Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới, nền
kinh tế hội nhập. Cùng với sự phát triển của đất nước, hệ thống các ngân
hàng thương mại ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn
mạnh về mọi mặt cả về số lượng, qui mô và chất lượng, đã có những đóng
góp quan trọng trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước.
Trong bối cảnh như vậy, ta càng thấy được vị trí quan trọng của hoạt động
tín dụng, nó nổi lên như một mắc xích trọng yếu trong hoạt động kinh tế.
Kiên Giang là tỉnh có tiềm năng kinh tế lớn ở khu vực Đồng Bằng Sông
Cửu Long, có điều kiện tốt để phát triển kinh tế xã hội với thế mạnh ở các
ngành nông nghiệp, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, cơ sở hạ tầng
ngày càng đổi mới và hoàn thiện nhằm phát huy tốt những tiềm lực sẵn có,
đồng thời thu hút càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.
Trong điều kiện này các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng tại Kiên Giang
đã khai thác triệt để các nguồn nhàn rỗi trong xã hội, tạo nguồn vốn tín dụng
lớn để đáp ứng khá kịp thời nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế xã hội,
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho tỉnh mình.
Chính vì tầm quan trọng như trên, cho nên em chọn đề tài “Phân tích
tình hình huy động vốn tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn –
Hà Nội chi nhánh Kiên Giang” để làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp cho
mình, từ đó giúp ngân hàng đưa ra những giải pháp và chiến lược huy động
vốn có hiệu quả.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu tình hình huy động vốn của NH SHB - Chi nhánh Kiên
Giang. Đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn tại
NH. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động
huy động vốn của NH.
2.2. Mục tiêu cụ thể
các bước sau:
+ Liệt kê ra những điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội (O), thách thức
(T).
+ Đưa ra các chiến lược:
SO: sử dụng điểm mạnh để tận dụng các cơ hội.
WT: tối thiểu điểm yếu và phòng tránh sự đe dọa hay thách thức.
GVHD: Võ Ngọc Hải - 2 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
WO: tận dụng cơ hội để khắc phục điểm yếu.
ST: sử dụng điểm mạnh để tránh các mối đe dọa hay thách thức.
Sơ đồ ma trận SWOT:
Những điểm mạnh (S) Những điểm yếu (W)
Các cơ hội (O) Các chiến lược SO Các chiến lược WO
Thách thức (T) Các chiến lược ST Các chiến lược WT
- Tổng hợp các vấn đề đã phân tích từ đó đề ra một số giải pháp giúp Ngân
hàng nâng cao hiệu quả huy động vốn nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của
thị trường.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Không gian
- Đề tài được thực hiện tại NH TMCP SHB - Chi nhánh Kiên Giang.
- Các số liệu dùng để thực hiện phân tích đề tài đã được cung cấp từ Phòng
Kế Toán và quan hệ khách hàng của NH SHB - Chi nhánh Kiên Giang.
4.2. Thời gian
Thu thập số liệu 3 năm từ 2009 đến 2011 và tiến hành phân tích trong
khoảng thời gian thực tập 06/02/2012 đến 15/03/2012 tại NH SHB - Chi nhánh
Kiên Giang.
4.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tình hình huy động vốn tại NH SHB - Chi nhánh Kiên
Giang và tiến hành đánh giá tình hình sử dụng vốn huy động tại NH từ đó đưa
ra một số giải pháp nâng cao hoạt động này của NH.
động vốn của Ngân hàng SHB chi nhánh Kiên Giang để đưa ra giải pháp phù
hợp.
GVHD: Võ Ngọc Hải - 4 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NGÂN HÀNG
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
- Theo các nhà khoa học, hoạt động NH gần như đã xuất hiện cùng lúc
với sự hình thành đời sống kinh tế - xã hội của loài người. Thông qua các tài
liệu cho thấy hoạt động NH đã ra đời từ 3 – 4 ngàn năm trước Công nguyên.
Trong mỗi giai đoạn phát triển hoạt động NH có những thay đổi và do vậy định
nghĩa về NH cũng không giống nhau. Xã hội càng phát triển, hoạt động NH
càng trở nên đa dạng và phong phú hơn về loại hình. Từ đó có những nhận thức
khác nhau về NH cũng bắt đầu phát sinh.
- Để hiểu một cách đơn giản, NH thương mại ra đời và phát triển gắn liền
với nền sản xuất hàng hoá, nó kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt đó là “tiền tệ ”.
Thực tế các NH thương mại kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là
NH thương mại nhận tiền gửi của công chúng, của các tổ chức kinh tế - xã hội
và sử dụng số tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều
kiện ràng buộc là phải hoàn trả lại vốn gốc và lãi nhất định theo thời hạn đã thoả
thuận.
- Theo pháp lệnh NH ngày 23/05/1990 hội đồng của nhà Nước xác định
”NH thuơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường
xuyên nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Bản chất của Ngân hàng thương mại
-NHTM là một tổ chức kinh tế
-NHTM hoạt động mang tính chất kinh doanh
Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào NH dưới hình thức sau:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khi gửi vào, khách
hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho
Ngân hàng và Ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng.
Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực
hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
cũng như các khoản thanh toán trong tiêu dùng của cá nhân đồng thời hạn chế
được chi phí tổ chức thanh toán, bảo quản tiền và vận chuyển tiền. Đối với ngân
hàng, loại tiền gửi này thường có sự dao động lớn vì người gửi tiền có thể gửi
tiền và rút ra bất cứ lúc nào, do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng tỷ lệ nhất định
để cho vay nên Ngân hàng thường áp dụng lãi suất thấp cho loại tiền gửi này.
GVHD: Võ Ngọc Hải - 6 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi tiền
vào có sự thỏa thuận về thời hạn rút ra giữa Ngân hàng và khách hàng.
Theo nguyên tắc, đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền chỉ được rút ra
khi đến hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do áp lực cạnh tranh mà ngân hàng cho
phép khách hàng rút trước kỳ hạn. Trong trường hợp này, người gửi không được
hưởng lãi như tiền gửi có kỳ hạn mà sẽ được áp dụng với lãi suất không kỳ hạn
nếu rút ra truớc khi đến hạn.
Tiền gửi định kỳ là tiền gửi tạm thời chưa sử dụng hoặc tiền để dành của
cá nhân, vì mục đích gửi tiền vào Ngân hàng là nhằm mục đích kiếm lợi tức.
Đối với Ngân hàng, tiền gửi định kỳ là nguồn vốn ổn định trong kinh doanh, do
đó lãi suất mà ngân hàng áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn lãi suất tiền gửi
thanh toán không kỳ hạn. Mặt khác, để khuyến khích khách hàng gửi tiền theo
định kỳ dài hạn, thông thường Ngân hàng áp dụng lãi suất cao đối với các khoản
tiền gửi dài hạn (vì tiền gửi định kỳ giúp ngân hàng có thể sử dụng vốn đó để
kinh doanh qua việc cho vay trung, dài hạn, mua sắm các thiết bị cũng như đầu
tư vào một số lĩnh vực….)
- Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền
người mua.
* Nguồn vốn đi vay của các NH khác
Nguồn vốn đi vay của các NH khác là nguồn vốn được hình thành bởi các
mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng
với NHNN. Nguồn vốn đi vay bao gồm:
- Nguồn vốn vay của các TCTD khác: Trong quá trình kinh doanh của bất
kỳ doanh nghiệp nào cũng có lúc cũng có lúc phát sinh tình trạng tạm thời thừa
và thiếu vốn. Hoạt động của NH không tránh khỏi tình trạng đó. Đối với NH
cũng có lúc tập trung huy động được vốn nhưng không cho vay hết , trong khi
đó vẫn phải trả lãi tiền gửi. Vì vậy, trong những trường hợp đó NH cũng có thể
gửi vốn tạm thời chưa sử dụng vào Ngân hàng khác để lấy lãi, hoặc đi vay ở các
Ngân hàng khác có phát sinh tình trạng thừa vốn để nhằm khôi phục khả năng
thanh toán của NH mình.
- Nguồn vốn vay của Ngân hàng Trung Ương: NHTW đóng vai trò là
NH của các Ngân hàng, là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế. Vì vậy, khi
có nhu cầu các NH thương mại được NHTW cho vay vốn.
- Ưu điểm: NH có thể vay số tiền lớn và nhanh.
- Nhược điểm: Khi vay vốn của NHTW hoặc của các TCTD khác, các
ngân hàng thương mại thường phải chịu chi phí lớn, do NHTW cho vay theo lãi
suất chiết khấu, các TCTD khác cho vay theo lãi suất thị trường. Vì vậy, hiệu
quả kinh tế mang lại từ việc sử dụng nguồn vốn này đối với các NH thương mại
GVHD: Võ Ngọc Hải - 8 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
không cao. Trong thực tế nguồn vốn này cũng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ
trong tổng nguồn vốn kinh doanh của các NHTM.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NH
Để thu hút được tiền gửi cũng như nâng cao hiệu quả huy động vốn thì
ngân hàng cần phải đảm bảo những yếu tố cơ bản sau:
- Uy tín cao: Thể hiện mức độ tin tưởng, sự tín nhiệm của khách hàng hiện
có dành cho NH.
1.3.2. Tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn huy động
Chỉ số này xác định hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy động, giúp xác định
khả năng cho vay của NH với nguồn vốn huy động.
1.3.3. Chỉ tiêu nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng theo thời hạn, giúp đánh giá cơ cấu đầu
tư như vậy có hợp lý hay chưa để có giải pháp điều chỉnh kịp thời.
1.3.4. Vốn có kỳ hạn trên vốn huy độngĐây là chỉ tiêu phản ánh tính ổn định, vững chắc của Ngân hàng trong kinh
doanh. Nguồn vốn có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định, Ngân hàng có thể
sử dụng bất cứ lúc nào một cách chủ động để làm nguồn vốn kinh doanh.
Tỷ số này càng lớn thì nguồn vốn huy động càng ổn định.
TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH ĐÃ TRÌNH BÀY TRONG CHƯƠNG 1
GVHD: Võ Ngọc Hải - 10 - SVTH: Lý Thúy Vi
Tỷ lệ dư nợ trên tổng
vốn huy động (lần)
Tổng vốn huy động
Tổng dư nợ
=
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn
trên tổng dư nợ
(%)
Tổng dư nợ
x 100
=
Vốn có KH trên VHĐ
Tổng nguồn VHĐ
hàng TMCP Nông Thôn Nhơn Ái được thành lập theo giấy phép số 0041/NH
/GP ngày 13/11/1993 do Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam cấp và
chính thức đi vào hoạt động ngày 12/12/1993. Ra đời trong bối cảnh nền kinh tế
đất nước chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự
quản lý cuả Nhà nước và theo chủ trương cuả Chính Phủ, đây là giai đoạn đổi
mới và thực hiện pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã và Công ty tài chính, vốn
điều lệ đăng ký ban đầu là 400 triệu đồng, thời gian đầu mới thành lập mạng
lưới hoạt động cuả Ngân hàng chỉ có một trụ sở chính đơn sơ đặt tại số 341 - Ấp
Nhơn Lộc 2 - Phong Điền - Huyện Châu Thành tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là Huyện
Phong Điền Thành Phố Cần Thơ với điạ bàn hoạt động bao gồm vài xã thuộc
Huyện Châu thành, đối tượng cho vay chủ yếu các hộ nông dân với mục đích
vay phục vụ sản xuất nông nghiệp và tổng số cán bộ nhân viên lúc bấy giờ Ngân
hàng có 08 người, trong đó chỉ có 01 người có trình độ đại học.
Trải qua gần 13 năm hoạt đông đến nay vốn điều lệ của SHB đã được
301.929.000.000 đồng, mạng lưới hoạt động kinh doanh rộng khắp trong địa
bàn TP. Cần Thơ và một phần tỉnh Hậu Giang, đối tượng cho vay không chỉ là
GVHD: Võ Ngọc Hải - 12 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
các hộ nông dân mà còn mở rộng cho vay: hộ kinh doanh cá thể, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ trên điạ bàn mức độ tăng trưởng hàng năm bình quân trên
45% lợi nhuận năm sau luôn cao hơn năm trước.
Trong hoạt động kinh doanh xét trên phương diện an toàn vốn SHB là một
ngân hàng bền vững với cơ sở vốn hiện tại đủ để đảm bảo SHB tiếp tục phát
triển nhanh trong thời gian tới, với cơ sở vốn vững mạnh và tỷ lệ an toàn vốn
cao cùng với văn hoá tín dụng thận trọng, chính sách và quy trình hợp lý đảm
bảo chất lượng tài sản tốt với khả năng phát triển danh mục tín dụng khả quan vì
vậy kết quả hoạt động kinh doanh của SHB trong những năm qua năm sau luôn
cao hơn năm trước, các chỉ tiêu tài chính đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Ngày 20/01/2006, Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đã ký Quyết
định số 93/QĐ-NHNN về việc chấp thuận cho SHB chuyển đổi mô hình hoạt
đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tạo uy tín thương hiệu qua chất lượng phục vụ
khách hàng, đầu tư vào con người, phát triển năng lực của cán bộ, nhân viên,
khuyến khích sự cống hiến xuất sắc, thưởng công xứng đáng với thành tích và
tạo điều kiện cho họ có cơ hội phát triển toàn diện.
Với kế hoạch phát triển kinh doanh cụ thể phù hợp với chương trình hành
động, lộ trình hội nhập của ngành ngân hàng Việt Nam cùng với tiềm lực tài
chính mạnh của các cổ đông tiềm năng, với bộ máy Hội đồng Quản trị, Ban
Kiểm soát, Ban Điều hành là những người có trình độ nghiệp vụ, có kinh
nghiệm trong lĩnh vực Ngân hàng và có tâm huyết với Ngân hàng sẽ là những
nhân tố tích cực trong giai đoạn phát triển mới và sẽ đưa SHB phát triển một
cách bền vững trong thời gian tới.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của SHB KIÊN GIANG
GVHD: Võ Ngọc Hải - 14 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
Hình 1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG SHB CHI NHÁNH KIÊN
GIANG
2.1.3. Các sản phẩm dịch vụ của SHB Kiên Giang
2.1.3.1. Sản phẩm tiền gửi
Để đáp ứng nhu cầu về vốn cho sự phát triển nền kinh tế thì việc tạo vốn
là vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NH. Trong đó vốn tự có
của các NH thương mại tham gia vào nguồn vốn cho vay chỉ chiếm tỷ trọng
nhỏ, mà nguồn vốn tín dụng để cấp chủ yếu vào nền kinh tế là nguồn vốn huy
động. Việc huy động vốn vừa mang lại lợi nhuận vừa mở rộng hoạt động của
NH.
- Vốn tiền gởi
* Tiền gởi của các tổ chức kinh tế: Đây là số tiền tạm thời nhàn rỗi
phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh được gửi tại NH. Nó bao gồm một
bộ phận vốn tiền tạm thời được giải phóng khỏi quá trình luân chuyển vốn
GVHD: Võ Ngọc Hải - 15 - SVTH: Lý Thúy Vi
GIÁM ĐỐC
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng cho các mục tiêu định sẵn vào
một thời điểm nhất định như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ
khen thưởng phúc lợi. Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào NH dưới các
hình thức sau:
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi mà khi gửi vào khách hàng
gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho NH và NH
phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng nên đây là nguồn vốn không ổn định.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là nguồn vốn mang tính ổn định, NH có thể sử
dụng loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh.
* Tiền gửi tiết kiệm: Đây là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản
tiền gửi tiết kiệm ở NH, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo
quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định
của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
- Các sản phẩm khác: Ngoài ra, nguồn vốn của NH còn được huy động
thông qua các chứng từ có giá bao gồm: kỳ phiếu NH có mục đích, trái phiếu
NH và chứng chỉ tiền gửi để huy động nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn vào NH.
Tại một số thời điểm đặc biệt, ngân hàng còn phát hành các công cụ huy động
đặc biệt như: tiết kiệm dự thưởng, kỳ phiếu dự thưởng, tiết kiệm kèm quà tặng
khuyến mãi.
2.1.3.2. Sản phẩm tín dụng
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
cho các thành phần kinh tế.
- Cầm cố các loại kỳ phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm.
- Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá.
2.1.3.3. Các dịch vụ
- Chuyển tiền điện tử.
- Dịch vụ bảo lãnh Ngân hàng.
- Dịch vụ cầm cố.
2.1.4. Khái quát kết quả hoạt động kinh doah SHB – Kiên Giang
3. Lợi nhuận 200 1.000 2.241 800 400,00 1.241 124,10
ĐVT: triệu đồng
(Nguồn phòng kế toán và quỹ)
GVHD: Võ Ngọc Hải - 17 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
Biểu đồ 1: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của NH SHB Kiên Giang trong 3
năm 2009 - 2011
2.1.4.1. Tổng thu nhập
Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NH qua 3 năm (2009-
2011) ta thấy tổng thu nhập của NH đều tăng. Cụ thể: năm 2009 là 10.670 triệu
đồng lên 40.880 triệu đồng năm 2010. Năm 2011 đạt tới mức 65.365 triệu đồng.
Tình hình này làm nâng cao khả năng tự xoay sở và ý thức về sự tự phát triền
của chính Ngân hàng tại địa bàn không dựa dẫm vào Ngân hàng cấp trên, thông
qua con số tăng lên năm 2010 là 30.210 triệu đồng chiếm tỷ lệ 283% năm 2011
là 24.485 triệu đồng chiếm tỷ lệ 59,89% Ngân hàng vẫn giữ vững tốc độ tăng
trưởng thu nhập ổn dịnh. Để làm được điều đó Ngân hàng đã thực hiện tốt chăm
sóc khách hàng. Trong năm, chi nhánh đã cố gắng sử dụng nhiều biện pháp tích
cực như thu hút nhiều khách hàng mới, tăng doanh số kinh doanh và dịch vụ
thanh toán.
2.1.4.2. Tổng chi phí
Cùng với sự gia tăng của các khoản thu nhập thì các khoản chi phí của NH
cũng tăng tương ứng qua các năm. Năm 2009 là 10.470 triệu đồng đến năm
2010 là 39.880 triệu đồng tỷ lệ tăng là 280,90%, năm 2011 là 63.124 triệu đồng
tỷ lệ tăng là 50,76%. Ta thấy chi phí liên tục tăng qua 3 năm. Nguyên nhân là do
trong giai đoạn này tình hình kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn. Lượng tiền
nhàn rỗi sụt giảm đáng kể. Từ những biến động khách quan đó Ngân hàng buộc
GVHD: Võ Ngọc Hải - 18 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
phải tốn nhiều chi phí trong việc lập quỹ dự phòng, để chống lại những rủi ro có
thể xảy ra, bên cạnh công tác quản lý nợ của một số cán bộ tín dụng chưa thực
trong và ngoài nước biết tới.
GVHD: Võ Ngọc Hải - 19 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ CBNV luôn được Ban lãnh đạo
quan tâm và tạo điều kiện tối đa.
- Đội ngũ Lãnh đạo có trình độ nghiệp vụ chuyên môn, nhiệt huyết trong
công việc.
- Lực lượng cán bộ, nhân viên hùng hậu, trẻ, khỏe đầy sung sức có thể nỗ
lực vì sự nghiệp chung.
2.1.5.2. Khó khăn
- Xuất hiện các rủi ro trong hoạt động nên vốn chưa ổn định, cơ cấu tài sản
nợ, tài sản có vẫn tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là rủi ro lãi suất và rủi ro kỳ hạn.
- Trên địa bàn nhỏ bé của tỉnh có nhiều NH cạnh tranh như: NH Công
Thương, NH Ngoại Thương, NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,…
2.1.6. Định hướng phát triển của Ngân hàng
- Xây dựng hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy nhân sự theo mô hình ngân
hàng bán lẻ hiện đại đa năng nhằm nâng cao hiệu quả và phát huy khả năng
quản trị, điều hành toàn hệ thống.
- Phát triển mở rộng hoạt động kinh doanh vững chắc, an toàn, minh bạch
theo hướng chuyên nghiệp, chú trọng và nâng cao vai trò của bộ phận kiểm soát
và hỗ trợ trong từng nghiệp vụ kinh doanh.
- Xây dựng chiến lược kinh doanh cạnh tranh với mục tiêu “cạnh tranh bằng
sự khác biệt” đối với từng lĩnh vực dịch vụ và sản phẩm Ngân hàng .
- Phát triển mạnh khách hàng cá nhân bằng những sản phẩm, dịch vụ vượt
trội, khác biệt để nâng thị phần khách hàng trong hệ thống Ngân hàng.
- Nâng cao tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của
SHB bằng các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng đa dạng, sử dụng công nghệ thông
tin hiện đại.
- Thực hiện chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu khách hàng huy động vốn thị
trường để đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, vững chắc của nguồn vốn hoạt động
GVHD: Võ Ngọc Hải - 21 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
Bảng 2. TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG (2009 – 2011)
ĐVT: triệu đồng
Chỉ
tiêu
2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Vốn
HĐ 65.590 39,98 63.688 28,06 99.966 41,16 -1.902 -2,90 36.278 56,96
Vốn
ĐC
98.479 60,02 163.248 71,94 142.907 58,84 64.769 65,77 -20.341 -12,46
Tổng
cộng 164.069 100 226.936 100 242.873 100 62.867 38.32 15.937 7.02
(Nguồn: Phòng kế toán và quỹ)
Biểu đồ 2: Tình hình Vốn huy dộng, vốn điều chuyển của NH SHB Kiên
Giang trong 3 năm 2009 – 2011.
Dựa vào bảng 2, ta nhận thấy tổng nguồn vốn của NH liên tục tăng, nguồn
vốn huy động và vốn điều chuyển đều tăng, trong đó vốn điều chuyển chiếm tỉ
trọng cao hơn vốn huy động. Năm 2009 vốn điều chuyển chiếm 60,02%, năm
2010 chiếm 71,94% và năm 2011 chiếm 58,84% trong tổng nguồn vốn. Nguồn
vốn huy động tăng chứng tỏ NH huy động vốn có hiệu quả, khả năng tự chủ của
NH đang từng bước được nâng cao. Tuy nhiên, nguồn vốn điều chuyển cũng
tăng cao chứng tỏ việc huy động vốn của NH không đáp ứng đủ nhu cầu đi vay
GVHD: Võ Ngọc Hải - 22 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
của khách hàng nên Chi nhánh cần sự hỗ trợ vốn từ NH cấp trên nên vốn điều
chuyển có tốc độ tăng cao. Nếu NH chỉ sử dụng vốn huy động để cho vay thì
không thể đáp ứng được hết nhu cầu về vốn của khách hàng. Chính vì thế, ngoài
nguồn vốn, năm 2010 nguồn vốn này đạt 163.248 triệu đồng tăng 64.769 triệu
GVHD: Võ Ngọc Hải - 23 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
đồng so với năm 2009 tương ứng tăng 65,77%. Nguồn vốn huy động năm 2010
không đủ đáp ứng nhu cầu vay vốn của người dân. Nên Ngân hàng đã sử dụng
một lượng lớn vốn điều chuyển. Năm 2011 vốn điều chuyển đạt 142.907 triệu
đồng giảm 20.341 triệu đồng so với năm 2010 tương ứng giảm 12,46%. Nguyên
nhân là do năm 2011 Ngân hàng đã huy dộng được một lượng vốn khá lớn.
2.3. Phân tích hình hình huy động vốn của Ngân hàng SHB – Kiên
Giang
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng của NH thì công tác huy động
vốn là một trong những khâu quan trọng, nguồn vốn không những đóng vai trò
quan trọng mà còn mang tính quyết định đối với sự ổn định, hiệu quả kinh
doanh của NH. Muốn duy trì hoạt động của NH thì việc đầu tiên là phải tạo
nguồn vốn đảm bảo cho tiến trình kinh doanh được trôi chảy và thuận lợi.
2.3.1. Vốn huy động theo kỳ hạn
Vốn huy động được phân theo tiêu chí này gồm có:
- Tiền gửi không kỳ hạn.
- Tiền gửi có kỳ hạn với các các kỳ hạn: dưới 12 tháng, từ 12- 24 tháng. Ta
có bảng số liệu cụ thể như sau:
Bảng 3: CƠ CẤU VỐN HUY ĐỘNG THEO KỲ HẠN CỦA SHB – KIÊN
GIANG QUA 3 NĂM
ĐVT: Triệu
đồng
Chỉ tiêu Năm Chênh lệch
GVHD: Võ Ngọc Hải - 24 - SVTH: Lý Thúy Vi
Phân tích tình hình huy động vốn tại NHTMCP SG – HN chi nhánh Kiên Giang
2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010
Số
tiền %
so với năm 2009 với mức giảm là -6.863 triệu đồng tương ứng giảm 16,85%.
Bước sang năm 2011 lại tiếp tục giảm -4.284 triệu đồng tương ứng giảm
-12,65% so với năm 2010. Đây là loại tiền gửi mang tính chất không ổn định
nên không thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này và lãi suất loại tiền
gửi này thường thấp. Để có thể thu hút được vốn tiền gửi không kỳ hạn thì NH
GVHD: Võ Ngọc Hải - 25 - SVTH: Lý Thúy Vi