Nâng cao năng lực cạnh tranh hàng đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Nhật Bản - Pdf 23

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa đang diễn ra một cách mạnh
mẽ, tác động đến mọi quốc gia, các lĩnh vực và các ngành. Theo xu thế đó, các
quốc gia đã và đang tiến hành các hoạt động mở cửa, hội nhập vào xu hướng này.
Việt Nam thực sự đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật đặc biệt là thành tựu về xuất
khẩu. Việt Nam đã xác định cho mình những mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê,
may mặc, đồ gỗ...Trong đó hàng đồ gỗ ngày càng có vị trí quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Nó không chỉ góp phần tạo ra công ăn việc làm cho một số
lượng lớn lao động mà giá trị xuất khẩu của ngành còn chiếm tỉ lệ lớn trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đặc biệt tại một số thị trường lớn như Nhật
Bản, Hoa Kỳ, EU...hàng đồ gỗ Việt Nam đã có được một chỗ đứng, vị thế quan
trọng trên thị trường, chiếm một tỷ lệ thị phần đáng kể đặc biệt là thị trường Nhật
Bản với tốc độ tăng thị phần khá nhanh, với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng
qua các năm, sản phẩm chủng loại khá đa dạng.
Tuy đã đạt được những thành tựu nổi bật về xuất khẩu nhưng nếu so sánh
với các đối thủ trên thị trường có cùng mặt hàng xuất khẩu thì kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn. Thị phần chiếm lĩnh so với các đối thủ
còn quá nhỏ. Nguyên nhân chính là do năng lực cạnh tranh hàng Việt Nam trên thị
trường thế giới còn chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa tạo được niềm tin với khách
hàng, thị trường không ổn định....mặt hàng đồ gỗ cũng không phải là một ngoại lệ,
chúng ta gặp rất nhiều khó khăn về năng lực cạnh tranh với các đối thủ khác trên
thị trường mà điển hình ở đây là thị trường Nhật Bản - một thị trường lớn, tiềm
năng. Vì vậy em đã chọn đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh hàng đồ gỗ
xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Nhật Bản" để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Phân tích thực trạng năng lực cạnh
tranh của hàng đồ gỗViệt Nam trên thị trường xuất khẩu ( Nhật Bản ) để từ đó đề
1
xuất các giải pháp đối với các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước

1.1. Lý luận về cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm, phân loại và vai trò của cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
* Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một phạm trù kinh tế khách quan, là quan hệ kinh tế giữa
những người cùng sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, nó vừa là môi trường,
vừa là động lực phát triển kinh tế.
Trong kinh tế học, cạnh tranh được định nghĩa là sự giành giật thị trường để
tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Theo C.Mác: "cạnh tranh là sự ganh
đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được những lợi nhuận siêu
ngạch". Đây là định nghĩa khái quát nhất về cạnh tranh, nó đã nói lên được mục
đích của cạnh tranh, nhưng chưa nói lên cách thức để giành thắng lợi trong cạnh
tranh.
Cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, là sự đối chọi giữa những
người sản xuất hàng hóa dựa trên thực lực kinh tế của họ. Cơ sở của cạnh tranh là
chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Chế độ này đẻ ra cạnh tranh, chèn ép
lẫn nhau, " cá lớn nuốt cá bé". Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc
độ tiêu cực. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và
coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội.
Do vậy cạnh tranh có thể được hiểu như sau:
Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những
chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm
giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng
hóa và thu được lợi nhuận cao.
3
* Khái niệm năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của hàng hóa được hiểu là tất cả những đặc điểm, yếu
tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thị
trường trong một thời gian dài.

Như vậy, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm.
Việc phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành
đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng,
chất lượng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã...); (2) đánh giá trực tiếp thị trường (doanh
số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối...); (3) điều tra xã hội
học - chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết
tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu...). Sau đó so sánh các tiêu chí đó với
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường tại cùng thời điểm để xác
định năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động
vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so
với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh (nếu nó chưa có năng lực cạnh
tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở
mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã có năng lực cạnh
tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu). Nói cách khác: nâng cao sức cạnh tranh
cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại
được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm đồng thời hoàn thiện
những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác (chứ không phải so với
chính nó), nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối
thủ cạnh tranh của nó.
Quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm khác với việc hoàn
thiện sản phẩm ở chỗ: hoàn thiện sản phẩm chỉ là quá trình làm cho sản phẩm đó
trở nên tốt hơn, có tính mới hơn so với chính nó ở những thời điểm khác nhau. Vì
vậy, có trường hợp sản phẩm không hoàn thiện nhưng lại có có sức cạnh tranh do
nó có tính trội hơn tương đối khi so sánh một cách tương đối với sản phẩm khác.
5
1.1.1.2. Phân loại cạnh tranh
Căn cứ vào chủ thể tham gia
- Cạnh tranh giữa người bán với người mua:
Đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, người bán

nhằm giành nơi đầu tư có lợi nhất. Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp bị
hấp dẫn bởi khách hàng nên đã chyển vốn đầu tư từ ngành ít lợi nhuận sang ngành
lợi nhuận cao. Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên sự
phân phối hợp lý giữa các ngành sản xuất và hình thành tỷ suất lợi nhuận bình
quân giữa các nghành.
Căn cứ vào mức độ, tính chất cạnh tranh thị trường
- Cạnh tranh hoàn hảo
Đây là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán và người
mua độc lập với nhau, không có người nào có ưu thế để có thể ảnh hưởng tới giá
cả. Các sản phẩm làm ra được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sự khác
biệt về quy cánh phẩm chất mẫu mã. Tất cả người mua và bán đều có hiểu biết đầy
đủ về thông tin liên quan đến việc trao đổi. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi
tất cả người mua và người bán đều có liên hệ với tất cả những người trao đổi tiềm
năng, biết tất cả các đặc trưng của các mặt hàng trao đổi, biết tất cả giá người bán
đòi bán và giá người mua trả. Không có gì ngăn cản việc gia nhập và rút khỏi thị
trường. Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá cả trên thị
trường, họ chủ yếu tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mức sản phẩm đến mức
giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Đây là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm là không
đồng nhất với nhau, mỗi sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi nhãn
hiệu đều mang hình ảnh và uy tín khác nhau mặc dù khác biệt giữa các sản phẩm
là không đáng kể. Trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, mức độ cạnh
tranh gay gắt và các hình thức cạnh tranh cũng hết sức đa dạng. Bằng nhiều hình
thức khác nhau của cạnh tranh, người bán lợi dụng uy tín của mình, hay sử dụng
các biện pháp khuếch trương sản phẩm, khuyến mại, các dịch vụ đặc biệt sau bán
hàng...có thể có những lợi thế hơn, có được những điều kiện bán hàng tốt hơn,
cạnh tranh tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh, đáp ứng tối ưu các nhu cầu của
khách hàng, duy trì và ngày càng mở rộng hơn thị trường tiêu thụ sản phẩm của
7

rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
nước và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm
và dịch vụ, vì vậy cần phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với khả
năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm - dịch vụ
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ thường được đo bằng thị phần của
sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường.
Giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết qua lại với
nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có
năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh
tranh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có điều kiện nâng cao năng lực
cạnh tranh thì môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính
sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định; bộ
máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp.
Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh
tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Doanh nghiệp có
thể kinh doanh một hay một số sản phẩm và dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao.
1.2. Các lý thuyết cạnh tranh
Thuyết thương mại quốc tế cổ điển sử dụng lợi thế của năng suất lao động
để định nghĩa lợi thế cạnh tranh, chúng ta xem xét lý thuyết của học thuyết lợi thế
so sánh qua mô hình đơn giản sau đây:
Trên thế giới khi một quốc gia có thể sản xuất ra một loại sản phẩm có giá
thấp hơn quốc gia khác thì số hàng hóa này có thể được xuất khẩu để bù đắp cho
việc nhập các loại hàng hóa có giá trị cao hơn nhằm đem lại lợi ích cao nhất.
Adam smith ( 1723- 1790) đã dẫn chứng ví dụ về lợi điểm tuyệt đối mà cả 2 quốc
gia có thể thu được lợi nhuận từ thương mại:

9
Số lượng trên mỗi đơn vị lao động đầu vào
Hàng hóa Hoa Kỳ Nhật Bản

=số giờ cần để sản xuất ra 1 tấn giấy.
10
Mô Hình Lợi Thế Giá Cạnh Tranh Truyền Thống: Như đã so sánh với Ấn Độ
và xem xét lý thuyết giá trị của lao động truyền thống, Phần Lan có lợi thế giá trị
cạnh tranh về sản xuất giấy và Ấn Độ về ngành dệt nếu:
Phần Lan > Ấn Độ
hoặc
>
Thậm chí nếu Phần Lan có hiệu quả hơn đối với mỗi mặt hàng mà, theo nghĩa:
L
dệt
Phần Lan L
dệt
Ấn Độ và L
giấy
Phần Lan < L
giấy
Ấn Độ.
Khi trao đổi thương mại diễn ra, Phần Lan nên xuất khẩu giấy sang Ấn Độ
để đổi lấy mặt hàng dệt.
Ví dụ: Công nghệ sản xuất hàng dệt và giấy ở Phần Lan và Ấn Độ (tính theo giờ
quy định để sản xuất ra một mặt hàng)
1 tấn giấy 1 m hàng dệt
Ở Phần Lan 10 15
Ở Ấn Độ 40 20
Vì 15/10 < 20/40 (nói cách khác 10/40 < 15/20, Phần Lan có lợi thế cạnh tranh về
sản xuất giấy và ấn Độ về dệt may)
*Mô Hình Lợi Thế Cạnh Tranh Của Heckscher-Ohlin:
Theo Heckscher - Ohlin thì lợi thế cạnh tranh khác nhau giữa các nước là do
sự khan hiếm tương đối của các yếu tố sản xuất khác nhau, sự khan hiếm khan

4 tấn giấy
1m vải
chỉ bằng 2 tấn
giấy
Nhận xét: trước khi đem trao đổi, vải giá cao hơn ở Phần Lan so với giá
của nó ở Ấn Độ, tức là Phần Lan có lợi thế cạnh tranh về sản xuất giấy và Ấn
Độ về sản xuất hàng dệt may
12
*Nguốn Gốc hay Cơ Sở Cho Lợi Thế Cạnh Tranh:
-Lợi thế về kỹ thuật: Một nước có thể có lợi thế về kỹ thuật trong sản xuất cả
hai sản phẩm hơn nước kia nhưng sự khác nhau về lợi thế có thể lớn hơn trong
một mặt hàng.
-Các khoản thiên phú: Một nước (như Ấn Độ) có thể được thiên phú nhiều
hơn các nước khác (như Phần Lan) về nguồn lực (như lao động) , tài nguyên thiên
nhiên sẵn có, đất đai, khí hậu....đó là những lợi thế so sánh sẵn có, nhưng không
hẳn là đó là những lợi thế cạnh tranh nếu như không biết khai thác, biến cái lợi thế
so sánh đó thành lợi thế cạnh tranh của mình, ví dụ, như Việt Nam có lợi thế về
nguồn lao động rẻ, dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa hình 3/4 là đồi
núi... Đấy là điều kiện, lợi thế rất có lợi cho việc sản xuất các mặt hàng xuất khẩu
chế biến từ gỗ, nếu chúng ta biết sử dụng lợi thế so sánh đấy một cách hợp lý, để
biến thành lợi thế cạnh tranh. Như nhà nước có các chính sách phát triển, quy
hoạch trồng rừng, đào tạo tay nghề lao động, đầu tư trang thiết bị....thì hiệu quả sẽ
rất lớn, các sản phẩm xuất khẩu sẽ có năng lực cạnh tranh cao về tất cả các mặt,
chi phí, giá thành, chất lượng...
Từ cơ sở các học thuyết trên, thấy rằng việc sử dụng lợi thế cạnh tranh trong
một nền kinh tế là quá trình lựa chọn cơ cấu nghành phù hợp, phát huy được
những lợi thế hiện có thành lợi thế cạnh tranh. Theo lý thuyết này thì các hàng hóa
khác nhau đòi hỏi sự kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau, mỗi nước phải lựa
chọn một cơ cấu ngành phù hợp với cơ cấu nguồn lực hiện có.
Cơ cấu các nguồn lực của một quốc gia luôn luôn thay đổi, do đó cách thức

thấp chỉ cần mức giá đó bù đắp được chi phí, bù đắp được chi phí, đạt được mục
đích đặt ra và doanh nghiệp vẫn có thể có lãi. Nếu sự định giá cho sản phẩm tạo ra
sự chênh lệch cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đồng thời đem
lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh thì sản phẩm
sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn trên thị trường, sản phẩm sẽ ngày càng chiếm được
lòng tin của người tiêu dùng, thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng doanh số
bán hàng và sẽ có được thị trường lớn trên thị trường.
Hay để có thể cạnh tranh bằng chiến lược giá thấp thì doanh nghiệp cần phải
xem xét khả năng hạ giá sản phẩm của đơn vị mình. Doanh nghiệp càng có nhiều
14
khả năng hạ giá thì sẽ có nhiều lợi thế hơn so với đối thủ cạnh tranh, tất nhiên còn
nhiều yếu tố liên quan đến như, chất lượng sản phẩm...Tuy nhiên khả năng hạ giá
thành còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chi phí sản xuất, chi phí quản lý, tiềm
lực tài chính của doanh nghiệp, khả năng bán hàng, phân phối sản phẩm...Việc hạ
giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
của doanh nghiệp. Bởi vậy việc định giá cao, giá thấp, giá thế giới, phụ thuộc rất
nhiều vào yếu tố, đặc tính của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loai, hay mục
đích của doanh nghiệp, cũng như trên từng phân đoạn thị trường liên quan đến chu
kỳ sống của sản phẩm...Vì vậy, để đánh giá năng lực cạnh tranh chính xác cần
phải đánh giá thêm tiêu chí khác thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm như.
- Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại
của đối thủ cạnh tranh. Ngày nay chất lượng sản phẩm là yếu tố được quan tâm
hàng đầu sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh nếu các tính năng của sản
phẩm đó vượt trội hơn so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố này có
thể đánh giá thông qua so sánh hai sản phẩm với nhau về chất lượng, độ bền. tiện
ích trong sử dụng…Đây là một trong những yếu tố tương đối dễ so sánh đối với đa
số những sản phẩm đơn giản. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm phức tạp khách hàng
không thể đánh giá ngay được chất lượng của sản phẩm. Do đó khách hàng sẽ
đánh giá chất lượng sản phẩm gián tiếp thông qua uy tín của người sản xuất, của
nước sản xuất…vì vậy xây dựng uy tín về

- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm đó có thể so sánh theo tính lịch sử, tức
là năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nếu
sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao. Và
ngược lại nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng nhanh hơn thì sản phẩm có
năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnh tranh.
- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm càng hợp lý thì thị
phần do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn. Hệ thống phân phối được thiết kế hợp lý
so với cách thức phân phối của sản phẩm cạnh tranh khác, vùng với việc đẩy mạnh
16
xúc tiến bán hàng sẽ tăng thêm năng lực cạnh tranh của sản phẩm do đáp ứng được
kịp thời yêu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng.
Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lưới các cơ sở giúp doanh
nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá với mọi hình thức bán buôn, bán lẻ
vừa thích hợp với phong tục, tập quán địa phương, tiện lợi cho người tiêu dùng
đồng thời phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng.
Kênh phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch vụ của nhà sản
xuất dễ dàng hơn như dịch dụ trước trong và sau khi bán hàng.
1.3.3. Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng
Nếu như trước kia hai yếu tố chất lượng, giá cả có tính chất quyết định đến
năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá,
phạm vi đánh giá các tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh cần phải được mở rộng
hơn. Trong quá trình đánh giá cũng cần đưa thêm các yếu tố định tính khác như
hình ảnh của các doanh nghiệp tham gia thị trường, hình ảnh của quốc gia, lòng tin
của khách hàng đối với sản phẩm, sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm,
thương hiệu của sản phẩm…
1.3.4. Một số tiêu chí khác
- Tăng trưởng xuất khẩu của sản phẩm: Việc tăng trưởng xuất khẩu sản
phẩm nhanh cho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng. Ngược lại nếu tốc
độ tăng trưởng giảm hoặc đình trệ cho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm
thấp. Với những yếu tố khác không đổi, những sản phẩm xuất khẩu tăng trưởng

dụng các rào cản thương mại đối với một số sản phẩm như sản phẩm dệt may phải
áp dụng tiêu chuẩn SA8000…Nếu sản phẩm của nước nào đó đáp ứng được tốt
hơn các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn.
Như vậy: Trong quá trình phân tích, đánh giá sẽ rất khó khăn cho việc lượng
hoá toàn bộ các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Vì vậy, chúng
ta phải kết hợp vừa định lượng vừa định tính nhằm xác định năng lực cạnh tranh
thực sự của hàng hoá trên thị trường. Không chỉ đánh giá trên một vài chỉ tiêu
quan trọng như: thị phần, doanh thu, giá cả...mà phải đánh giá một cách tổng hợp,
18
phải dựa trên tất cả các mặt, các yếu tố liên quan đến sản phẩm, thị trường, nhu
cầu, thị hiếu của khách hàng...
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng đồ gỗ
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng đồ gỗ Việt
Nam, ta đi nghiên cứu các quy trình từ các khâu:
Quy trình trồng gỗ → Thu mua → Chế biến → Xuất khẩu
- Quy trình trồng gỗ: Phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của nhà nuớc từ việc đề
ra các quy định, quy hoạch, khuyến khích phát triển trồng rừng, đến việc hỗ trợ
vốn cho nguời nông dân, nâng cao trình độ về mức đội am hiểu cũng như về kỹ
thuật để đạt đuợc sản luợng tối đa. Đối với một nuớc có khí hậu gió mùa nhiệt
đới, có sự phân chia rõ rệt về điều kiện tự nhiên giữa các vùng, các miền như
Việt Nam thì việc nghiên cứu điều kiện tự nhiên, đất đai là rất cần thiết có tính
quyết định tới việc quy hoạch phát triển từng loại cây để thu đuợc sản luợng gỗ là
cao nhất.
- Thu mua: Đi đôi với việc phát triển trồng rừng là việc thu mua nguyên liệu để
chế biến. Để đạt đuợc hiệu quả cao nhất thì nhà nuớc, các doanh nghiệp phải liên
kết, phối hợp với nguời nông dân, các hộ gia đình trồng rừng từ việc trồng rừng
đến việc khai thác, thu mua. Đây là một mối quan hệ mật thiết, lâu dài để có thể
đáp ứng đuợc nhu cầu về nguồn nguyên liệu trong nuớc.
Tuy nhiên việc thu mua nguyên liệu gỗ hiện nay là chưa đuợc hợp lý, bởi chúng ta
chưa có đuợc một kế hoạch phát triển cụ thể, lâu dài mối quan hệ giũa nhà nuớc,

xúc với những khách hàng khó tính từ đó hiểu rõ hơn về nhu cầu và sở thích người
tiêu dùng. Nếu muốn tăng năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp sản xuất cần
phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng tinh tế và khó tính. Phân tích và nghiên cứu
đầy đủ về quy mô và thị phần của nhu những khách hàng thông thạo Internet,
những người mua hàng di động, phải có năng lực quan sát và đáp ứng xu hướng
thị trường ...
- Vấn đề liên kết ngành, đặc biệt là hợp tác liên kết quốc tế bao gồm những
nhà cung cấp và các ngành liên quan thường xảy ra ở cấp độ khu vực hơn là cả
nước. Khả năng duy trì các liên kết quốc tế có tầm quan trọng ngày càng lớn đối
20
với các nước đang phát triển (UNCTAD, 1999). Do quá trình toàn cầu hoá, tự do
hoá thương mại và quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng, vị thế cạnh tranh
của hàng hóa của các nước đang phát triển ngày càng xoay quanh khả năng thiết
lập các liên kết quốc tế của các doanh nghiệp và các ngành,
Môi trường cạnh tranh. Sự phát triển của năng lực cạnh tranh của sản phẩm
chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của chính phủ. Chính phủ đóng vai trò then
chốt trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh, tính cạnh tranh. Cụ thể là tác động
đến nội dung và phạm vi của các hoạt động xuất nhập khẩu, các yếu tố về môi
trường thể chế, chính sách, các mối liên kết xuyên quốc gia... Các chính sách và
biện pháp của chính phủ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát
triển. Cần xác xây dựng các chương trình và sử dụng các công cụ nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho các ngành nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của
mình. Tuy nhiên, việc phân tích các chương trình cụ thể này phải xem xét các điều
kiện và khuôn khổ kinh tế tổng thể, bằng cách kiểm soát ảnh hưởng của các nhân
tố như ổn định kinh tế vĩ mô, sự cởi mở trong chính sách thương mại và chế độ
đầu tư.
Năng lực tiếp thị ở tầm vĩ mô: Khả năng thu thập, phân tích thông tin của các
cơ quan đại diện chính phủ ở nước ngoài, các cơ quan nghiên cứu tầm cỡ quốc gia.
Các chiến lược phối hợp quốc gia, chính sách thương mại trong việc hỗ trợ sản
phẩm thâm nhập thị trường nước ngoài như chính sách thuế, chương trình tín

tranh hiện tại
Đối thủ cạnh tranh
tiềm ẩn
Khách hàng
22
nghiệp này đã vượt qua những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những hãng
muốn rút lui nhưng chưa có cơ hội.
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại của trong ngành quyết định mức độ và tính
chất tranh đua nhằm giành giật lợi thế trong ngành mà mục đích cuối cùng là giữ
vững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo có thể có được mức lợi nhuận cao
nhất. Chúng ta có thể đánh giá sức cạnh tranh hàng hóa của doanh nghiệp qua đối
thủ cạnh tranh hiện tại bằng cách so sánh tương quan giữa doanh nghiệp ta và đối
thủ hiện tại về thị phần hàng hóa chiếm lĩnh hiện tại, về môi trường sản xuất, về
tiềm năng...Nếu mọi yếu tố trên mà đối thủ cạnh tranh hiện tại tốt hơn thì sản
phẩm của doanh nghiệp kém sức cạnh tranh hơn và ngược lại...
Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá
chính xác mục đích tương lai, các nhận định, các tiềm năng và chiến lược hiện tại
của những đối thủ cạnh tranh hiện tại, đặc biệt là đối thủ cạnh tranh hiện tại chính
để là cơ sở đánh giá được sức cạnh tranh của mình trên thị trường để xây dựng
chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung.
23
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Khi một ngành có sự tăng thêm về số lượng các đối thủ cạnh tranh mới thì hệ
quả có thể là tỷ suất lợi nhuận bị giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh. Các đối
thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau, nên họ có khả năng ứng dụng
những thành tựu mói của khoa học, công nghệ. Sự xuất hiện của một đối thủ cạnh
tranh mới trong ngành thường thông qua việc mua lại các doanh nghiệp đang hoạt
động, nhưng đang có ý định rút lui khỏi ngành.
Không phải bao giờ cũng gặp phải các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, nhưng
khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi. Vì

công thì phải luôn cập nhật các công nghệ mới của nhân loại vào sản xuất và hoạt
động kinh doanh.
1.5.2. Mô hình phân tích SWOT
SWOT viết tắt của 4 từ: Thế mạnh ( Strenghts ); điểm yếu ( Weaknesses );
cơ hội ( Opportunities ); đe dọa ( Threats ).
Là mô hình được dùng phổ biến trong thực tế để đánh giá hoạt động của
một công ty, một ngành từ đó rút ra được những chiến lược hợp lý cho hoạt động
của công ty hoặc cho ngành đó trong thời gian tới.
Mô hình này bao gồm 2 mảng: S-W, là các nhân tố bên trong, chủ quan như
nhân sự, tài chính, công nghệ, uy tín, tiếng tăm, mối quan hệ, văn hóa, truyền
thống của tổ chức,...
O-T, là nhân tố đến từ môi trường bên ngoài vì những nhân tố đó đến từ
môi trường khách quan. Những khía cạnh liên quan đến cơ hội và mối đe dọa có
thể do sự biến động của nền kinh tế ( tăng trưởng hay suy thoái ), sự thay đổi trong
chính sách của Nhà nước, cán cân cạnh tranh thay đổi...Nếu như việc phân tích
này được thực hiện một cách kỹ lưỡng và sáng suốt, các chiến lược cấp ngành đề
ra có thể nắm bắt được các cơ hội và sẵn sàng đối phó với các đe dọa có thể xảy
ra.
1.6. Kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ của
Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.6.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là thị trường cung cấp lớn nhất về sản phẩm đồ gỗ cho các thị
trường nhập khẩu, các sản phẩm đồ gỗ của Trung Quốc có khả năng cạnh tranh
lớn. Đây là kết quả điều chỉnh của Chính phủ Trung Quốc mang lại nhằm nâng
25

Trích đoạn Hỗ trợ các doanh nghiệp hơn nữa về thông tin thị trường và Sử dụng có hiệu quả hệ thống Internet phục vụ cho hoạt Nâng cao hiệu quả thu thập thông tin Đa dạng hoá mẫu mã chủng loại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status