Nhóm 4 :
ĐỀ:
Phân tích lý do ra đời của NHPT
Từ đó đưa ra quan niệm và đặc điểm về NHPT
Liên hệ phân tích lý do ra đời của NHPT Việt Nam (VDB).
Bài làm
I.Lý do ra đời của các NHPT :
1. Xuất phát từ nhu cầu “cần một tổ chức có thể tài trợ cho tất cả các dự án phát triển”
Có nhiều nguồn tài trợ cho dự án phát triển, , bao gồm: nguồn ngân sách nhà nước, từ các tổ chức tài chính quốc
tế, vay ngân hàng thương mại hoặc từ những người hưởng lợi từ dự án. Tuy nhiên, mỗi nguồn tài trợ có những đặc
điểm khác nhau và chỉ thích hợp cho một hoặc một số dự án nhất định. Từ đó làm nảy sinh nhu cầu cần có nguồn tài
trợ rộng nhất, bao trùm nhất, có thể tài trợ cho tất cả các dự án. Và NHPT ra đời như là một điều tất yếu, vì nguồn
tài trợ của nó đảm bảo đủ 3 yêu cầu: tập trung với khối lượng lớn trong thời gian ngắn, lãi suất thấp và thời gian
sử dụng dài. Mặt khác, NHPT không chỉ đơn thuần là giải ngân, cấp tín dụng cho các dự án mà trước đó nó cũng
thực hiện các nghiệp vụ như một ngân hàng thương mại, tức là cũng có phân tích, thẩm định các dự án dựa trên
nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng ; người vay phải đảm bảo hoàn trả vốn và lãi sau thời gian cam kết.
Đồng thời NHPT cũng phải quản lý chặt chẽ việc sử dụng vốn của các dự án, có biện pháp phòng ngừa rủi ro, có
thể gợi ý hoặc hỗ trợ nếu các dự án gặp khó khăn… Như vậy đối tượng phục vụ của NHPT được mở rộng ra rất
nhiều, từ những dự án quy mô trung bình cho tới những dự án lớn, có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của
vùng, ngành hoặc liên quan đến phân phối thu nhập cho các tầng lớp dân cứ nghèo, cải thiện môi trường….
2.Đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho phát triển kinh tế
Để nền kinh tế phát triển thì nhu cầu vốn là rất lớn, đặc biệt vốn trung và dài hạn, ví dụ như:
+ Nhu cầu về cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng cho phát triển giao thông, thương mại mậu dịch,
điện nước, y tế giáo dục… nhằm nâng cao giá trị cuộc sống.
+ Nhu cầu của các doanh nghiệp: đầu tư mới trang thiết bị máy móc, mở rộng quy mô sản xuất nhằm tăng
năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội.
Tuy nhiên những nguồn để đáp ứng nhu cầu trên là rất hạn chế, đặc biệt tại các nước đang phát triển. Nguyên
nhân do:
- Hệ thống NHTM với nguồn vốn ngắn hạn là chủ yếu, chỉ tập trung cho vay ngắn hạn.
+ Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn thấp và kì hạn thường chỉ từ 3 đến 7 năm => Kỳ hạn cho vay của nhiều
NHTM không phù hợp với các công trình xây dựng cơ bản có quy mô lớn và sử dụng trong thời gian dài, thu hồi vốn
- Thứ hai, nhiều NHTM không sẵn sàng đầu tư vào dự án phát triển do phần lớn các khoản tín dụng của NHTM
đòi hỏi phải có tài sản thế chấp và phải có hiệu quả tài chính theo cơ chế thị trường. Sự khan hiếm nguồn vốn làm cho
lãi suất các nguồn tài chính này rất đắt, không thích hợp với các dự án phát triển dài hạn có tỷ lệ sinh lời thấp, rủi ro
cao và thường không có tài sản đảm bảo.
Các NHTM chủ yếu là
nguồn vốn ngắn hạn
TTCK kém hiệu quả
ở các nư ớc đang phát triển
S ự cần thiết phải tạo lập
thể chế tài chính
nhằm cấp vốn trung dài hạn,
đó là NHPT
Nhu cầu vốn
cho phát triển kinh
tế
Thiếu vốn trung,dài hạn
cho phát triển kinh tế
Các quỹ đầu tư Nhà nước có
quy mô nhỏ
-
*Hai vấn đề trên cho thấy NHTM không phải là tổ chức có khả năng tài trợ cho các dự án phát triển, do đó NHPT
ra đời như là một tổ chức tài chính thực hiện và kiểm soát chính sách tài trợ ưu tiên có hạn chế của Chính phủ
nhằm thực hiện các công cụ đầu tư đặc biệt. Các hoạt động của NHPT nhằm mục đích xã hội nhiều hơn là mục
đích kinh tế, có tính chất hỗ trợ nhiều hơn là kinh doanh, đảm bảo thực hiện được các dự án phát triển góp phần
đảm bảo các lợi ích xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
4.Yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển có hiệu quả
Một dự án phát triển hướng tới nhiều mục tiêu khác nhau: tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, thu hẹp
khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực, bảo vệ môi trường sinh thái… nhưng vẫn cố gắng thu lợi nhuận ở một
mức nhất định. Các mục tiêu này trong nhiều trường hợp tự mâu thuẫn với nhau và gây cản trở hoạt động của các
thể chế tài chính theo cơ chế thị trường, chủ yếu hoạt động vì lợi ích kinh tế.
*Huy động các quỹ của nhà nước (tài trợ của nhà nước cho dự án phát triển)
*Huy động các khoản tài trợ từ các tổ chức khác
*Vay nước ngoài(song phương,đa phương hoặc từ các tổ chức tài chính phát triển)
*Tài trợ từ ngân hàng TW
*Vốn và quỹ của ngân hàng
- Quản lý nguồn vốn :
Chiến lược nguồn vốn của ngân hàng là khai thác triệt để các nguồn hỗ trợ từ chính phủ,các tổ chức tài
chính,tiết kiệm trung và dài hạn của dân cư. Huy động vốn trung và dài hạn :
+Liên kết các sự án trong nước và các nhà tài trợ nước ngoài được coi là hoạt động quan trọng trong
huy động vốn: Đòi hỏi ngân hàng phải am hiểu và nhạy bén với các điều kiện chính trị xã hội mà nhà tài trợ
đưa ra (Nghiên cứu nhà tài trợ,các nhân tố ảnh hưởng đến nhà tài trợ,tìm kiếm các dự án thích hợp với từng
nhà tài trợ).
+ NH kêu gọi tài trợ: Xây dựng các phương án xin tài trợ,gặp các nhà tài trợ thuyết minh tính cấp thiết của dự án,kế
hoạch thực hiện,chi phí ngân sách…
+ NH xác lập mối quan hệ giữa chính phủ và ngân hàng trong tài trợ dự án
Thu hồi vốn , có lãi
Quay vòng vốn thực
hiện nhiều dự án
Tập trung các nguồn vốn
Cho phát triển kinh tế
Nhu cầu tài trợ có
hiệu quả
Thiếu vốn trung,dài hạn
cho phát triển kinh tế
Tự trang trải chi phí
Có lãi
+ NH phát hành giấy nợ : Việc phát hành giấy nợ gồm có : Xác định mệnh giá,loại tiền ; xác định thời điểm và địa
điểm ; khả năng chuyển nhượng ; xây dựng phương án phát hành ; xác định tỉ lệ thích hợp của nguồn vay mượn
+ NH dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến huy động tiết kiệm trung và dài hạn
Xác định ngân quỹ của NH trong mối quan hệ với nhu cầu thanh khoản trong trung và dài hạn
Phần lớn các khoản tiền gửi và cho vay đều là trung và dài hạn,do vậy NHPT phải tính toán nhu cầu thanh
khoản chu kỳ và xu hướng nhằm đảm bảo ngân quỹ hợp lý
+Quản lý rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái:
* Rủi ro lãi suất : Một trong các biện pháp giảm rủi ro lãi suất là áp dụng lãi suất thả nổi,tuy nhiên áp
dụng biện pháp này cho các dự án dài hạn với khả năng sinh lời thấp là rất khó khăn, do việc ra tăng lãi suất sẽ
trở thành gánh nặng tài chính mà nhiều dự án không vượt qua được.NHPT thường áp dụng các biện pháp san
sẻ rủi ro giữa người cho vay và người đi vay bằng cách đặt ra nhiều kỳ hạn trả nợ nhằm giảm bớt rủi ro lãi suất
*Rủi ro hối đoái : Nhiều khoản vay từ nước ngoài của NHPT dưới hình thức ngoại tệ mạnh,do vậy
nếu NH cho vay lại bằng nội tệ thì phải đối đầu với rủi ro hối đoái. NH có thể áp dụng biện pháp cho vay bằng
ngoại tệ hoặc sử dụng giá thả nổi để chuyển rủi ro hối đoái lên khách hàng
+Quản lý các khoản cho vay và tính sinh lời của tài sản: Nội dung quản lý thanh khoản cho vay bao gồm
* Xác định quy mô và tỷ trọng các khoản cho vay ưu đãi theo chỉ thị của chính phủ
* Xác định rủi ro từ các dự án
* Tìm kiếm phân tích thẩm định các dự án phát triển phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của
quốc gia
1.1.3 Các hoạt động khác : bảo lãnh , tư vấn . hỗ trợ đầu tư
1.2. Vai trò
Ngân hàng phát triển có vai trò đặc biệt như là một công cụ của nhà nước trong việc đánh giá , khuyến khích
và tài trợ các dự án phát triển.
- NHPT là một tổ chức phát triển kinh tế có nhiệm vụ tập trung các nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư có
trọng điểm và ưu đãi cho các dự án phát triển.
Vai trò này của ngân hàng được thể hiện thông qua :
+Các mục tiêu phát triển mà ngân hàng theo đuổi :
Hoạt động chính của NHPT là tài trợ cho các dự án phát triển nhằm phát triển công nghiệp và nông nghiệp.
Thông qua cho vay trung hạn và dài hạn , ngân hàng khuyến khích phát triển cơ sở hạ tầng , phát triển doanh
nghiệp , thay đổi cơ cấu thu nhập và cơ cấu kinh tế …
+ các loại dự án mà ngân hàng tài trợ :
NHPT tài trợ cho các dự án có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của vùng , nghành hoặc liên quan đến
phân phối thu nhập cho các tầng lớp dân cư nghèo , cải thiện môi trường … kết hợp mục tiêu tài chính và các
- Hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa.
Thực hiện chính sách tín dụng XK như cho vay XK, bảo lãnh tín dụng XK, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực
hiện hợp đồng XK.
- Thúc đẩy thị trường tài chính phát triển.
NHPT đã và đang chứng tỏ mình không chỉ là một công cụ đắc lực của Chính phủ trong tài trợ đầu tư và xuất
khẩu mà còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường tài chính với sự đa dạng về dịch vụ và hoạt
động năng động trên thị trường vốn khu vực và quốc tế; tiềm lực tài chính mạnh.Cung ứng các dịch vụ thanh
toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của Ngân
hàng Phát triển theo quy định của pháp luật
2.ĐẶC ĐIỂM
Phân tích tên gọi “ngân hàng phát triển” để hiểu đây cũng là một hình thức ngân hàng, tức là nó vẫn sẽ mang các đặc
điểm cơ bản của một ngân hàng. NHPT cũng là một tổ chức tín dụng, hoạt động trên cơ sở lấy thu bù chi và có lãi.
Dựa trên tính chất này mà NHPT được phân biệt với các tổ chức quản lý và hành chính khác. Tuy nhiên, cũng như sự
giống và khác nhau giữa “dự án phát triển” và “dự án thương mại”, ngân hàng phát triển cũng có những điểm
khác biệt so với ngân hàng thương mại, để có thể thực hiện tốt nhất mục tiêu “hướng đến các lợi ích xã hội” của
mình.
NHPT là một tổ chức tài chính được sự hỗ trợ của Chính phủ : Hầu hết các NHPT trên thế giới đều
có sự tham gia và hỗ trợ rất lớn của Chính phủ. Ở Việt Nam, NHPT là tổ chức tài chính của Chính phủ, có
nhiệm vụ tổ chức nguồn vốn cho dự án phát triển, nguồn tài trợ của Chính phủ dưới hình thức cấp tín dụng
được thực hiện thông qua NHPT. Nói cách khác, NHPT hoạt động nhằm phục vụ chính sách phát triển của
Nhà nước. Do đó NHPT được hưởng một số ưu đãi nhất định từ phía Nhà nước, ví dụ như: tỷ lệ dự trữ
bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh
toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật….
Bên cạnh nguồn tài trợ từ Chính phủ, NHPT còn có khả năng tự huy động trên thị trường vốn, do
đó NHPT có thể tài trợ một cách đa dạng với nhiều loại lãi suất, hình thức khác nhau. Do đó thích hợp
cho nhiều loại dự án phát triển khác nhau. Thông qua NHPT, vốn ưu đãi được quay vòng có hiệu quả.
Phương thức hoạt động chủ yếu là đầu tư trung và dài hạn cho các công trình kinh tế trọng điểm,
hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển thông qua đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Điều này hoàn toàn
tương ứng với đặc điểm của các dự án phát triển, chủ yếu là các dự án trung và dài hạn. Các nghiệp vụ
chính mà NHPT thực hiện là:
• Vay từ các tổ chức tín dụng khác:
liên ngân hàng
• Vay nước ngoài
• Vốn tự có của ngân hàng
• Huy động tiền gửi trên thị trường chủ
yếu trung hạn dài hạn thông qua việc mở tài
khoản thanh toán phục vụ các dự án hoặc các
doanh nghiệp
• Phát hành các giấy nợ trung và dài
hạn
• Huy động các quỹ của nhà nước
• Huy động các khoản tài trợ từ các tổ
chức khác
• Vay nước ngoài, vay thông qua thị
trường quốc tế có đảm bảo của Nhà Nước
• Tài trợ từ Ngân hàng Nhà Nước
• Từ vốn và quỹ của Ngân hàng
Sử dụng vốn
• Nghiệp vụ ngân quỹ
o Tiền mặt tại quỹ
o Tiền gửi tại Ngân hàng nhà
nước
o Tiền gửi tại các ngân hàng
khác
• Nghiệp vụ cho vay
o Chiết khấu thương phiếu
o Cho vay ứng trước
o Cho vay vượt chi
o Bao thanh toán hay tín dụng
ủy thác thu
o Tài trợ độc lập hoặc đồng tài
trợ
• Đầu tư vào các tài sản khác
Một số đặc điểm khác
• NHTM phải dự trữ bắt buộc theo quy
định của NHNN
• Được phép nhận tiền gửi của dân cư
• Kinh doanh dựa trên mục tiêu lợi
nhuận
• Có hệ thống chi nhánh rộng khắp
trên các tỉnh thành quận huyện
• Kinh doanh và nộp thuế theo quy
định của nhà nước như các doanh nghiệp
khác
• Ngân hàng thương mại có khả năng
mở rộng tiền gửi không kì hạn từ một khoản
ban đầu (chức năng tạo tiền của NHTM)
• Không phải dự trữ bắt buộc
• Không được phép nhận tiền gửi của
dân cư
• Không vì mục tiêu lợi nhuận
• Chỉ tập trung ở một vài nơi
• Được chính phủ bảo lãnh thanh toán
và không phải đóng thuế và các khoản nộp
khác cho Ngân sách Nhà nước
• Không có chức năng này
III. NHPT Việt Nam (The Vietnam Development Bank – VDB)
1.Giới thiệu chung
Ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 108/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Phát triển
Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển và
cơ sở hạ tầng cho các làng nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho các vùng sâu, vùng xa và hỗ trợ xuất
khẩu. Những dự án này thường có thời gian đầu tư dài, rủi ro cao, thu hồi vốn chậm nên nhà đầu tư tư nhân hoặc
nước ngoài không muốn hoặc không có khả năng đầu tư. Đồng thời khi đó, thị trường vốn Việt Nam mới trong
giai đoạn phát triển và chưa hoàn thiện, vẫn còn nhiều biểu hiện “méo mó” nên khả năng huy động vốn để đầu tư
cho các dự án phát triển là rất khó khăn. VDB ra đời nhằm tạo thế chủ động cho việc tìm kiếm và huy động đủ vốn
cho dự án, đề xuất chính sách để huy động tối đa các nguồn lực xã hội đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng
cao chất lượng tín dụng, khắc phục tình trạng giải ngân và thu hồi nợ chậm, giảm tỷ lệ nợ quá hạn.
VDB được thành lập dựa trên Luật các tổ chức tín dụng và luật Ngân sách Nhà nước nên điểm khác biệt chính là
VDB hoạt động theo hình thức ngân hàng với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đa dạng hơn. So với hoạt động của
DAF, VDB sẽ được tăng quyền chủ động, tăng tính trách nhiệm trong đánh giá, thẩm định cho vay các dự án và
có quyền từ chối cho vay đối với những dự án kém hiệu quả. Tuy nhiên, do là ngân hàng thực hiện chính sách nên
VDB chịu sự điều chỉnh của Luật Ngân sách và kế thừa mọi quyền lợi, trách nhiệm từ DAF.
VDB là ngân hàng thực hiện chính sách (ở đây là chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu do Chính
phủ quy định) nên sẽ có nhiều ưu đãi. Không chỉ có ưu đãi về lãi suất vốn vay, VDB còn ưu tiên cho vay các dự án có
độ rủi ro lớn mà tư nhân hoặc các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp ngần ngại không đầu tư, nhất là ở những
địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn. VDB không tính đến lợi nhuận của mình nhưng dự án đó phải chắc chắn có hiệu
quả thì VDB mới đầu tư. Bên cạnh đó, VDB còn cho vay những dự án lớn có thời gian hoàn trả vốn dài hạn đến 10
năm, 15 năm, điều mà ít ngân hàng thương mại có thể l àm được. Ngoài ra, phần lớn các dự án sẽ được vay bảo đảm
tiền vay bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay, trường hợp phải thế chấp thì chỉ cần thế chấp 30% là đã có thể vay
100% ( tới đây tỷ lệ này dự kiến hạ xuống còn 15%) - số liệu thời kỳ VDB mới ra đời, năm 2006. Đây chính là những
ưu đãi rất lớn mà VDB có được nhằm thực hiện thành công chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu
của Nhà nước.
3. Nhận xét
Sau khi liên hệ lý do ra đời của một NHPT điển hình với lý do ra đời của NHPT Việt Nam, thấy rằng NHPT Việt Nam
ra đời cũng dựa trên những nguyên tắc, nguyên nhân cơ bản như bất kỳ một NHPT ở các quốc gia khác, kể cả những
quốc gia phát triển. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đang trên đà hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực, rút ngắn sự lạc
hậu và khoảng cách tiến bộ. Nó cũng chứng tỏ các cấp lãnh đạo kinh tế Việt Nam đã có tầm nhìn xa hơn, rộng hơn,
một dấu hiệu tốt chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam đang trên đà khởi sắc. Thực tế cũng cho thấy từ khi ra đời, NHPT
Việt Nam đã hoạt động khá hiệu quả, phát huy được tính chủ động mà ở các mô hình trước không có, làm gia
tăng cả về số lượng và chất lượng của các dự án phát triển. Cơ sở hạ tầng của Việt Nam được cải thiện rõ rệt, khu
Chương trình trồng và chăm sóc 5 triệu ha rừng, trồng rừng nguyên liệu và cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, chăn
nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản…góp phần thực hiện an sinh xã hội, nông thôn, nông dân
với số vốn đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng. Các dự án an sinh xã hội khác như trường học, bệnh viện, xử lý rác thải,
cấp nước sạch…cũng được đầu tư hàng nghìn tỷ đồng bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua
NHPT.
*Định hướng của VDB
Tính đến nay, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã từng bước phục vụ được chủ trương của Chính phủ là
hỗ trợ phát triển các ngành nghề trọng điểm, cho vay xuất khẩu, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng khó khăn, nhà ở
xã hội…
Về định hướng thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2010 – 2015, VDB đặt mục tiêu đạt được các tiêu chí cơ bản của một
ngân hàng theo hướng an toàn và tăng trưởng bền vững. Bên cạnh đó, từng bước đa dạng hoá các dịch vụ ngân
hàng, giảm cấp bù chênh lệch lãi suất và chi phí quản lý từ ngân sách nhà nước. Tỷ lệ nợ xấu phân loại theo
chuẩn mực dưới 5%; hệ số an toàn vốn tối thiểu 15%.
VDB cũng tiếp tục nghiên cứu chiến lược phát triển, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy, phương hướng đào tạo nguồn
nhân lực, nâng cao chất lượng hoạt động tiến tới phát triển bền vững đúng với mục đích là một công cụ của Chính phủ
trong hỗ trợ đầu tư phát triển.
VDB chủ động cùng với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng đề án
phát triển VDB với tư cách là một ngân hàng chính sách phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội.
VDB lưu ý tăng cường năng lực kiểm tra, kiểm soát, giám sát tình hình hoạt động, cảnh báo sớm các vấn đề còn tồn
tại.(một số vấn đề đã được cảnh bảo ở VDB là dự phòng rủi ro thấp(0.5%/tổng tài sản có rủi ro), các doanh nghiệp vẫn
khó tiếp cận nguồn vốn vay qua VDB)