phân tích tình hình tài chính của vib 2011 thông qua báo cáo tài chính hợp nhất 2011 - Pdf 23

GVHD: Trịnh Quốc Trung
I. Giới thiệu khái quát về VIB
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, tên viết tắt là Ngân hàng Quốc Tế (VIB)
được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1996. Sau 15 năm hoạt động đến 31/12/2011,
VIB đã trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với tổng
tài sản đạt trên 96.500 tỷ đồng, vốn điều lệ 9.377 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt trên
11.959 tỷ đồng. VIB hiện có 4.300 cán bộ nhân viên phục vụ khách hàng tại 160
chi nhánh và phòng giao dịch tại trên 27 tỉnh/thành trọng điểm trong cả nước.
Trong quá trình hoạt động, VIB đã được các tổ chức uy tín trong nước, nước ngoài
và cộng đồng xã hội ghi nhận bằng nhiều danh hiệu và giải thưởng, như: danh hiệu
Thương hiệu mạnh Việt Nam, danh hiệu Ngân hàng có dịch vụ bán lẻ được hài
lòng nhất, Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc, ngân hàng có chất lượng dịch vụ
khách hàng tốt nhất, đứng thứ 3 trong tổng số 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất
Việt Nam về doanh thu do báo VietnamNet bình chọn….
B/ Phân tích tình hình tài chính của VIB 2011 thông qua BCTC hợp nhất 2011
1. Tình trạng tài sản
Tổng tài sản có trong năm 2011 là 96.500 tỷ đồng, tăng 3.122 tỷ đồng so với
năm 2010, mức tăng 3.33%. Trong đó:
- Các khoản cho vay đạt 44.168 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 45,56% trong tổng tài sản. Sở
dĩ khoản mục này có tỷ lệ cao nhất trong tổng tài sản là vì các khoản cho vay chính là
tài sản có sinh lời chủ yếu của hầu hết các ngân hàng thương mại.
- Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác đạt 27.307 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 28,17% tổng
tài sản của ngân hàng.
- Chứng khoán đầu tư đạt 20.436 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 21,08% tổng tài sản.
- Tài sản cố định trong năm đạt 293 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,3% trong tổng tài sản,
tăng 70 tỷ đồng tương đương 0,37% so với năm 2010. Nguyên nhân có sự tăng lên
trong tài sản cố định là do trong năm ngân hàng đã khai trương thêm 1 chi nhánh mới
tại Thái Bình (nằm trong chương trình mở rộng và hoạt động theo mô hình kinh doanh
dịch vụ mới của VIB trên toàn quốc).
1
GVHD: Trịnh Quốc Trung

GVHD: Trịnh Quốc Trung
3.Tổng Dư Nợ/Tổng Vốn huy động 0,7 0.76 0.53
Nhìn vào bảng ta thấy tuy huy động vốn trong năm có giảm so với năm 2010
nhưng mà chi phí lãi và các chi phí tương tự lại tăng gấp 71,5% so với năm 2010.
Thực chất có tình hình trên là do năm 2011 những biến động của nền kinh tế khiến huy
động rất khó khăn, chi phí huy động vốn tăng cao do lãi suất huy động tăng, chi cho
quảng cáo, và các chính sách khách hàng khác nhằm thực hiện mục tiêu huy động vốn
tốt hơn. Tuy vậy nhìn tổng thể thì qua một năm khó khăn VIB cũng vẫn giữ được khả
năng thanh khoản tốt. Mục tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác có tăng 26,68%
để đảm bảo khả năng thanh khoản vẫn đảm bảo.
III.Chỉ tiêu phản ánh tình hình tín dụng
1. Tình hình cho vay
Trong các năm qua hoạt động TD của VIB đều khá tốt. Tính đến ngày
31/12/2011 Tổng dư nợ của VIB đạt 43.497 tỷ đồng. Các sản phẩm cho vay của VIB
đáp ứng đa dạng cho mọi thành phần kinh tế, cung cấp nhiều sản phẩm TD như: Cho
vay bổ sung vốn lưu động, cho vay tài trợ, đồng tài trợ dự án đầu tư,, cho vay mua nhà,
sinh hoạt, sữa chữa nhà, du học……
Đơn vị tính: Tỷ VNĐ
Chỉ tiêu
VIB
ACB
2010 Tỉ lệ 2011 Tỉ lệ
Tổng Dư Nợ: 41.732 - 43.497 -
102.809
Doanh Nghiệp 26.554 63,63% 25.272 58,10%
57,2%
Cá Nhân 15.172 36,37% 18.225 41,90%
42,8%
Ngắn hạn
26.967 64,62% 28.203 64,84% 52,9%

ngân hàng nói chung và VIB nói riêng đều thận trọng với các các hợp đồng tín dụng
dài hạn, bởi vì phải lo tới vấn đề thanh khoản cũng như cơ cấu tài sản của mình. Cùng
với việc kinh tế khó khăn, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không đạt và ngân hàng
cũng không mấy mặn mà với các khoản đầu tư khá rủi ro này.
4
GVHD: Trịnh Quốc Trung
- Tỷ lệ cho vay theo ngành nông lâm nghiệp chiếm 1,55%, thương mại sản suất và chế
biến chiếm 47,65%, xây dựng chiếm 5,18%, kho bãi vận tải và thông tin liên lạc chiếm
10,57%, cá nhân và các ngành nghề khác chiếm 35,06%. Trong khi năm 2010, tỷ lệ
cho vay ngành nông lâm nghiệp chiếm 1,21%, thương mại, sản xuất và chế biến chiếm
43,90%, xây dựng chiếm 4,7%, kho bãi, vận tải và thông tin liên lạc chiếm 10,05%, cá
nhân và các ngành nghề khác chiếm 40,13%. Tăng tỷ lệ cho vay các ngành nông lâm
nghiệp, thương mại sản xuất cho vay và chế biến, xây dựng, kho bãi vận tải và thông
tin liên lạc. Đồng thời giảm tỷ lệ cho vay cá nhân và các ngành nghề khác so với năm
2010. Nhìn vào bảng thấy đối với VIB tập trung chủ yếu ở mảng cho vay thương mại
dịch vụ chiếm 47,6% thì ACB lại tích cực cho vay cá nhân chiếm tới 63,5%. Điều này
thể hiện chiến lược của VIB là ngắm tới mảng khách hàng tiềm năng, phát triển mạnh.
ACB phát triển tín dụng theo hướng cá nhân là hướng đi thận trọng.
2. Dự phòng rủi ro
Đơn vị tính: tỷ VND
Chỉ tiêu
VIB
ACB
2010 2011
Dự phòng cho vay các TCTD khác 2,705 - 9,639
Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng 473 689 986
Doanh mục cho vay 41.731 43.497 102.809
Tỷ trọng Dự phòng rủi ro tín dụng/ Doanh số
cho vay
1,13% 1,58% 0,96%

1. Hệ số H
3
– Chỉ số trạng thái tiền mặt
H
3
= Tiền mặt + TG thanh toán tại NHNN + TG không kỳ hạn tại các TCTD
Tổng tài sản có
Hệ số
VIB ACB
2011 2010 2011
Chỉ số trạng thái tiền mặt 30% 29% 34%
6
GVHD: Trịnh Quốc Trung
Một tỷ lệ tiền mặt và tiền gửi cao, nghĩa là chỉ số H
3
cao đảm bảo cho ngân
hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời. Theo bảng tính ở trên, trong
năm 2011 chỉ số H
3
của ngân hàng VIB là 30%, tăng 1% so với năm 2010 và thấp hơn
so với ngân hàng ACB là 34% cho thấy ngân hàng có khả năng thanh khoản cao, tuy
nhiên với 1 tỷ lệ tương đối cao như vậy sẽ hạn chế khả năng tối đa hóa lợi nhuận cho
ngân hàng.
2. Hệ số H
4
– Chỉ số năng lực cho vay
H
4
= Dư nợ
Tổng tài sản có

H
5
= Dư nợ
Tìền gửi khách hàng
Hệ số
VIB ACB
2011 2010 2011
Chỉ số Dư nợ/TG khách hàng 96,97% 91,70% 71,60%
Chỉ số H
5
đánh giá các ngân hàng đã sử sụng tiền gửi khách hàng để cung ứng
tín dụng với tỷ lệ bao nhiêu phần trăm. Tỷ lệ này càng cao, khả năng thanh khoản càng
thấp.
Theo kết quả tính toán ở trên, ngân hàng VIB cho vay với tỷ lệ khá cao trên số
tiền gửi của khách hàng, cụ thể là trong năm 2011 tỷ lệ này đạt 96,97% tăng 5,27% so
với năm 2010 và cao hơn rất nhiều so với ngân hàng ACB (71,60)%.
Như vậy, tài sản “Có” sinh lời là các khoản tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tài
sản “Có” của các ngân hàng, mà cho vay là tài sản “Có” có độ rủi ro cao hơn nhiều so
với các tài sản “Có” sinh lời khác. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tính thanh khoản
của ngân hàng.
4. Hệ số H
6
– Chỉ số chứng khoán thanh khoản
H
6
= Chứng khoán kinh doanh + Chứng khoán sãn sàng để bán
8
GVHD: Trịnh Quốc Trung
Tổng tài sản có
Hệ số

7
của ngân hàng VIB trong năm
2011 là 99,89%, giảm 11,81% so với năm 2010. Cũng trong năm 2011, chỉ số này của
9
GVHD: Trịnh Quốc Trung
ngân hàng ACB là 234% cao hơn rất nhiều so với VIB, điều này chứng tỏ ngân hàng
ACB có lợi thế hơn ngân hàng VIB trong việc huy động để bảo đảm thanh khoản của
mình.
6. Hệ số H
8
H
8
= Tiền mặt + TG tại các TCTD
Tiền gửi của khách hàng
Hệ số
VIB ACB
2011 2010 2011
Chỉ số H
8
66% 61% 63%
Chỉ số H
8
càng cao thì khả năng thanh khoản càng tốt. Nhìn chung thì chỉ số H
8
cho thấy khả năng thanh khoản của cả hai ngân hàng VIB và ACB rất tốt, dao động từ
63-66% vào thời điểm cuối năm 2011. Cụ thể là VIB đạt 66% cao hơn ACB là 63%.
Điều này cho thấy khả năng thanh thanh khoản của VIB nhỉnh hơn so với ACB và có
sự tăng lên so với năm 2010.
V. Chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời
1. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên:

động vốn và cho vay.
Từ năm 2010 đến 2011 VIB có tỷ lệ lãi gộp tăng 1,62% trong đó ACB thì tỷ lệ
này tăng 0.66%. Trong năm 2011 VIB có tỷ lệ lãi gộp 4,03% có nghĩa là trong 100
đồng tài sản sinh lời thì tạo ra được 4,03 đồng lợi thu nhập lãi thuần. Đối với ACB, tỷ
12
GVHD: Trịnh Quốc Trung
lệ lãi gộp là 3,07% có nghĩa là 100 đồng lợi tài sản sinh lời thì tạo ra được 3,07 đồng
thu nhập lăi thuần. V́ vậy, VIB tạo được thu nhập lãi thuần cao hơn ACB trong năm
2011.
4. Tỷ số ROA ( Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản)
ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lí. Nó chỉ ra khả năng của
hội đồng quản trị, ban điều hành ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân
hàng thành thu nhập ròng . Rất nhiều nhà hoạch định qui chế cho rằng hệ số ROA là
thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. ROA của các định chế tài chính
thường thấp hơn so với doanh nghiệp phi tài chính nên hầu hết các trung gian tài chính
phải tận dụng triệt để đòn bẩy tài chính để cạnh tranh với doanh nghiệp phi tài chính.
Trong cả 2 năm ROA của VIB đều thấp hơn ACB. Vào năm 2010 tỷ số này ở
VIB là 0,84%, ở ACB là 1,14% chênh lệch 0,3%. Vào năm 2011 Tỷ số này ở VIB là
0.66% có nghĩa là 100 đồng tài sản có thì tạo ra được 0,66 đồng lợi nhuận . Đối với
ACB tỷ số này là 1,14% cao hơn so với VIB là 0,48%. Điều này chứng tỏ trình độ
quản lí điều hành của ACB tốt hơn VIB.
5. Tỷ số ROE ( thu nhập sau thuế / vốn chủ sở hữu)
13
GVHD: Trịnh Quốc Trung
Tỷ số ROE được xem như một thước đo gần như chuẩn mực nhất phản ánh
trình độ ban điều hành trong việc tối đa hóa tài sản của cổ đông . ROE biểu thị khả
năng tạo thu nhập, hiệu quả hoạt động, đòn bẩy tài chính và kế hoạch thuế.
Trong 2 năm 2010, 2011 Tỷ số ROE của VIB có xu hướng giảm là 3,52%.
Trong năm 2011 ROE của VIB là 13% có nghĩa là 100 đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra
được 13 đồng lợi nhuận. Đối với ROE của ACB là 31,43% cao hơn so với VIB là

6. Phân tích mối quan hệ giữa ROE và ROA
Nói cách khác:
Mối quan hệ trong công thức trên cho thấy thu nhập của một ngân hàng rất
nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản- sử dụng nhiều nợ hơn hoặc nhiều vốn chủ sở
hữu hơn. Thậm chí một ngân hàng có ROA thấp có thể đạt được ROE cao thông qua
15
GVHD: Trịnh Quốc Trung
sử dụng đòn bẩy tài chính. Mối quan hệ giữa ROE và ROA thể hiện mối quan hệ đánh
đổi giữa rủi ro và thu nhập.
Chỉ tiêu
VIB ACB
2010 2011 2010 2011
ROA
0,84% 0,66% 1,14% 1,14%
Tỷ trọng vốn chủ sở hữu
19,60 19,73 20,17 27,54
ROE
16,52% 13,00% 22,96% 31,43%
Trong năm 2011, ROA của VIB là 0,66% và tỷ trọng vốn chủ sở hữu 19,73 đều
thấp hơn ACB với ROA là 1,14% và tỷ trọng vốn chủ sở hữu là 27,54 . Do đó ROE
của ACB lớn hơn VIB. Vì vậy VIB muốn tăng ROE thì có 2 cách hoặc là tăng ROA
hoặc là tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu.
C/ Nhận xét.
Năm 2011 VIB có những bước tiến đáng kể trong công tác xây dựng hệ thống,
triển khai chiến lược, chuyển đổi tăng cường dịch vụ khách hàng và phát triển con
người. Tuy nhiên một số chỉ tiêu kinh doanh VIB không đạt được, đặc biệt là huy
động vốn, lợi nhuận và ROE, có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Một mặt
tình hình kinh doanh chung của ngân hàng có xấu đi so với dự định của VIB cho
nên VIB không kịp điều chỉnh kịp thời, hợp lý như một số ngân hàng đã thực hiện.
Bên cạnh đó ROE và lợi nhuận bị ảnh hưởng khi nghiêm túc do thực hiện trích lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status