LUẬT NGÂN HÀNG
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, cơ chế thị trường có rất nhiều ưu điểm song cũng tồn
tại không ít khuyết điểm. Không nằm ngoài quy luật chung, ngành ngân hàng
trong nền kinh tế thị trường cũng tồn tại những tiêu cực nhất định. Do đặc điểm
là một ngành hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, có ảnh hưởng mạnh đến toàn bộ
nền kinh tế nên Chính phủ nào cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lí, hạn chế
hậu quả của khuyết tật ấy. Trong đó, thanh tra là một công cụ thiết yếu, được sử
dụng rất hiệu quả. Xuất phát từ đặc điểm riêng và ảnh hưởng của ngành, hoạt
động thanh tra, giám sát ngân hàng cũng có những đặc thù khác thanh tra nói
chung và chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động quản lí. Với mục đích
nhìn nhận lại tổng quát thực trạng thanh tra, giám sát ngân hàng nhà nước ở
Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chúng, bài viết của
nhóm A1 xin được đề cập đến nội dung: “Tìm hiểu và làm rõ nội dung thực
trạng hoạt động của cơ quan thanh tra giám sát của ngân hàng nhà nước trong
giai đoạn hiện nay và đưa ra ý kiến pháp lí về hoạt động thanh tra, giám sát
của ngân hàng nhà nước.”
B. NỘI DUNG
I. Tổng quan về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Khoản 1 Điều 50 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định: “Thanh tra
ngân hàng là thanh tra nhà nước chuyên ngành về ngân hàng, được tổ chức
thành hệ thống bộ máy ngân hàng nhà nước. Mục đích của thanh tra ngân hàng
là nhằm góp phần đảm bảo an toàn các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ việc thực thi chính sách tiền tệ quốc
gia”.
Từ khi quy chế giám sát ra đời, thanh tra ngân hàng thực hiện giám sát các tổ
chức tín dụng (TCTD) theo 2 cấp gồm: thanh tra ngân hàng nhà nước (NHNN);
thanh tra chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố. Đối tượng giám sát và nội dung
giám sát theo quyết định 398/1999/QĐ-NHNN3 ngày 9/11/1999 của thống đốc
NHNN
[email protected] 1
[email protected] 2
LUẬT NGÂN HÀNG
cơ chế, chính sách, quy định trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng,
trong đó chú trọng hoạt động cấp tín dụng; thực hiện có hiệu quả các giải pháp
về phòng, chống tham nhũng, phòng chống tội phạm trong từng tổ chức, đơn
vị,
b. Nội dung giám sát:
- Thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu theo yêu cầu giám sát
ngân hàng.
- Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân
hàng và các quy định khác của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; việc thực hiện
kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về
giám sát ngân hàng.
- Phân tích, đánh giá tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và mức
độ rủi ro của tổ chức tín dụng; xếp hạng các tổ chức tín dụng hằng năm.
- Phát hiện, cảnh báo rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và nguy cơ
dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.
- Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro, vi phạm
pháp luật. Khuyến nghị hoặc yêu cầu những việc mà ngân hàng cần làm ngay
hoặc cần chú ý nhằm lành mạnh hóa và nâng cao độ an toàn trong hoạt động
ngân hàng.
Các nội dung trên đây phản ánh những công việc chính mà cơ quan thanh
tra giám sát ngân hàng phải thực hiện. Để cho việc thanh tra giám sat ngân hàng
được hiệu quả, các nội dung này cần được quy định rõ trong những văn bản
pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động cơ quan thanh tra giám sát ngân
hàng. Bằng cách đó vừa gắn trách nhiệm với quyền hạn của chủ thể tham gia
giám sát ngân hàng, vừa là sự tuyên bố công khai với các chủ thể có liên quan
để yêu cầu các chủ thể này có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thanh tra giám
sát ngân hàng trong việc triển khai công tác thanh tra, giám sát hoạt động ngân
hàng trong nền kinh tế.
chương trình làm việc, các kênh thông tin báo cáo, chia sẻ thông tin, những vấn
đề về thanh tra giám sát ngân hàng trên cơ sở hợp nhất;
- Ngoài ra, cho đến nay, NHNN vẫn chưa có cơ chế phối hợp, sử dụng kết
[email protected] 4
LUẬT NGÂN HÀNG
quả thanh tra tại chỗ và giám
s
át từ xa, vì vậy, vừa gây lãng phí nguồn lực vừa
giảm tính hiệu quả trong thanh tra, giám sát.
b. Về mục tiêu hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Theo thông lệ quốc tế, có 4 mục tiêu chiến lược của hoạt động thanh tra
giám sát ngân hàng:(i) Duy trì sự ổn định của thị trường; (ii) Tăng cường sự
nhận thức của công chúng; (iii) Bảo vệ người tiêu dùng; và (iv) Giảm thiểu tội
phạm tài chính.
Điều 50 Luật NHNN 2010 quy định rõ mục đích của thanh tra, giám sát ngân
hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống
các TCTD và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
gửi tiền và khách hàng của TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công
chúng đối với hệ thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp
luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý
nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
c. Về phương pháp thanh tra giám sát ngân hàng
Hiện nay, Cơ quan Thanh tra, Giám sát Ngân hàng đã tiến hành xây dựng
và thực hiện phương pháp đánh giá năng lực tài chính theo các tiêu chí
CAMELS (C = Capital (Vốn); A= Assets (tài sản có); M = Management
(Quản lý); E = Earnings (Lợi nhuận); L= Liquidity (Khả năng thanh khoản);
S = Sentitivity
(
đ
ộ
như các quy định về các loại rủi ro, cơ chế đánh giá, đo lường
rủi ro mà hiện các TCTD đang
phải đương đầu và thực tế các TCTD đã phải
chịu những tổn thất như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro công nghệ ,
các quy định về quản trị rủi ro nội bộ của TCTD. Bên cạnh đó, các quy định
làm nền tảng cho hoạt động thanh tra hiện nay cũng chưa được ban hành đầy
đủ như quy trình thanh tra phúc tra, quy chế xét giải quyết khiếu nại tố cáo
trong ngành ngân hàng, các quy định đảm bảo quyền lợi vật chất, tinh thần cho
cán bộ thanh tra cả trước mắt và lâu dài để cán bộ thanh tra an tâm phấn đấu và
chuyên tâm với nghề.
Hoạt động của TCTD được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật và các
văn bản dưới luật. Tuy nhiên, những văn bản này có nhiều trường hợp chưa rõ
ràng, thiếu đồng bộ làm cho việc áp dụng của các TCTD chưa thống nhất; căn
cứ để thanh tra ngân hàng kết luận vi phạm của TCTD không đầy đủ, chặt chẽ
làm cho hiệu lực thanh tra bị hạn chế.
Hiện tại, việc ghi nhận trong công tác kế toán của các TCTD Việt Nam chưa
thật phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Điều này dẫn đến những đánh
giá của các thanh tra viên về một TCTD có một sự khác biệt so với những
đánh giá dựa trên những chuẩn mực quốc tế. Đây thực sự là thách thức cho
hoạt động của thanh tra ngân hàng, đặc biệt khi lĩnh vực tài chính ngân hàng
được mở cửa mạnh mẽ.
e. Về chất lượng đội ngũ thanh tra, giám sát
Thực tế cho thấy, lực lượng thanh tra viên nhìn chung còn trẻ, ít kinh
nghiệm về hoạt động ngân hàng. Công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ thanh
tra viên chưa được thực hiện thường xuyên và bài bản, do vậy, gây ra những
[email protected] 6
LUẬT NGÂN HÀNG
hạn chế nhất định đến việc nâng cao trình độ thanh tra viên. Hơn nữa, hạn chế
trong hoạt động đào tạo dẫn đến thực tế là đa số Thanh tra Ngân hàng chỉ mới
thực hiện kiểm tra mức độ tuân thủ của ngân hàng với các quy định pháp lý chứ
(i)Giai đoạn 1990 - 1996: ghi nhận sự tăng lên nhanh chóng về số lượng
và loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) nhằm đáp ứng sự tăng vọt của cầu về dịch
vụ tài chính trong giai đoạn đầu “bung ra” trong thời kỳ chuyển đổi.
(ii)Giai đoạn 1997 - 2005: củng cố, chấn chỉnh hệ thống ngân hàng hai cấp
mới được hình thành trong bối cảnh khủng hoảng tiền tệ châu Á.
(iii)Giai đoạn 2006 - 2010: nâng mức vốn pháp định và tăng cường các
quy chế điều tiết; các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nông thôn
được chuyển đổi lên thành ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần đô thị; một
số ngân hàng mới được thành lập, xuất hiện loại hình ngân hàng 100% vốn
nước ngoài.
(iv)Giai đoạn 2011 đến nay: hệ thống ngân hàng bộc lộ những yếu kém, dễ
tổn thương vì những yếu kém tồn tích từ lâu, đe dọa gây đổ vỡ hệ thống, dẫn tới
yêu cầu cấp thiết phải tiến hành tái cơ cấu hệ thống các TCTD.
Trong suốt những năm này, mặc dù đã tách bỏ chức năng trực tiếp kinh
doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng để trở về với vai trò là cơ quan của
Chính phủ thuần tuý thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng, đồng thời là NHTW của đất nước, NHNN vẫn chưa hoàn toàn
thoát ra khỏi khuôn mẫu truyền thống mang nặng tính quản lý hành chính của
thời kỳ ngân hàng độc quyền một cấp trước đây. Cụ thể, NHNN vẫn tiếp tục
duy trì vai trò bộ chủ quản của mình đối với các NHTMNN – nhóm TCTD NN
đang tiếp tục thống trị hệ thống NH/ khu vực tài chính. Bộ máy tổ chức của
NHNN vẫn mang dáng dấp của một cơ quan hành chính - cơ quan ngang bộ
nhưng có cấu trúc ngành dọc.
Chính vì chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu giám sát theo các chuẩn
mực quốc tế hệ thống các chỉ tiêu giám sát còn thiếu và chưa phù hợp với thông
lệ quốc tế, công nghệ thông tin còn chắp vá, lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu
[email protected] 8
LUẬT NGÂN HÀNG
giữa bộ phận Giám sát từ xa (GSTX) và Thanh tra tại chỗ (TTTC), chưa tiến
hành đánh giá xếp hạnh các TCTD theo tiêu chuẩn quốc tế CAMELS.
phát triển vững mạnh cho hệ thống tài chính, tiền tệ nước nhà trong mội trường
mở cửa và tự do hoá hệ thống tài chính. Là công cụ quan trọng trong quản lý
nhà nước về lĩnh vực tài chính ngân hàng, do đó yêu cầu đổi mới tổ chức và
hoạt động thanh tra ngân hàng là hết sức cấp bách khẩn trương, đòi hỏi một sự
thay đổi sâu sắc và toàn diện để có thể ngang tầm với khu vực và quốc tế.
Mục tiêu đổi mới là phải tạo ra một tổ chức thanh tra chuyên ngành độc
lập và hiệu lực. Tổ chức mới này phải khắc phục được những nhược điểm đã
nêu trên của mô hình tổ chức, của cơ chế chỉ đạo điều hành trong hoạt động
thanh tra giám sát đối với lĩnh vực tiền tệ và hoạt động không chỉ của hệ thống
ngân hàng mà tiến tới đối với cả hệ thống tiền tệ quốc gia. Ngoài ra, xu thế toàn
cầu hoá và hội nhập với khu vực và với thế giới trong lĩnh vực ngân hàng cũng
đòi hỏi đổi mới của thanh tra ngân hàng Việt Nam về tổ chức bộ máy, nội dung
nghiệp vụ, cách thức phương pháp cũng như cơ chế điều hành, giám sát của
thanh tra ngân hàng phải phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Từ những phân tích trên, chúng em xin đưa ra một số khuyến nghị nhằm
góp phần hỗ trợ cho công cuộc cải cách toàn diện, triệt để thể chế thanh tra
giám sát Ngân hàng Nhà nước tại VN:
a) Về tổ chức
Nâng cao tính độc lập của thanh tra ngân hàng; sắp xếp lại chức năng
thanh tra tại chỗ; cho phép thanh tra ngân hàng được uỷ nhiệm một số công việc
cho kiểm toán độc lập vì với nhân lực có hạn trong khi khối lượng thanh tra của
ngân hàng ngày càng nhiều, cần có quy định thanh tra NH được uỷ nhiệm một
số công việc của mình cho kiểm toán độc lập như ở một số nước phát triển, tất
nhiên một khi kiểm toán độc lập đạt được chuẩn mực nhất định.
b) Về phương thức thanh tra
Đối với GSTX, nâng cao hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho công
tác giám sát là hết sức quan trọng, có như vậy hệ thống GSTX mới có được tính
kịp thời. Bên cạnh đó, chúng ta tiến tới việc hoàn thiện các chỉ tiêu giám sát
[email protected] 10
LUẬT NGÂN HÀNG
LUẬT NGÂN HÀNG
nước và hội sở chính của các ngân hàng mẹ, và cũng cần có quy định về trao đổi
thông tin phối kết hợp với cơ quan thanh tra giám sát của bảo hiểm, thị trường
chứng khoán nội địa…
Cần tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc trao đổi thông
tin, tiếp thu tư vấn về công tác thanh tra, công nghệ, đào tạo nâng cao năng lực
của thanh tra viên trong và ngoài nước
C. KẾT LUẬN CHUNG
Thực tế đã chứng minh, cơ quan thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà
nước đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo đảm sự ổn định, bền vững
của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam. Hiện nay, hoạt động thanh tra,
giám sát ngân hàng bước đầu đã có những chuyển biến tích cực; theo đó, nội
dung thanh tra, giám sát đã được mở rộng theo hướng tiếp cận dần với phương
pháp giám sát dựa trên rủi ro… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mới đạt
được, vẫn còn tồn tại rất nhiều những hạn chế chưa được giải quyết. Hy vọng
trong một tương lai không xa, các cơ quan có thẩm quyền sẽ đề ra những biện
pháp thích hợp để hoạt động thanh tra, giám sát ngày một đạt hiệu quả và đi vào
thực tế.
[email protected] 12
LUẬT NGÂN HÀNG
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách, giáo trình
1. Giáo trình Luật ngân hàng, Đại học Luật Hà Nội
2. Bài luận: “Đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà
nước Việt Nam hiện nay” – Lê Ngọc Lân, Bùi Thị Thanh Tình, Học viện
ngân hàng
3. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010
Các website:
1. http://www.sbv.go.vn
2. http://tapchicongsan.org.vn