khí hóa trong nông nghiệp đã có những bước tiến mới.
Ngoài những nhân tố kể trên còn nhiều nhân tố khác nữa như thị trường