TIỂU LUẬN: Những mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Những mâu thuẫn biện chứng trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam

a. lời mở đầu

Việt Nam - trong công cuộc đổi đã thực sự đem lại nhiều kết quả to lớn, làm thay
đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và
chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc

I/ Mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của mọi vận động và phát triển
1. Nội dung của qui luật
Qui luật mâu thuẫn còn được gọi là qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập, là một trong ba qui luật của phép biện chứng. Nghiên cứu qui luật này để
thấy rõ được nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển
Trong thế giới vô vàn sự vật hiện tượng, mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại được đều
là một thể thống nhất được tạo thành bởi các mặt, các thuộc tính, các khuynh
hướng đối lập nhau và phát triển ngược chiều nhau, tạo thành mâu thuẫn tồn tại
trong lòng sự vật hiện tượng đó.
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến sự vật kết thúc. Trong cùng
một sự vật, hiện tượng không chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có rất nhiều mâu
thuẫn, khi mâu thuẫn này được giải quyết thì mâu thuẫn khác lại hình thành và
cứ như vậy thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi không ngừng.

a) Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến.
Trong quan điểm của triết học Mác thì rõ ràng vật chất tự thân vận động, nó
hoàn toàn không phụ thuộc vào một lực lượng siêu nhiên nào, kể cả con
người.Chính vì vậy mà khi thừa nhận mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động thì nó
đã bao hàm mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan, nó không những không lệ
thuộc vào ý thức của con người mà còn chi phối, qui định cả hoạt động thực tiễn
của con người.
Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Trong xã hội, có những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

b) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

một mức độ nhất định, hội tụ tất cả các điều kiện cần thiết thì mới dẫn đến sự
chuyển hoá, bài trừ phủ định lẫn nhau.
Khi có sự chuyển hoá của các mặt đối lập, thì lúc đó mâu thuẫn được giải quyết,
sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Quá trình này diễn ra hết sức phức tạp, phong
phú nhiều vẻ.
Nói tóm lại, trong thế giới vô vàn sự vật, hiện tượng, sự vật hiện tượng nào cũng
chứa đựng mâu thuẫn được thể hiện ở những mặt, những thuộc tính, khuynh
hướng phát triển trái ngược nhau. Khi mâu thuẫn này được giải quyết thì sự vật
mới ra đời kéo theo mâu thuẫn mới tồn tại trong sự vật đó Cứ như vậy thế giới
vật chất của chúng ta luôn vận động biến đổi. Với câu nói nổi tiếng của Hêra crít
càng minh chứng rõ điều này: “Không ai có thể tắm trên cùng một dòng sông” .

2. Vai trò của qui luật mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn của con người
Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến, nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã hội
dưới nhiều hình thức khác nhau: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài,
mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn
thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
Trong hoạt động thực tiễn, mâu thuẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau,
việc phân tích mâu thuẫn có ý nghĩa rất quan trọng. Như chúng ta đã biết, trong
mỗi một sự vật, hiện tượng, không chỉ có một mâu thuẫn mà cùng một lúc có thể
có rất nhiều mâu thuẫn. Việc giải quyết mâu thuẫn là điều tất yếu, nhưng không
thể cùng một lúc chúng ta giải quyết được tất cả các mâu thuẫn. Chính vì thế mà
phải xác định xem mâu thuẫn nào cần phải giải quyết trước. Chủ tịch Hồ Chí Minh
nói: “ Bất cứ địa phương nào, cơ quan nào, thường trong một lúc có nhiều công
việc trọng yếu. Trong một thời gian đó, lại có một công việc trọng yếu nhất và vài
ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó phải
xem xét kĩ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm
trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoặch, gặp việc nào làm việc ấy, thành

quản lý của nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả,
đặc biệt là sự đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội. Không có ai ngoài nhà nước
lại có thể giảm bớt được sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông
thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các vùng của đất nước Chính vì vậy

mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đặc trưng cơ bản
của nước ta, nó hoàn toàn khác với mô hình kinh tế thị trường của các nước trên
thế giới.
Mô hình kinh tế hiện vật chỉ phù hợp trong thời chiến, lúc đó chúng ta cần tập
trung toàn bộ sức người, sức của để phục vụ cho tiền tuyến. Nhưng trong thời
bình, mô hình đó tỏ ra không phù hợp và thực chất đó là mô hình phi kinh tế. Hơn
thế, đất nước ta sau chiến tranh rơi vào trong tình trạng trầm trọng nhất của khủng
hoảng kinh tế – xã hội: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt, đất nước bị bao vây
kinh tế, đời sống nhân dân hết sức khó khăn Duy trì mô hình hiện vật, không
những không giải quyết được vấn đề hiện có mà nó còn cho thấy rõ khuyết tật bên
trong kìm hãm sự phát triển : nền kinh tế không có động lực, không có sức đua
cạnh tranh, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của người lao động, của
các chủ thể sản xuất kinh doanh, sản xuất không gắn với nhu cầu, ý chí chủ quan
đã lấn áp ý chí khách quan và triệt tiêu mọi động lực và sức mạnh nội sinh của bản
thân nền kinh tế, làm cho nền kinh tế suy thoái, thiếu hụt hiệu quả thấp, nhiếu mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội không được thực hiện.
Thực tế cho thấy, sự phát triển của thị trường tự do chen lẫn thị trường có tổ
chức, sự lẳng lặng vi phạm các qui tắc, các chuẩn mực lúc bấy giờ là những phản
ánh sự bất lực của một cơ chế quản lý cứng nhắc. Đứng trước tình hình đó, Đảng
đã kịp thời có những chuyển biến, bắt đầu uốn nắn những lệch lạch trong phong
trào hợp tác hoá, công nghiệp hoá đến việc thay đổi thể chế chính sách. Nghị quyết
Trung ương lần thứ VI được đánh dấu như một cái mốc trong quá trình chuyển đổi

giảm xuống 24,3%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ từ
38,6% tăng lên 39,1% Bên cạnh những kết quả mà ta đạt được, là những khó
khăn trong khi xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trước hết phải nói đến điểm xuất phát của ta khi chuyển dịch cơ chế, từ nền kinh
tế yếu kém, mang đậm tính tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá vận hành
theo cơ chế thị trường đòi hỏi phải có sự tích luỹ dồi dào, khoa học công nghệ phát
triển và một nền kinh tế vững mạnh Tiếp theo đó là cơ chế quản lý của nhà nước,
mặc dù đường lối của Đảng đặt ra là đúng đắn, nhưng việc thực hiện nó không
đồng bộ. Y thức hệ còn chưa được rõ ràng, tác phong cá nhân yếu kém Chính

những khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trường, đã nảy
sinh nhiều mâu thuẫn kìm hãm bước phát triển.

1. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ
bản trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thì vấn đề lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp. xét trên phương diện
triết học, thì lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là ý thức, lực
lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi, và là yếu tố quyết định quan hệ
sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ
sản xuất lúc này tỏ ra không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm. Để mở
đường cho lực lượng sản xuất phát triển thì cần thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng
quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, nó
là thước đo để đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ơ Việt Nam, mặc

tiền đề để thúc đẩy bước phát triển của LLSX. Vì vậy vấn đề đặt ra cần đặt ra là
làm thế nào để giải quyết được mâu thuẫn này?
Cần đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính
sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho
phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở
hữu khác nhau. Mọi doanh nghiệp, mọi công dân được đầu tư kinh doanh theo
hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh doanh theo các
hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát
triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển mạnh các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, từng bước hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.
Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thức hiện tốt vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế. Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những sản xuất và dịch
vụ quan trọng: Xây dựng các tổng công ty nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt

trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế
Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh
của doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh sang hoạt động
theo cơ chế công ty trách nhiệm hưũ hạn hoặc công ty cổ phần. Bảo đảm quyền tự
chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của các doanh
nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật,xoá bỏ bao cấp của nhà nước đối với
doanh nghiệp.
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà nhà nước không nắm
giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động
thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng, phát triển hợp tác xã


2. Cơ chế thị trường và những mâu thuẫn xunh quanh nó
Thị trường là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, do vậy kinh tế hàng
hoá càng phát triển thì thị trường càng được mở rộng, ngược lại, thị trường càng
được mở rộng thì càng thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, đó là mối quan hệ
biện chứng gắn bó hữu cơ với nhau. Và xunh quanh mối quan hệ biện chứng đó là
những mâu thuẫn khách quan, tồn tại trong cơ chế thị trường.
Các bộ phận hợp thành cơ ché thị trường là :
Giá cả thị trường: là thứ giá cả hình thành trên thị trường bởi sự tác động của các
lực thị trường. Trên mỗi thị trường, mỗi hàng hoá, dịch vụ đều có một giá nhất
định và toàn bộ những giá cả đó tạo thành hệ thống giá cả thị trường
Cầu hàng hoá: là số lượng hàng hoá mà người mua mong muốn mua và có khả
năng mua theo mức giá nhất định. Như vậy, để có cầu hàng hoá phải có ba điều
kiện: mong muốn mua, có khẳ năng mua và mức giá.
Cung hàng hoá: là số lượng mà người sản xuất hàng hoá mong muốn sản xuất và
có khả năng bán trên thị trường với giá nhất định. Để có cung hàng hoá cũng phải
có ba điều kiện: mong nuốn sản xuất, có khả năng sản xuất và mức giá. Khi cung
hàng hóa nào đó trên thị trường vừa bằng cầu về hàng hoá đó, thì mức giá cả là
bình quân.

Cạnh tranh trên thị trường: cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá với
nhau theo ba hướng; giá cả, chất lượng và dịch vụ tương ứng. Cạnh trang giữa
những người mua với nhau. cạnh tranh giữa một bên là người bán và một bên là
người mua. Trên thị trường không bao giừo có chuyện “đơn phương độc mã” mà
là “buôn có bạn, bán có phường”.
Bốn bộ phận hợp thành cơ chế thị trường kể trên có quan hệ mật thiết với nhau,
như là những khâu trong một guồng máy. Giá cả là cái nhân của thị trường, cung –

Thực tế cho thấy, sản phẩm hàng ngoại tràn lan trên thị trường Việt nam, lấn áp
hoàn toàn hàng hoá trong nước. Nguyên nhân chủ yếu, đó là do sức cạnh tranh của
nước ta còn yếu, tâm lý người dân muốn dùng hàng ngoại. Mặc dù hàng ngoại bán
trên thị trường có thể đắt hơn so với giá trị thực của nó, song những người mua
hàng luôn có suy nghĩ rằng giữa hàng ngoại và hàng trong nước luôn có sự khác
nhau cả về chất lượng lẫn mẫu mã của sản phẩm. Một số doanh nghiệp nhà nước
bị phá sản, phải đóng cửa vì không đủ sức để có thể cạnh tranh được trên thị
trường. Hàng hoá trong nước không được ưa chuộng, do mẫu mã cũng như chất
lượng sản phẩm không thể cạnh tranh được với hàng ngoại được sản xuất với dây
truyền công nghệ hiện đại. 3. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội
Trong hoạt động kinh tế, lợi ích là mục tiêu hàng đầu, vì vậy để thực hiện tăng
trưởng kinh tế cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể vầ lợi
ích xã hội. Trong nền KTTT, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
chẳng những không bị mất đi mà còn có những diễn biến phức tạp hơn. Trước hết
là phải nói đến ưu điểm của nền KTTT, nó tạo điều kiện cho mọi cá nhân phát huy
năng lực, trí tuệ, thị trường được tạo ra là một thị trường tự do, tự do giao dịch
KTTT có sự quản lý của nhà nước, một mặt nó đảm bảo tính ổn định của thị
trường, mặt khác nó lại tạo điều kiện tốt cho hoạt động tham nhũng, buôn lậu
của một số người lạm dụng chức trách của mình. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội nếu không được giải quyết đúng đắn sẽ biểu hiện thành những
hiện tượng bất công bằng xã hội. Trong mối quan hệ này, nếu lợi ích cá nhân bị vi
phạm thì xã hội sẽ mất đi một động lực to lớn của sự phát triển xã hội. Còn ngược
lại, nếu các nhân có lợi, nhưng lợi ích xã hội bị vi phạm, thì nạn nhân của sự bất
công lại là cộng đồng xã hội.

được thông suốt ở các cấp, các ngành. Cải cách hành chínhtiến hành chậm, thiếu
kiên quyết, hiệu quả thấp. Tổ chức bộ máy nhà nước còn công kềnh, trùng lặp
chức năng với nhiều tầng nấc trung gian và những thủ tục hành chính phiền hà,
không ít trường hợp trên và dưới, trung ương và địa phương hành động không
thống nhất, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội và là giảm động lực
phát triển. Một số người và cơ quan do lợi ích cá nhân, cục bộ không muốn đẩy
mạnh cải cách hành chính, cải cách tổ chức bộ máy nhà nước
Trên đây là những tiêu cực của một số cá nhân có chức quyền và lạm dụng nó để
tiến hành mưu lợi riêng cho mình, gây tổn thất nặng nề cho nền kinh tế quốc dân.
Còn đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh bất chấp pháp luật để chạy theo lợi
nhuận. Hiện tượng làm hàng giả, hàng lậu vẫn tiếp tục phát triển làm ảnh hưởng
đến chất lượng sản phẩm.
Như vậy, chính mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nảy sinh trong
nền kinh tế thị trường, càng cho thấy rõ được tầm quan trọng trong vai trò quản lý
của nhà nước đối với việc phát triển kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những
tiêu cực trong xã hội đó là sự quản lý yếu kém, không đồng bộ của nhà nước.
Chính vì vậy mà trong nghị quyết trung ương Đảng lần thứ IX, chủ trương chỉnh

đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng,
lãnh đạo tổ chức thực hiện, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch,
vững mạnh. Cần nhận thức rằng: “Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết
định thành công của sự nghiệp đổi mới”.

4. Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người xã hội
chủ nghĩa
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết
phải có con người XHCN. Yêu tố con người giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự

Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần được đề cập đến: KTTT ở nước ta
hiện nay khônng chỉ tạo điều kiện vật chất để xây dựng và phát huy nguồn lực của
con người mà còn tạo ra môi trường thích hợp cho con người phát triển toàn diện
cả về thể chất lẫn tinh thần. KTTT tạo ra sự cạnh trnah và chạy đua quyết liệt.
Điều đó buộc con người phải năng động sáng tạo, linh hoạt, có tác phong nhanh
Từ đó nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con người.
Tuy nhiên, cần phải thấy rõ rằng không phải cứ xây dựng được KTTT là những
phẩm chất tốt đẹp đó tự hình thành trong con người. Có những lúc KTTT không
những không làm cho con người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn mà ngược lại, còn
làm tha hoá bản chất con người, biến con người thành kẻ sùng bái đồng tiền hoặc
kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lơị ích cá nhân, sẵn sàng trà đạp lên
nhân phẩm, đạo đức Bên cạnh những tác động tích cực, KTTT còn có nhiều
khuyết tật, gây ra những tác động xấu. Quan hệ hàng hoá, tiền tệ làm sôi động thị
trường, nhưng cũng làm sói mòn nhân cách và phẩm chất con người. Ngoài ra đi
kèm với nền kinh tế thị trường là hàng loạt các tệ nạn xã hội: cờ bạc, rượu chè, ma
tuý, buôn lậu, hối lộ, tham nhũng đó là những vấn đề nổi cộm nhất trong nền
KTTT mà không rễ ràng khắc phục.
Những phân tích trên đây cho thấy, KTTT là mục tiêu con người XHCN, là một
mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay. Đây thực chất là hai mặt
đối lập của mâu thuẫn xã hội. Giữa KTTT và quá trình xây dựng con người vừa có
sự thống nhất, vừa có sự đấu tranh. KTTT vừa tạo ra những điều kiện để xây dựng
và phát huy con người, vừa tạo ra những độc tố để huỷ hoại con người. Việc giải

quyết mâu thuẫn này là một việc không hề đơn giản. Đối với nước ta, mâu thuẫn
giữa KTTT và quá trình xây dựng con người được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo
của Đảng, bằng sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đảng ta xác
định “ sản xuất hàng hoá không đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển nền

cơ chế quản lý kinh tế, đã có một số chuyển biến bước đầu, một số xí nghiệp đã
vượt qua được khó khăn tạo nên thế ổn định, bắt đầu phục hồi và đi lên. Song
những nhân tố đó chưa nhiều và những chuyển biến đó chưa có cơ sở vững chắc
và lâu dài.
Kinh tế tập thể: dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. Đây là thành phần
kinh tế tuy trình độ xã hội hoá tư liệu sản xuất, tổ chức và quản lý sản xuất còn
thấp hơn kinh tế quốc dân, nhưng sản xuất với lượng hàng hoá cung ứngcho sản
xuất và tiêu dùng đời sống xã hội. Trước biến động có tính bước ngoặt của nền
kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, kinhtế tập thể phát triển với nhiều hình thức
hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Nhà nước giúp hợp tác xã đào
tạo cán bộ, ứng dụng khoa học cônng nghệ, nắm bắt thông tin mở rộng thị trường,
xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, giải quyết nợ tồn đọng. Khuyến
khích việc tích luỹ, phát triển có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã. Tiếp tục
đổi mới và kiệ toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng
phát huy và kết hợp hài hoà sức mạnh của tập thể và của xã viên. Phát triển các
hình thức hợp tác, đa dạng và mở rộng các hình thức kinh tế tập thể nông nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, mua bán, tín dụng ở những nơi cần thiết và có điều kiện.
Thành phần kinh tế tư nhân: Trên thực tế thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta
bao gồm: các xí nghiệp tư nhân, hộ tư nhân và cá thể, tuy nhiên việc phân loại này
chưa có sự thống nhất. Mặc dù thành phần kinh tế này mới được hồi sinh và mở
rộng, nhưng cho đến nay đã thực sự phát triển mạnh. Đặc biệt Nhà nước lại tạo
môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cả về chính sách và
pháp lý. Các doanh nghiệp có thể liên doanh, liên kết với nhau, kể cả đầu tư ra
nước ngoài, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao
động
Kinh tế cá thể, tiểu thủ: thành phần kinh tế này có thể kinh doanh như các tác
nhân kinh tế độc lập, nhưng cũng có thể là các vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà
nước hay hợp tác xã. Ơ đây chúng ta cũng thấy chính sách kinh tế cũng đan xen
nước ta. b) Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế
Mâu thuẫn trong các thành phần kinh tế của nước ta hiện nay được biểu hiện giữa
một bên là những lực lượng và khuynh hướng phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa với một bên là khuynh hướng tự phát và những lực lượng gây tổn hại
cho quốc tế nhân sinh. Mâu thuẫn cơ bản này quyết định những mâu thuẫn kinh tế
xã hội khác cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong quá trình xây dựng KTTT. Chính
sách phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi có sự khuyến khích kinh tế
tư nhân phát triển mạnh mẽ, vì hiện nay sự phát triển đó còn thấp, chưa tương
xứng với tiềm năng hiện có. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, các thành phần
kinh tế bình đẳng trước pháp luật, nhưng không có vai trò như nhau trong quá
trình hình thành và xây dựng và phát triển kinh tế. Như vậy, bên cạnh mối quan hệ
thống nhất, có liên quan mật thiết đến nhau, còn tồn tại các mâu thuẫn giữa các
thành phần kinh tế về lợi ích, những ngành độc quyền như công nghiệp quốc
phòng, Ngân hàng nhà nước, Bưu chính viễn thông cạnh tranh khốc liệt trên thị
trường. Sự cạnh tranh đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển hơn về chất
lượng và số lượng của sản phẩm. Chuyển sang nền kinh tế thị trường tất yếu phải
hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong thời đại ngày nay, mọi nền kinh tế, nếu
không hướng tới xuất khẩu, không vươn ra ngoài hoà nhập thì không thể đưa đất
nước đi lên theo kịp bước tiến của nhân loại.
Để giải quyết được mâu thuẫn này, thì hệ thống quản lý của Nhà nước phải đảm
bảo được tính đồng bộ, quán triệt mọi hành vi vi phạm của tổ chức hay cá nhân.
Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tổ chức kinh doanh của các
thành phần kinh tế,thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế.


năng lực tổ chức, quản lý phối hợp hoạt động trên bình diện xã hội, hạn chế dần
tính tự phát trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người.

7. Mâu thuẫn giữa lợi ích của người lao động và lợi ích của người thuê mướn
lao động.
Chúng ta phát triển KTTT trong thời kỳ quá độ tức là chấp nhận tồn tại nhiều
thành phần kinh tế, trong đó có thành phần TBCN, chấp nhận các hình thức sở hữu

và kinh doanh có thuê mướn lao động và có bóc lột sức lao động. Trong khi đó,
mục tiêu lâu dài của cách mạng XHCN là xoá bỏ bóc lột. Ơ đây, một số mối quan
hệ có mâu thuẫn cần được nghiên cứu và giải quyết thoả đáng, đó là mối quan hệ
giữa các lợi ích: lợi ích của người lao động và lợi ích thuê mướn lao động.
Không có cơ sở để khẳng định rằng, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, hinh thức
kinh doanh có thuê mướn lao động sẽ ngày càng giảm đi. Cũng là sai lầm nếu cho
rằng, cỉ có thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế hợp tác xã là phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thay thế dần các thành phần kinh tế còn
lại. Trên thức tế thì không phải vậy, tất cả cácc thành phần kinh tế đều phát triển
theo một định hướng duy nhất: định hướng XHCN. Cùng với sự trưởng thành của
CNXH, các thành phần có thuê mướn lao động sẽ giảm dần mức độ bóc lột của nó.
Tất nhiên, điều này chỉ có thể hoàn toàn được thực hiện được khi có sự lãnh đạo
của Đảng, sự quản lý của Nhà nước XHCN, sự chủ đạo của các thành phần kinh tế
nhà nước, sự lớn mạnh của thành phần kinh tế hợp tác.
Trong việc giải quyết mối quan hệ có mâu thuẫn giữa lợi ích người thuê mướn
lao động và người lao động làm thuê cần phải có sự kết hợp hài hoà giữa các lợi
ích, nếu mâu thuẫn này không được giải quyết thoả đáng thì nó sẽ kìm hãm sự tăng
trưởng kinh tế.
Nhà nước, bằng hệ thống pháp luật và hệ thống chính sách về kinh tế, xã hội của

Nhà nước soạn thảo kế hoạch, quy hoạch, các chương trình phát triển kinh tế -
xã hội và ban hành các chính sách để hướng các chủ thể thị trường thực hiện các
kế hoạch, quy hoạch và chương trình ấy thông qua các chính sách tài chính tiền tệ,
sử dụng các đòn bẩy kinh tế như: ưu đãi về thuế, về lãi suất cho vay cho những ai
đầu tư vào lĩnh vực mà nhà nước khuyến khích.
Như vậy, có thể nói rằng mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là một đường lối thể hiện sự sáng suốt của Đảng. Chúng ta
đang đi trên con đường mà Đảng chọn, và chúng ta tin rằng con đường đó sẽ
mang đến một cuộc sống văn minh, hạnh phúc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status