i
LỜI CẢM ƠN
Trải qua 4 năm được học tập tại Trường Đại học Nha Trang, nhận được sự
nhiệt tình giảng dạy của Quý thầy cô của trường đã giúp em trang bị cho mình
những kiến thức vô cùng quý báu về chính trị, văn học, xã hội và đặc biệt là những
chuyên môn kinh tế về lĩnh vực tài chính. Đó là những cẩm nang, là hành trang giúp
em vững vàng trong công việc, tự tin trong cuộc sống và luôn hoàn thành nhiệm vụ
được giao.
Nhân đây em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Tài
chính cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Kế toán – Tài chính Trường Đại học
Nha Trang đã giảng dạy truyền đạt cho em những kiến thức hay, quý báu trong suốt
những năm học qua.
Em xin chân thành cảm ơn cô Th.S Chu Thị Lê Dung – người đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực tập để em hoàn thành tốt khóa luận
tốt nghiệp này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến ban Giám đốc cùng các cô, chú,
anh, chị cán bộ nhân viên trong Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Khánh
Hòa, đặc biệt là bộ phận tín dụng đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành tốt đợt
thực tập.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do hạn chế về thời gian cũng như chưa
có nhiều kinh nghiệm thực tế, nên bài làm của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi
nhiều thiếu sót. Em kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và các
cô, chú, anh, chị trong Ngân hàng để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy cô Trường Đại học Nha Trang cùng
toàn thể ban lãnh đạo, các anh, chị nhân viên Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi
nhánh Khánh Hòa sức khỏe, công tác tốt và thành công trong sự nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Phương
ii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Error! Bookmark not defined.
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG
TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Ngân hàng thương mại và tín dụng ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 4
1.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 4
1.1.1.2 Các nghiệp vụ của Ngân hàng Thương mại 4
1.1.2 Tín dụng Ngân hàng thương mại 5
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng Ngân hàng thương mại 5
1.1.2.2 Mục đích, vai trò của tín dụng Ngân hàng thương mại. 6
1.1.2.3 Các loại tín dụng Ngân hàng thương mại 7
1.2 Cho vay tiêu dùng và hiệu quả cho vay tiêu dùng trong Ngân hàng
thương mại 10
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại của cho vay tiêu dùng 10
1.2.1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng 10
1.2.1.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng 10
1.2.1.3 Vai trò cho vay tiêu dùng 13
1.2.1.4 Phân loại cho vay tiêu dùng 15
1.2.2 Hiệu quả cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng Thương mại 19
1.2.2.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay tiêu dùng 19
1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay tiêu dùng tại các Ngân
hàng Thương mại 19
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay tiêu dùng của Ngân hàng
2.1.5.2 Hoạt động tín dụng 36
2.1.5.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 39
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội
– chi nhánh Khánh Hòa 42
2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động cho vay tiêu dùng 42
2.2.1.1 Những văn bản pháp luật do nhà nước ban hành 42
2.2.1.2 Những văn bản do Ngân hàng TMCP Quân Đội ban hành 43
v
2.2.2 Các hình thức cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân đội –
chi nhánh Khánh Hòa 44
2.2.2.1 Các quy định chung về cho vay tiêu dùng áp dụng tại MB 44
2.2.2.2 Mức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay và phí 45
2.2.2.3 Phương thức thực hiện 47
2.2.3 Quy trình nghiệp vụ cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội 49
2.2.4 Phân tích tín dụng 52
2.2.5 Kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân
Đội – chi nhánh Khánh Hòa. 55
2.2.5.1 Diễn biến cho vay tiêu dùng giai đoạn 2009 – 2011 56
2.2.5.2 Tỷ trọng cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ cho vay 58
2.2.5.3 Tình hình cho vay tiêu dùng theo thời hạn 59
2.2.5.4 Cơ cấu cho vay tiêu dùng theo hình thức đảm bảo 60
2.2.5.5 Cơ cấu cho vay tiêu dùng theo sản phẩm 62
2.2.6 Phân tích hiệu quả cho vay tiêu dùng 64
2.2.6.1 Chỉ tiêu nợ quá hạn CVTD 64
2.2.6.2 Chỉ tiêu hệ số thu nợ CVTD 65
2.2.6.3 Chỉ tiêu vòng quay vốn 66
2.2.6.4 Thu lãi từ hoạt động cho vay tiêu dùng 66
2.2.7 Đánh giá hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân
Đội – Chi nhánh Khánh Hòa trong thời gian vừa qua. 67
2.2.7.1 Những thành tựu đạt được 67
Bảng 2.1: Hoạt động huy động vốn tại MB – Chi nhánh Khánh Hòa 34
Bảng 2.2: Hoạt động tín dụng chung tại MB – Chi nhánh Khánh Hòa 37
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của MB - Khánh Hòa 39
Bảng 2.4: Mức cho vay phân loại theo tài sản bảo đảm 45
Bảng 2.5: Mức cho vay theo nhu cầu vay vốn của khách hàng 46
Bảng 2.6: Cách thức chấm điểm khách hàng cá nhân tại NH TMCP QĐ 52
Bảng 2.7: Các bước xếp hạng tín dụng cá nhân của NHTMCPQĐ 54
Bảng 2.8: Cho vay tiêu dùng tại MB – Khánh Hòa 56
Bảng 2.9: Tỷ trọng cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ cho vay 58
Bảng 2.10: Doanh số cho vay tiêu dùng theo thời gian 59
Bảng 2.11: Doanh số cho vay tiêu dùng theo hình thức đảm bảo 60
Bảng 2.12: Cơ cấu cho vay tiêu dùng theo sản phẩm 62
Bảng 2.13: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ tại MB – Khánh Hòa 64
Bảng 2.14: Hệ số thu nợ cho vay tiêu dùng 65
Bảng 2.15: Vòng quay vốn cho vay tiêu dùng 66
Bảng 2.16: Thu lãi của hoạt động cho vay tiêu dùng 66
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của MB – Khánh Hòa 30
1
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở hình thành đề tài
Nền kinh tế ngày càng phát triển, cùng với mức sống của người dân ngày
càng được nâng cao, nhu cầu mua sắm tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình cũng tăng
theo. Cuộc sống giờ đây không chỉ bó hẹp trong “ăn no, mặc ấm” mà đã dần chuyển
sang “ăn ngon, mặc đẹp” và biết bao nhu cầu khác cần được đáp ứng. Tuy nhiên,
không phải lúc nào nhu cầu tiêu dùng đó cũng được đáp ứng bởi khả năng thanh
toán. Việc đáp ứng các nhu cầu này đòi hỏi phải có nguồn tài chính tương ổn định.
Nắm bắt được thực tế đó, các Ngân hàng Thương mại đã đưa ra sản phẩm cho vay
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
TMCP Quân Đội – chi nhánh Khánh Hòa, từ đó phát hiện ra các nguyên nhân của
những hạn chế trong hoạt động cho vay tiêu dùng của MB – Khánh Hòa.
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – chi nhánh Khánh Hòa
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng
- Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian: tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh
Khánh Hòa
Về mặt thời gian: từ năm 2009 đến năm 2011
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: thông tin thu thập được thông qua quá
trình thực tập thực tế tại chi nhánh, các báo cáo tài chính năm, báo cáo tín dụng…
Ngoài ra còn thu thập thông tin bên ngoài thông qua sách, báo chí, internet…
- Phương pháp phân tích dữ liệu: đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu
định tính, dựa trên các số liệu thu thập được, tác giả sẽ tập hợp trên các bảng so
sánh, phân tích với các chỉ tiêu khác nhau để thấy được các góc nhìn khác nhau về
thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng của MB Khánh Hòa, từ đó đưa ra những
nhận định về tình hình cho vay tiêu dùng tại MB – Khánh Hòa.
3
5. Kết cấu của đề tài
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả cho vay tiêu dùng trong Ngân hàng
Thương mại
- Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP
Quân Đội – chi nhánh Khánh Hòa.
- Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho
vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Khánh Hòa.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm tòi suy nghĩ trong suốt thời gian
thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là
nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng lại số tiền đó để
cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
1.1.1.2 Các nghiệp vụ của Ngân hàng Thương mại
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn
Đây là nghiệp vụ huy động đặc trưng trong kinh doanh của Ngân hàng
Thương mại, đồng thời cũng là nghiệp vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự
tăng trưởng của ngân hàng. Nguồn vốn hoạt động của các Ngân hàng chủ yếu thu từ
5
các khoản tiền gửi, các khoản tiết kiệm của cư dân (80% nguồn vốn của các ngân
hàng là từ tiết kiệm dân cư) hay của các tổ chức kinh tế. Ngoài ra trong trường hợp
đặc biệt cần thiết thì các NHTM có thể huy động vốn bằng cách phát hành các loại
chứng chỉ tiền gửi, hay vay vốn trực tiếp của NHTW hoặc các tổ chức tín dụng khác.
Nghiệp vụ sử dụng vốn
Việc sử dụng vốn là quá trình tạo nên các tài sản khác nhau của Ngân hàng,
trong đó cho vay và đầu tư là hoạt động quan trọng nhất.
+ Tín dụng: Hoạt động tín dụng là hoạt động đặc trưng của Ngân hàng. Bản
chất của hoạt động tín dụng là Ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho một
người khác trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khoảng thời gian đó Ngân
hàng sẽ thu cả vốn lẫn lãi. Trong hoạt động này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, không thu
hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn…do chủ quan hay khách
quan, do đó Ngân hàng thương mại phải hết sức chú ý đến công tác hạn chế rủi ro
tín dụng.
+ Đầu tư: Hoạt động đầu tư không đem lại lợi ích trong ngắn hạn nhưng có
tiềm năng đạt lợi nhuận trong tương lai. Danh mục đầu tư của NHTM bao gồm: đầu
tư vào trái phiếu chính phủ; đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh, dự án phát
triển; liên doanh để hình thành nên tập đoàn công nghiệp hay Ngân hàng.
Hoạt động trung gian:
Các dịch vụ trung gian tài chính của Ngân hàng bao gồm: các dịch vụ
chuyển tiền, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ môi giới, tư vấn, ủy
1.1.2.2 Mục đích, vai trò của tín dụng Ngân hàng thương mại.
Hoạt động tín dụng thúc đẩy quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, phát
triển. Cụ thể, tín dụng tài trợ cho các tổ chức, cá nhân hạn chế về vốn có vốn để đầu
tư phát triển sản xuất, tạo ra sự phát triển cân đối giữa các ngành nghề trong nền
kinh tế, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng dân cư trong xã hội, tạo cho
xã hội một nền kinh tế phát triển bình đẳng. Từ đó nâng cao tri thức về kinh tế cho
hầu hết tầng lớp nhân dân, tạo điều kiện để khắc phục các vấn đề về xã hội khác.
7
Tín dụng ngân hàng còn là công cụ vĩ mô của Nhà nước để tài trợ cho các
ngành kinh tế mũi nhọn và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển nhằm
phát huy tối đa lợi thế so sánh của đất nước. Đối với các công trình công cộng, các
chương trình phúc lợi xã hội…có tỷ lệ sinh lời thấp, thời gian thu hồi vốn chậm
nhưng lại đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn thì tín dụng Ngân hàng được xem như là
công cụ hữu hiệu của Nhà nước để tài trợ.
Ngoài ra, hoạt động tín dụng Ngân hàng còn góp phần thúc đẩy nhanh tốc
độ thanh toán Ngân hàng, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, đẩy lùi lạm phát,
làm tăng thêm hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia, giảm bớt các chi phí trong
lưu thông như: Chi phí in tiền, chi phí lưu chuyển tiền…
Thêm vào đó, Ngân hàng thương mại là trung gian để NHTW thực hiện
chính sách tiền tệ, tăng giảm lượng tiền cung ứng cho lưu thông, nhằm khắc phục
tình trạng mất cân đối thanh toán, góp phần ổn định môi trường kinh tế.
Hơn nữa, tín dụng Ngân hàng còn tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại.
Trong những năm tới, khi hàng rào thuế quan giữa các nước trong khu vực được dỡ
bỏ hoàn toàn, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đứng trước một thách thức lớn đó là
phải đối đầu với các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh, có kỹ thuật
công nghệ tiên tiến, cơ chế quản lý hiện đại,… Khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam
phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời hạ thấp giá thành sản
phẩm, đa dạng mẫu mã chủng loại hàng hóa, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường khu vực
và trên thế giới. Như vậy thì các doanh nghiệp Việt Nam mới có thể cạnh trạnh
được với các hàng hóa nhập ngoại, củng cố và mở rộng thị phần. Nhưng để làm
chưa cần đến hạn.
Bảo lãnh: Là việc một đơn vị hoặc cá nhân đứng ra bảo lãnh cho người vay
vốn để người này đi vay với số tiền nhất định tại Ngân hàng. Nếu đến khi đáo hạn
người đi vay không trả hoặc trả không hết nợ cho Ngân Hàng thì đơn vị hay cá nhân
bão lãnh sẽ phải đứng ra trả nợ thay.
Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung hạn, trên cơ sở hợp đồng
cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê.
9
Phân loại tín dụng theo tài sản đảm bảo
Việc phân loại theo tiêu thức này rất quan trọng đối với các Ngân hàng
trong việc định hướng thu hồi nợ. Hình thức này cho phép Ngân hàng có được
nguồn thu nợ thứ hai bằng cách phát mại tài sản đảm bảo đó để thu nợ trong trường
hợp nguồn thu nợ thứ nhất gặp rủi ro.
Thông thường theo tiêu thức này tín dụng được phân thành 2 loại: tín dụng
có đảm bảo bằng tài sản và tín dụng không có đảm bảo bằng tài sản.
Tín dụng có đảm bảo: Là việc cho vay vốn của Ngân hàng thương mại mà
theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết thực hiện bằng tài sản thế
chấp, cầm cố, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ
ba. Tín dụng có đảm bảo là xu hướng chung của các Ngân hàng Việt Nam, tiến dần
theo các điều kiện của của tín dụng theo tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế.
Tín dụng không có đảm bảo: Ngân hàng thương mại cho vay dựa vào uy tín
của khách hàng, đó là người trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành
mạnh, có tín nhiệm với Ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay, hoàn trả nợ vay…
Phân loại tín dụng theo đối tượng cho vay
Tín dụng với các Doanh nghiệp quốc doanh là loại tín dụng cung cấp cho
khách hàng là doanh nghiệp quốc doanh như doanh nghiệp nhà nước, công ty trách
nhiệm hữu hạn 1 thành viên vốn nhà nước, các doanh nghiệp có vốn nhà nước sở
hữu trên 50% vốn điều lệ.
Tín dụng đối với các doanh nghiệp kinh tế ngoài quốc doanh là loại tín
dụng cấp cho các đối tượng khách hàng là doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, công
lớn nhưng giá trị mỗi khoản vay thì thường là nhỏ. Đặc điểm này là do đối tượng
của cho vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình chỉ để đáp ứng cho các mục đích
tiêu dùng khi mà tích lũy chưa đủ khả năng chi trả. Ngân hàng thường tốn nhiều
11
thời gian, chi phí, sức lực mà khối lượng cho vay lại rất ít do đó chi phí bình quân
cho một hợp đồng cho vay là tương đối cao.
Bên cạnh đó, các khách hàng vay vốn đều có nhu cầu vay nhạy cảm theo
chu kỳ kinh tế. Nó tăng lên khi nền kinh tế tăng trưởng, khi mà mọi người dân cảm
thấy lạc quan, họ kỳ vọng sẽ có được khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai. Do
đó, chi tiêu của người tiêu dùng ở hiện tại sẽ được thúc đẩy, nhu cầu vay tiêu dùng
của người tiêu dùng sẽ xuất hiện và tăng lên nhanh chóng. Ngược lại, khi nền kinh
tế suy thoái, rất nhiều cá nhân, hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng nhất là khi tình
trạng thất nghiệp tăng lên, họ không kỳ vọng nhiều vào nền kinh tế và họ sẽ hạn chế
vay mượn từ ngân hàng, và cho vay tiêu dùng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Lãi suất cho vay tiêu dùng
Lãi suất của các khoản cho vay tiêu dùng thường cao hơn cho vay kinh
doanh. Điều này xuất phát từ các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro và chi phí cao
hơn. Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hưởng của
các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nó còn phải chịu sự
tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân khách hàng. Ngoài ra,
do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng thường
không đầy đủ và khó thu thập, ngân hàng phải bỏ nhiều chi phí cho công tác thẩm
định và xét duyệt cho vay. Hơn nữa phần lớn các khoản vay với số lượng lớn và giá
trị nhỏ nên ngân hàng phải chịu một khoản chi phí đáng kể để quản lý hồ sơ khách hàng.
Cho vay tiêu dùng từ khi ra đời và phát triển đã đem lại cho các ngân hàng
lợi nhuận lớn, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định chứ không thả nổi
như các hình thức tín dụng khác. Còn hiện nay, trong môi trường cạnh tranh đã
buộc các Ngân hàng thay đổi, lãi suất của cho vay tiêu dùng đã có sự thả nổi nhưng
đấy là sự thả nổi không hoàn toàn. Khi đưa ra mức lãi suất cho vay cố định đó, các
ngân hàng thường phải dự tính đến yếu tố lãi suất huy động đầu vào sẽ thay đổi như
những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh…cũng ảnh hưởng tới
quá trình thu hồi vốn vay của Ngân hàng.
13
Một lý do khác nữa đó là tư cách, phẩm chất của khách hàng vay thường rất
khó xác định, chủ yếu dựa vào cách đánh giá, cảm nhận kinh nghiệm của cán bộ tín
dụng. Đây là điều khá quan trọng quyết định đến sự hoàn trả của khoản vay.
Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng lớn.
Lãi suất của các khoản vay tiêu dùng phần lớn đều cao hơn các khoản vay
khác của ngân hàng. Điều này xuất phát từ các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí
cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của ngân hàng. Mức lợi nhuận từ trên
mỗi khoản cho vay tiêu dùng cao, số lượng các khoản cho vay tiêu dùng lớn, vì vậy
toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của ngân
hàng.
Từ triển vọng về lợi nhuận cũng như phạm vi đối tượng khách hàng trong
lĩnh vực này, cho vay tiêu dùng ngày càng được chú trọng phát triển và thể hiện
được vai trò của mình.
1.2.1.3 Vai trò cho vay tiêu dùng
Đối với các Ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng có thể xem là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất, mang
lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng. Nhưng hiện nay khi mà xu thế cạnh tranh
giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt, thị phần càng ngày bị thu hẹp lại, các
NHTM đã có những bước thay đổi để có thể thích ứng được trước những biến động
thực tế. Trong bối cảnh đó, người tiêu dùng đã được hướng đến như một khách
hàng trung thành tiềm năng. Và cho vay tiêu dùng đang ngày càng trở thành loại
hình sản phẩm phổ biến ở NHTM. Mặc dù các khoản tài trợ theo hình thức cho vay
tiêu dùng là nhỏ, nhưng đối tượng có nhu cầu vay tiêu dùng lại rất lớn, vì thế tổng
quy mô tài trợ là rất lớn. Bên cạnh đó, lãi suất của các khoản tài trợ theo hình thức
này cao nên mang lại cho ngân hàng một tỷ suất lợi nhuận tương đối lớn trong tổng
lợi nhuận của ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng giúp chia sẻ rủi ro, đa dạng hóa hoạt động ngân hàng,
sản xuất nhanh, mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng ngày càng lớn. Chính
15
điều này đã làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng diễn
ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng tăng trưởng kinh tế.
Sự tăng trưởng dịch vụ cho vay tiêu dùng đồng nghĩa với tăng trưởng sức
mua sắm của nhân dân, tăng trưởng của khu vực sản xuất, nền kinh tế quốc gia
được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực sản
xuất hàng tiêu dùng, thu ngoại tệ về. Bên cạnh đó nhà nước cũng sẽ đạt được các
mục tiêu kinh tế - xã hội khác như giải quyết được công ăn việc làm cho người lao
động, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân,
giảm tệ nạn xã hội…
1.2.1.4 Phân loại cho vay tiêu dùng
Căn cứ vào mục đích vay
Cho vay tiêu dùng cư trú
Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu
mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
Đặc điểm của những món vay này là quy mô thường lớn, thời gian dài. Việc đánh
giá giá trị tài sản tài trợ có vai trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàng. Tình hình
biến động giá của tài sản được tài trợ là yếu tố mà ngân hàng rất quan tâm. Bởi vì
khoản tín dụng tài trợ cho loại tài sản này có giá trị lớn, nên sự biến động theo
hướng không có lợi của nó sẽ dẫn đến những thiệt hại rất lớn cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng phi cư trú
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải
các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành,… Đặc điểm của
những khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn. Do đó mà
mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng cư trú.
Căn cứ vào hình thức hoàn trả
Cho vay tiêu dùng trả góp
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm có số
tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời
thường được tính trên giá trị đáo hạn như sau:
MCV = GĐH * (1 - TLH * LCV)
17
Trong đó :
MCV : Mức cho vay tối đa
GĐH : Giá trị đến hạn của giấy tờ có giá
TLH : Thời gian lưu hành của giấy tờ có giá
LCV : Lãi suất cho vay
Với các loại tài sản khác, thời hạn cho vay cầm cố được căn cứ vào tính
chất, chủng loại, điều kiện bảo quản của tài sản và thường tương đối ngắn (tối đa
không quá 3 tháng). Mức cho vay dựa vào giá trị, khả năng tiêu thụ trên thị trường,
khả năng bảo quản của tài sản, thường không quá 80% giá trị thị trường của tài sản
cầm cố.
Cho vay đảm bảo bằng lương hay thu nhập
Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên cơ sở
thế chấp bằng lương hay bằng thu nhập. Nó áp dụng cho các khách hàng có việc
làm ổn định, thu nhập ngoài việc trang trải các chi phí còn đủ tích lũy để trả nợ vay.
Khi xét duyệt cho vay, ngân hàng cần có một bảng kê khai các khoản phải
thu nhập về tiền lương và thu nhập khác (có xác nhận của đơn vị trả lương) cũng
như những khoản chi tiêu thường xuyên của người đi vay. Số tiền cho vay được
quyết định dựa trên nhu cầu vay (có mục đích sử dụng rõ ràng), thu nhập thường
xuyên của khách hàng, mức cho vay tối đa của ngân hàng. Khi nhận tiền vay, khách
hàng phải cam kết nếu không trả được nợ đến hạn (thường qúa 3 kỳ trả nợ) ngân
hàng có quyền nhận lương của khách hàng để thu nợ.
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Hình thức này áp dụng chủ yếu đối với tài sản có giá trị lớn, thời gian sử
dụng dài như: Cho vay sửa chữa, mua nhà, mua quyền sử dụng đất, mua xe con…
Mức cho vay của ngân hàng dựa vào khả năng tài chính của khách hàng, thường tối
đa 70 – 85% giá trị tài sản mua sắm.
Sau khi phê duyệt cho vay, ngân hàng mở tài khoản giữ hộ và chờ thanh
doanh số bán hàng và từ đó đưa ra các quyết định “tín dụng“ nhanh chóng.